Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trong bối cảnh của sự bùng nổ thông tin hiện nay, có rất nhiều kênh để người nghiên cứu có thể thu thập tài liệu cũng như nhiều phương tiện kỹ thuật hỗ trợ như máy ghi âm, ghi hình, photocopy, bởi vậy việc thu thập thông tin có nhiều thuận lợi. Thông thườ

Trong bối cảnh của sự bùng nổ thông tin hiện nay, có rất nhiều kênh để người nghiên cứu có thể thu thập tài liệu cũng như nhiều phương tiện kỹ thuật hỗ trợ như máy ghi âm, ghi hình, photocopy, bởi vậy việc thu thập thông tin có nhiều thuận lợi. Thông thườ

Tải bản đầy đủ - 0trang

am hiểu hoặc liên quan đến đề tài; phát phiếu điều tra để thu thập thơng tin; tổ chức  

hội thảo khoa học để tham khảo ý kiến các nhà khoa học và chun mơn… 

 Để tránh việc thu thập tài liệu bị phân tán, tản mạn thì người nghiên cứu cần có 

định hướng cho việc tìm kiếm tài liệu theo ngun tắc ưu tiên từ hẹp đến rộng, từ 

các tài liệu liên quan trực tiếp đến gián tiếp, từ  các nguồn thơng tin có độ  tin cậy 

cao hơn đến thấp hơn… Cụ thể là, hãy bắt đầu từ việc thu thập các thơng tin được 

cơng bố  trong các loại sách  như: giáo trình, sách  chun khảo, tạp chí, tập san 

chun ngành trong và ngồi nước, các báo cáo khoa học, luận văn, luận án và các 

loại sách tham khảo khác, rồi sau đó mới đến các nguồn thơng tin, tư  liệu thu thập 

từ báo chí, internet, các băng đĩa ghi âm ghi hình, bản thảo viết tay,…    

 2.2.2. Phân loại và xử lý tài liệu 

 2.2.2.1. Phân loại tài liệu

 Mối đề  tài nghiên cứu đòi hỏi các nguồn tư  liệu khác nhau, nhiều loại tư  liệu  

khác nhau. Sau khi thu thập đủ tài liệu nghiên cứu thì phải phân loại tài liệu để giúp 

cho người nghiên cứu chọn lọc, đánh giá, xử lý và sử dụng tài liệu cho phù hợp với 

các u cầu nghiên cứu. Có thể phân ra 2 dạng tài liệu: tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ 

cấp. 

+ Tài liệu sơ  cấp: là loại tài liệu “thơ” được người nghiên cứu tự  thu thập qua  

điều tra, phỏng vấn, ghi chép trực tiếp mà chưa qua xử lý, chưa được phân tích chú 

giải, khái qt. 

+  Tài liệu thứ  cấp: là các thơng tin, tri thức  đã được phân tích, giải thích, bình 

luận, diễn giải qua những nghiên cứu của người khác, đó là các thơng tin trong các  

sách chun khảo, báo chí, bài viết trên các tập san chun đề, tạp chí khoa học,  

biên bản hội nghị, báo cáo khoa học, internet, sách tham khảo, luận văn, luận án, 

thơng tin thống kê, hình  ảnh, băng đĩa ghi âm ghi hình, các tài liệu ­ văn thư, bản 

thảo viết tay,…

­ Để việc tìm kiếm, thu thập tý liệu thực hiện nhanh, ngýời nghiên cứu cần lập  

thý mục sõ bộ  liệt kê các loại sách, báo, tý liệu cần thiết rồi mới tiến hành tìm  

kiếm. 

­ Đặc thù của việc nghiên cứu trong khoa học pháp lý thường thiên về định tính, 

thêm nữa, các số  liệu, các thơng tin trong thực tiễn đời sống pháp luật thường gắn  

20



với những tình huống cụ  thể, đa dạng, thậm chí là cá biệt, vì vậy, việc thu thập  

thơng tin cũng như việc thống kê, phân loại và xử lý thơng tin đòi hỏi sự cơng phu và 

tỉ mỉ hơn nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác. 

2.2.2.2. Xử lý tài liệu nghiên cứu

­ Sau khi đã phân loại các nguồn tài liệu đã thu thập được, người nghiên cứu  

phải tiến hành đọc, phân tích, tổng hợp thơng tin, hệ  thống hóa và sắp xếp chúng 

theo từng vấn đề   hoặc nhóm vấn đề, ghi chép cẩn thận vào sổ tay (hoặc lưu trong 

các tệp tin trong máy tính) gọi là phiếu dữ liệu để làm luận cứ chứng minh cho các 

luận điểm khoa học. 

­ Nội dung phiếu dữ  liệu bao gồm việc tóm tắt các luận điểm trong tài liệu đã 

đọc kèm theo việc trích dẫn ngun văn những ý kiến tiêu biểu, xác đáng và những  

nhận xét, đánh giá của mình về luận điểm đó. 

­ Các thơng tin trong phiếu dữ liệu phải được ghi rõ nguồn gốc dữ liệu bao gồm: 

tên tác giả, dịch giả, tên sách hoặc bài báo, tên báo, tạp chí đã đăng, số  báo, ngày 

tháng xuất bản, nơi xuất bản, số trang để  sau này đưa vào chú thích cũng như  lập 

danh mục tài liệu tham khảo được dễ dàng …; với các số  liệu điều tra, phỏng vần 

từ thực tế cũng cần phải ghi nguồn cụ thể (đối tượng khảo sát, địa điểm, thời gian 

điều tra, khảo sát…).

+ Một số điểm hạn chế của sinh viên trong việc thu thập và xử lý thơng tin: 

­ Do chưa có kinh nghiệm nghiên cứu nên nếu khơng có sự  định hướng, chỉ 

đường của giáo viên hướng dẫn thì sinh viên thường bị “ngộp” giữa một “rừng” tài 

liệu, bị mất phương hướng giữa các “mê lộ” thơng tin mà khơng biết cách chọn lọc, 

thu thập những gì cần thiết cho mình.

 ­ Với đại đa số  sinh viên, các kỹ  năng xử  lý, phân loại, hệ  thống hóa cũng như 

các kỹ  năng phân tích, tổng hợp, đánh giá tài liệu và còn nhiều hạn chế. Bởi vậy,  

thường gặp trong các cơng trình nghiên cứu của sinh viên là sự  liệt kê các tư  liệu  

còn  ở  dạng “thơ” mà chưa có sự  phân tích, đánh giá, luận giải thấu đáo bằng quan 

điểm riêng của mình. 

2.3. Xây dựng đề cương nghiên cứu

Việc lập đề cương cho một cơng trình nghiên cứu là một cơng việc vơ cùng quan 

trọng, phải gồm hai giai đoạn: đề cương sơ lược và đề cương chi tiết.

21



2.3.1.

 Đề cương sơ lược

Đề cương sơ lược là bộ khung, là bản thiết kế sơ lược, dựa trên trực giác khoa 

học và kinh nghiệm để  phác thảo ra các chương với các luận điểm được dự  kiến. 

Đây chỉ là đề cương có tính chất định hướng cho kế hoạch nghiên cứu cũng như làm 

cơ  sở  để  thu thập các nguồn tư  liệu, vì vậy đề  cương dự  kiến này có thể  bị  thay  

đổi, điều chỉnh sau khi cơng việc thu thập và xử  lý tư  liệu đã cơ  bản hồn thành. 

Tuy nhiên, với các nhà khoa học tài năng và giàu kinh nghiệm thì đề cương dự kiến  

này thường là gần đúng với đề cương chính thức. 

2.3.2.

 Đề cương chi tiết

 ­ Đề cương chi tiết là đề cương chính thức, được lập sau khi cơng việc thu thập  

và xử  lý thơng tin đã cơ  bản hồn thành, còn gọi là đề  cương để  chứng minh. Đề 

cương này đã thể  hiện đầy đủ  nội dung của cơng trình nghiên cứu với các luận  

điểm lớn, nhỏ, được sắp xếp theo một hệ  thống logic chặt chẽ, có lớp lang, tầng 

bậc, bao gồm các luận điểm bậc 1, bậc 2, bậc 3… cùng với các luận cứ đi kèm. 

­ Từ  đề  cương phác thảo dự  kiến đến đề  cương chính thức, người nghiên cứu 

phải trải qua q trình lao động khoa học thật sự cơng phu và nghiêm túc với sự thay  

đổi, điều chỉnh, bổ  sung nhiều lần trên cơ  sở  của việc nghiên cứu, xử  lý tài liệu, 

với các thao tác phân tích, tổng hợp hệ thống hóa thì mới hồn thiện được. Bởi vậy, 

đề cương chi tiết phản ánh độ rộng, độ sâu của kiến thức cũng như năng lực tư duy 

khoa học của người nghiên cứu. 

­ Một đề cương chi tiết được xây dựng một cách khoa học, hợp lý sẽ quyết định 

về cơ bản sự thành cơng của cơng trình nghiên cứu. Vì vậy, có người cho rằng khi 

đã hồn thiện đề  cương chi tiết thì xem như  cơng trình nghiên cứu đã hồn thành 

được về căn bản.

­ Thơng thường, đề cương của một cơng trình nghiên cứu (khóa luận tốt nghiệp,  

luận văn, luận án) có cấu trúc phổ  biến gồm 3 chương (cũng có khi là 2 hoặc 4, 5 

chương), trong đó thường được kết cấu theo hai kiểu:

 a. Kiểu kết cấu theo chiều ngang:

­ Chương 1: Các vấn đề lý luận chung có tính chất nền tảng, làm cơ sở lý luận 

cho các vấn đề  nghiên cứu như: khái niệm, vị  trí, vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng  

của vấn đề nghiên cứu…

22



­  Chương 2:  Phân tích tình hình,  nhận diện  thực trạng của  đối tượng  nghiên 

cứu…

­ Chương 3: Lý giải ngun nhân, đề xuất các kiến nghị, giải pháp để giải quyết 

vấn đề, chỉ ra phương hướng, mục tiêu hay dự báo tình hình phát triển của vấn đề 

trong tương lai.

Đây là kiểu kết cấu truyền thống rất quen thuộc đối với các cơng trình nghiên  

cứu.  Tuy khơng mới mẻ, độc đáo nhưng đây là kiểu kết cấu dễ trình bày, đồng thời  

dễ tạo nên sự kết nối chặt chẽ và logic giữa các chương.

b. Kiểu kết cấu bổ dọc:

­ Là kiểu kết cấu trong đó mỗi chương giải quyết một vấn đề  tương đối trọn  

vẹn, với sự  sắp xếp các luận điểm theo trình tự  logic: 1) Cơ  sở  lý luận; 2) Thực 

trạng; 3) Ngun nhân và giải pháp.

­ So với kiểu kết cấu theo chiều ngang thì phương thức kết cấu bổ  dọc có  ưu 

điểm là mỗi vấn đề  được giải quyết gọn ghẽ, dứt điểm trong một chương, nhưng  

nếu người viết “non tay” thì sẽ  khó tạo sự  liên kết logic giữa các chương. Vì vậy,  

lựa chọn kiểu kết cấu này đòi hỏi người nghiên cứu phải có bề  dày kinh nghiệm 

cùng với việc nắm vững và vận dụng kết hợp nhuần nhuyễn, linh hoạt mối quan  

hệ giữa lý luận với thực tiễn trong từng vấn đề.

­ Dù là kiểu kết cấu nào thì trong đề  cương chi tiết,  ở  mỗi chương đều phải 

phản ánh sự  tổ  chức hệ  thống luận điểm theo trình tự  quan hệ  logic với các lớp  

lang, tầng bậc từ  luận điểm bậc 1 đến luận điểm bậc 2, bậc 3 để  sao cho chúng  

khơng bị trùng lặp, chồng chéo, dẫm đạp lên nhau. 

2.4. Viết thành văn bản

Trên cơ  sở  đề  cương chi tiết đã hồn thiện, tư  liệu chuẩn bị  đã đầy đủ, cơng 

việc tiếp theo là viết thành văn bản, tức là “bồi da đắp thịt” cho đề  cương để  nó  

thành một “cơ thể” hồn chỉnh, sống động. Đây là phần thể hiện các kỹ năng ngơn 

ngữ và tư duy của người viết, đó là các kỹ năng diễn đạt và lập luận logic, như: kỹ 

năng dùng từ, viết câu, liên kết luận điểm, chuyển ý, chuyển đoạn… để  văn bản 

thành một chỉnh thể thống nhất, logic và mạch lạc. 

2.5. Lập danh mục tài liệu tham khảo



23



­ Danh mục tài liệu tham khảo là một phần khơng thể thiếu được của một cơng  

trình nghiên cứu khoa học, dù  ở qui mơ lớn hay nhỏ. Đó là một danh sách tập hợp,  

liệt kê tất cả các tài liệu có liên quan đến đề  tài mà người nghiên cứu đã đọc tham  

khảo phục vụ cho việc nghiên cứu, bao gồm cả nguồn tài liệu trong nước và nước  

ngồi (nếu có). Nhìn vào danh mục tài liệu tham khảo có đầy đủ, phong phú, có xác  

đáng  hay khơng người ta có thể đánh giá được tính khoa học cũng như sự cơng phu,  

nghiêm túc của người thực hiện đề tài.

­ Danh mục tài liệu tham khảo phải được lập ngay từ  khi bắt đầu thu thập tư 

liệu nghiên cứu và được bổ  sung trong suốt q trình nghiên cứu. Vì vậy, chỉ  khi 

cơng trình nghiên cứu đã viết xong thì mới nên hồn thiện danh mục tài liệu tham  

khảo với việc sắp xếp và đánh số thứ tự cố định để  hồn thiện phần chú thích cho  

các trích dẫn trong luận văn.

2.6.  Sửa chữa, hồn thiện

­ Thơng thường, trong q trình viết, khi xong mỗi đoạn, mỗi phần, người viết 

bao giờ  cũng phải đọc đi đọc lại để  phát hiện và sửa chữa các sai sót cả  về  nội  

dung và hình thức. Tuy nhiên, sau khi hồn tất cơng trình nghiên cứu, việc rà sốt lại 

lần cuối  để sửa chữa các sai sót là một khâu tất yếu khơng thể thiếu, bởi khoa học  

đòi hỏi tính chính xác và sự chuẩn mực cao.

3. Cách trình bày nội dung một luận văn khoa học

3.1.  Phần mở đầu

3.1.1.  Lý do chọn đề tài

Lý do chọn đề  tài hay còn gọi là ý nghĩa của đề  tài, hoặc tính cấp thiết của đề 

tài. Một đề  tài nghiên cứu phải có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, vì vậy trong phần  

mở đầu của cơng trình nghiên cứu, người nghiên cứu phải thuyết minh được ý nghĩa 

quan trọng (ít hoặc nhiều) của vấn đề mà mình lựa chọn nghiên cứu. 

­ Ý nghĩa lý luận (ý nghĩa khoa học) của vấn đề  nghiên cứu: đề  tài góp phần soi  

sáng hay lý giải một vấn đề có tính lý luận nào? 

­ Ý nghĩa thực tiễn của vấn đề  nghiên cứu: đề  tài nhằm giải quyết vấn đề  nào 

của thực tiễn đời sống? Có đóng góp gì cho thực tiễn đời sống? 

Trình bày lý do chọn đề tài chính là việc người nghiên cứu phải trả lời câu hỏi:  

Vì sao tơi chọn đề tài này?

24



3.1.2.  Lịch sử vấn đề



­ Ngay khi quyết định có lựa chọn một đề  tài nào đó hay khơng, người nghiên 

cứu đã phải thu thập các thơng tin về  các cơng trình khoa học đã cơng bố  có liên 

quan đến vấn đề  nghiên cứu mà mình định lựa chọn. Nếu đã có cơng trình nào đó 

giải quyết được vấn đề ấy rồi mà mình cũng khơng có quan điểm nào khác hơn thì 

phải từ bỏ đề tài ấy (vì vấn đề đã được giải quyết). 

­ Để thuyết minh rằng, đề tài này là một vấn đề chưa được khoa học giải quyết,  

luận văn phải trình bày lịch sử vấn đề  nghiên cứu để trả lời các câu hỏi: Những ai  

đã nghiên cứu vấn đề  này? Nghiên cứu đến đâu? Còn vấn đề  nào cần nghiên cứu  

tiếp? 

Để trả lời các câu hỏi trên, người nghiên cứu cần: 

­ Duyệt lại một cách có hệ  thống tất cả  những cơng trình khoa học lớn, nhỏ 

trong và ngồi nước có liên quan đến đề tài. 

­ Đánh giá thành tựu và hạn chế  của các cơng trình nghiên cứu có liên quan trên 

cơ sở của  sự phân tích, phê phán, đánh giá chứ khơng đơn thuần chỉ là liệt kê ra tên 

của các tài liệu đó (đây là lỗi mà các cơng trình nghiên cứu của sinh viên rất hay 

mắc phải).

­ Xác định vấn đề  mà những người đi trước còn dừng lại, và đó cũng là chỗ  mà  

đề  tài sẽ  giải quyết tiếp để  lấp một chỗ  trống mà khoa học còn bỏ  ngỏ. Chỗ  mà  

khoa học còn bỏ ngỏ cần được hiểu là: 

a) Cho đến nay chưa có cơng trình nào đề cập đến theo đúng như u cầu mà đề 

tài đặt ra. 

b) Tuy có đề cập đến nhưng là ở khía cạnh khác. 

c) Dù đã giải quyết nhưng chưa thỏa đáng, hoặc chưa rốt ráo đến nơi đến chốn.

­ Có những đề  tài có lịch sử  vấn đề  rất phong phú, vì vấn đề  nghiên cứu đã có 

rất nhiều người bàn đến. Tuy nhiên (dù rất ít khi), cũng có đề tài mà lịch sử vấn đề 

còn là một khoảng trống, vì cho đến thời điểm đó chưa có ai nghiên cứu. Đó là một 

đề tài khơng có lịch sử vấn đề.

 ­ Phần tổng thuật lịch sử vấn đề thường được trình bày theo các trình tự logic: 

a) Theo trình tự thời gian: từ cơng trình sớm nhất đến cơng trình gần đây nhất (có  

thể phân theo giai đoạn, thời kì). 

25



b) Theo trình tự các cơng trình trong nước, ngồi nước (hoặc ngược lại). 

c) Theo trình tự tính chất quan trọng của vấn đề. 

­ Khi điểm lại các cơng trình, khơng nên cào bằng mà cần phải dừng lại phân 

tích, đánh giá kĩ hơn đối với những cơng trình quan trọng, có dấu ấn, còn những bài  

viết, những cơng trình nào khơng quan trọng thì chỉ cần điểm lướt qua. 

3.1.3.  Đối tượng, phạm vi nghiên cứu



­ Trình bày đối tượng, phạm vi nghiên cứu cũng tức là nêu giới hạn nghiên cứu  

mà đề tài sẽ thực hiện. Thơng thường ngay ở tên đề tài ở những mức độ khác nhau  

đều đã thể hiện điều này, nhưng khi trình bày phần mở  đầu cũng cần xác định lại 

một cách cụ thể hơn, đặc biệt là với những đề tài mà tên gọi chưa minh định thật rõ  

đối tượng và phạm vi nghiên cứu thì phần này cần được giới thuyết thật cụ  thể 

mới tránh được sự bắt bẻ. 

+ Đối với các đề tài đã xác định rõ thời gian, khơng gian, phạm vi vấn đề nghiên  

cứu ngay từ tên đề tài thì chỉ cần nêu lại và cụ thể hóa hơn.

Ví dụ:

*  Đề  tài:  So sánh luật Hồng Đức thời Lê thế  kỷ  XV với pháp luật phong kiến  

Trung Quốc thời Minh

­ Giới hạn đối tượng nghiên cứu: so sánh luật Hồng Đức với pháp luật phong  

kiến Trung Quốc.

­ Thời gian khảo sát: thời Lê ở Việt Nam và thời Minh ở Trung quốc.

­ Phạm vi khảo sát: các điều luật.

* Đề tài: Pháp luật nhà Lê thế kỷ XV trong việc phát triển kinh tế nơng nghiệp

­ Giới hạn đối tượng nghiên cứu: pháp luật nhà Lê.

­ Giới hạn thời gian khảo sát: thế kỉ XV.

­ Phạm vi khảo sát: lĩnh vực phát triển kinh tế nơng nghiệp.

* Đề tài: Văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay nhìn từ mối quan hệ với văn hóa  

truyền thống 

­ Giới hạn đối tượng nghiên cứu: a) Khảo sát thực trạng văn hóa  ứng xử  với 

pháp luật ở Việt Nam hiện nay; b) Lý giải ngun nhân từ nền tảng văn hóa truyền  

thống.

­ Thời gian khảo sát: giai đoạn hiện nay.

26



­ Phạm vi khảo sát: những bài báo được đăng tải trên các tờ báo có uy tín viết về 

những hiện tượng tiêu cực trong ứng xử với pháp luật ở Việt Nam hiện nay. 

* Đề tài: Pháp luật thời Lê Sơ (thế kỷ XV) với việc bảo vệ quyền của người phụ  

nữ ­ những điểm tiến bộ cần kế thừa

­ Giới hạn đối tượng nghiên cứu: pháp luật với việc bảo vệ  quyền của người  

phụ nữ.

­ Thời gian khảo sát: thời Lê Sơ (TK XV).

­ Phạm vi khảo sát: những điểm tiến bộ cần kế thừa. 

+ Đối với những đề  tài chỉ  xác định phạm vi vấn đề  nghiên cứu mà khơng xác  

định giới hạn thời gian, khơng gian (ví dụ như: Đại lý thương mại – lý luận và thực  

tiễn; hoặc Mơi giới thương mại – lý luận và thực tiễn) thì trong phần giới hạn đối 

tượng và phạm vi nghiên cứu cần xác định thật cụ thể để tránh bị bắt bẻ.

3.1.4.  Nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu



Việc chỉ  rõ nhiệm vụ  và mục đích nghiên cứu cũng là một u cầu khơng thể 

thiếu khi thực hiện một đề  tài nghiên cứu. Nêu nhiệm vụ  nghiên cứu tức là chỉ  rõ 

những nhiệm vụ cụ thể mà người nghiên cứu phải thực hiện  khi nghiên cứu đề tài. 

Nêu mục đích nghiên cứu của đề tài tức là trả lời câu hỏi:  Nghiên cứu đề tài này sẽ  

thu được kết quả gì, để làm gì?

Ví dụ: 

* Đề tài: Hồn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp lao động tập thể ở Việt Nam:  

kinh nghiệm từ các nước có nền kinh tế thị trường phát triển và các nước trong khu  

vực.1

+ Nhiệm vụ nghiên cứu:

­ Nghiên cứu những vấn đề  lý luận cơ  bản về  tranh chấp lao động tập thể  và  

giải quyết tranh chấp lao động tập thể và những lý thuyết về so sánh luật trong lĩnh  

vực pháp luật lao động.

­ Khảo sát và đánh giá cơ  chế  giải quyết tranh chấp lao động tập thể   ở  những  

quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển và những quốc gia đang phát triển trong 

khu vực.



1



 Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của PGS,TS. Trần Hồng Hải, ĐH Luật TP. HCM.



27



­ Khảo sát và phân tích thực trạng tranh chấp lao động tập thể  và giải quyết 

tranh chấp lao động tập thể ở Việt Nam kể từ khi có Bộ luật Lao động 1994. 

+ Mục đích nghiên cứu:

­ Đề  xuất những kiến nghị  nhằm hồn thiện cơ  chế  giải quyết tranh chấp lao  

động tập thể ở Việt Nam để áp dụng cho cơ quan xây dựng pháp luật lao động, cơ 

quan quản lý lao động  ở  địa phương, các tổ  chức đại diện của người lao động và  

các doanh nghiệp.

* Đề  tài: Áp dụng phương pháp giảng dạy bằng tình huống trong đào tạo luật  

(qua thực tiễn tại trường ĐH Luật TP. HCM).1

+ Nhiệm vụ nghiên cứu:

­ Nghiên cứu, hệ thống hóa các vấn đề lý luận về phương pháp giảng dạy bằng  

tình huống và thiết lập những ngun tắc xây dựng tình huống trong các mơn học 

luật.

­ Đề xuất cụ thể về việc áp dụng phương pháp sử dụng tình huống trong dạy và 

học luật ở hệ đại học.

­ Xác định những điều kiện cần thiết và khả năng ứng dụng tình huống trong q 

trình đào tạo luật.

+ Mục đích nghiên cứu:

­ Xây dựng mơ hình giảng dạy tình huống và một số  tình huống điển hình để 

tham khảo trong q trình dạy và học áp dụng cho việc giảng dạy các ngành luật cơ 

bản ở trường Đại học Luật TP. HCM và các cơ sở có đào tạo luật trong cả nước.

* Đề tài: Văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay nhìn từ mối quan hệ với văn hóa  

truyền thống.2

+ Nhiệm vụ nghiên cứu: 

­ Chỉ  ra mối quan hệ giữa văn hóa với pháp luật và xác định khái niệm văn hóa 

pháp luật với tư cách là một phương diện biểu hiện của văn hóa.

­ Chỉ ra thực trạng tiêu cực của văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay

­ Phân tích ngun nhân từ sự chi phối của nền tảng văn hóa truyền thống. 



1

2



 Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường của Th.S Trần Kim Liễu, ĐH Luật TP.HCM.

 Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường của TS. Lê Thị Hồng Vân, ĐH Luật TP.HCM.



28



 ­ Từ góc nhìn văn hóa để đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng mơi trường văn 

hóa pháp luật tích cực, lành mạnh, làm nền tảng cho cơng cuộc xây dựng Nhà nước 

pháp quyền ở nước ta hiện nay.

+ Mục đích nghiên cứu: 

a. Đối với nhiệm vụ đào tạo chun ngành Luật: 

­ Đề  tài nghiên cứu sẽ  tạo sự  gắn kết giữa một mơn học thuộc khối kiến thức 

cơ  sở  ngành với kiến thức chun ngành Luật, để  việc giảng dạy mơn Đại cương  

Văn hóa Việt Nam thể  hiện đặc thù riêng của trường Luật, qua đó nhằm nâng cao 

tính ứng dụng và hiệu quả thực tiễn của mơn học.

­ Bổ sung thêm những kiến thức về văn hóa pháp luật – một mảng kiến thức xã 

hội rất cần thiết trong việc hành nghề Luật nhưng hiện chưa được giảng dạy trong  

chương trình đào tạo cử nhân Luật, cụ thể là:

1­ Trang bị  cho sinh viên những tri thức về  văn hóa pháp luật cũng như  ý thức  

một cách sâu sắc về  vai trò của văn hóa pháp luật trong việc xây dựng nhà nước  

pháp quyền ở nước ta hiện nay.

2­ Nhận diện được thực trạng văn hóa pháp luật Việt Nam hiện nay và lý giải  

được những căn ngun của thực trạng  ấy từ góc nhìn văn hóa, giúp sinh viên biết  

vận dụng những kiến thức văn hóa Việt Nam vào việc lý giải những vấn đề  trong 

thực tiễn ứng xử với pháp luật.

3­ Việc bổ sung những kiến thức về văn hóa pháp luật nhằm góp phần nâng cao 

chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Luật, nâng cao chất lượng văn hóa 

trong hành xử với pháp luật cho những người hành nghề  luật tương lai, để  họ  góp  

phần tích cực vào việc xây dựng một xã hội có nền văn hóa pháp luật cao. 

b. Đối với thực tiễn pháp luật:

Đề tài sau khi hồn thành sẽ là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm tìm hiểu 

về thực trạng văn hóa pháp luậtmối quan hệ giữa văn hóa truyền thống với văn hóa 

ứng xử với pháp luật.

3.1.5.  Phương pháp nghiên cứu

­ Có rất nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau để thực hiện các đề 

tài nghiên cứu, trong đó có các phương pháp chung cho mọi khoa học và có những 

phương pháp riêng cho mỗi ngành khoa học (khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật ­  

29



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong bối cảnh của sự bùng nổ thông tin hiện nay, có rất nhiều kênh để người nghiên cứu có thể thu thập tài liệu cũng như nhiều phương tiện kỹ thuật hỗ trợ như máy ghi âm, ghi hình, photocopy, bởi vậy việc thu thập thông tin có nhiều thuận lợi. Thông thườ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×