Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
***  Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi năm 2014 bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” nhưng quy định cụ thể “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” (khoản 2 Điều 8). Như vậy, những người đồng giới tính vẫn có thể kết

***  Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi năm 2014 bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” nhưng quy định cụ thể “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” (khoản 2 Điều 8). Như vậy, những người đồng giới tính vẫn có thể kết

Tải bản đầy đủ - 0trang

Vợ, chồng có nghĩa vụ  tơn trọng quyền tự  do tín ngưỡng, tơn giáo của  

nhau.

Điều 23. Quyền, nghĩa vụ về học tập, làm việc, tham gia hoạt động  

chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ  tạo điều kiện, giúp đỡ  nhau chọn nghề  

nghiệp; học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chun mơn, nghiệp vụ; tham gia  

hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

*  Trong các quyền và nghĩa vụ  về  nhân thân của vợ, chồng  thì “ bình 

đẳng về  quyền, nghĩa giữa vợ, chồng” theo điều 17 là cơ  bản và quan trọng 

nhất. Bởi: Bình đẳng vừa là vấn đề cơ bản của quyền con người, vừa là u  

cầu về  sự  phát triển xã hội một cách cơng bằng, hiệu quả  và bền vững đặc  

biệt là trong đời sống gia đình thì sự  bình đẳng càng quan trọng. Đó chính là 

sự  thừa nhận và coi trọng lẫn nhau; vợ  chồng có vai trò, vị  trí ngang nhau  

trong đời sống gia đình; vợ chồng được tạo điều kiện và cơ hội như nhau để 

phát huy năng lực của mình; vợ chồng được hưởng thụ ngang nhau các thành 

quả của sự phát triển. Quyền bình đẳng của vợ chồng còn được thể hiện trên 

mọi mặt trong đời sống, thể  hiện qua quyền lựa chọn nơi cư trú; việc ni  

dạy con; lựa chọn nghề  nghiệp, học tập và tham gia các hoạt động kinh tế,  

chính trị, văn hóa, xã hội; tự do tín ngưỡng, tơn giáo; đại diện cho nhau giữa  

vợ  chồng; quyền u cầu ly hơn… bình đẳng về  quyền đối với tài sản giữa 

vợ, chồng: vợ, chồng có quyền bình đẳng ngang nhau trong việc tạo lập,  

chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản khối tài sản chung trong việc đáp ứng 

những nhu cầu thiết yếu của gia đình cũng như trong các giao dịch  liên quan 

đến tài sản. Có thể  khẳng định ngun tắc vợ  chồng bình đẳng là một trong 

những ngun tắc cơ bản của vợ chồng. Trên cơ sở đó vợ chồng có quyền và 

nghĩa vụ ngang nhau trong việc thực hiện những quyền và nghĩa vụ phát sinh 

trong quan hệ vợ chồng, tạo điều kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp  

của các bên, đảm bảo cho quan hệ vợ chồng duy trì mối quan hệ tốt nhất.

Câu 5 : Quyền và nghĩa vụ  của các thành viên trong gia đình là cha,  

mẹ  với con; ơng, bà nội, ơng, bà ngoại với cháu; anh, chị, em với nhau  

được Luật Hơn nhân và gia đình được quy định như thế nào?

* Quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ với con được quy định cụ thể tại điều 

69 và điều 70 của Luật Hơn nhân và gia đình:

Điều 69. Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ

1. Thương u con, tơn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo  

dục để  con phát triển lành mạnh về  thể  chất, trí tuệ, đạo đức, trở  thành  

người con hiếu thảo của gia đình, cơng dân có ích cho xã hội.

2. Trơng nom, ni dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của  

con chưa thanh niên, con đã thành niên m

̀

ất năng lực hành vi dân sự  hoặc  

khơng có khả năng lao động và khơng có tài sản để tự ni mình.



4



3. Giam hơ ho

́

̣ ặc đại diện theo quy đinh cua B

̣

̉ ộ luật dân sự cho con chưa  

thành niên, con đa thanh niên mât năng l

̃ ̀

́

ực hanh vi dân s

̀

ự.

4. Khơng được phân biệt đối xử  với con trên cơ  sở  giới hoặc theo tình  

trạng hơn nhân của cha mẹ; khơng được lạm dụng sức lao động của con  

chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự  hoặc khơng  

có khả  năng lao động; khơng được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp  

luật, trái đạo đức xã hội.

Điều 70. Quyền và nghĩa vụ của con

1. Được cha me th

̣ ương u, tơn trong, th

̣

ực hiên cac qun, l

̣

́

̀ ợi ich h

́ ợp  

phap vê nhân thân va tai san theo quy đinh cua phap lt; đ

́ ̀

̀ ̀ ̉

̣

̉

́

̣ ược học tập và  

giáo dục; được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức.

2. Có bổn phận u q, kính trọng, biết  ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng  

cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình.

3. Con chưa thanh niên, con đã thành niên m

̀

ất năng lực hành vi dân sự  

hoặc khơng có khả năng lao động và khơng có tài sản để  tự ni mình thì có  

qun sơng chung v

̀ ́

ơi cha me, đ

́

̣ ược cha mẹ trơng nom, ni dưỡng, chăm sóc.

Con chưa thành niên tham gia cơng viêc gia đình phu h

̣

̀ ợp vơi l

́ ưa ti va

́

̉

̀ 

khơng trai v

́ ơi quy đinh cua phap lt vê bao vê, chăm soc và giao duc tre em.

́

̣

̉

́

̣ ̀ ̉

̣

́

́ ̣

̉

4. Con đa thanh niên co qun t

̃ ̀

́

̀ ự  do lựa chon nghê nghiêp, n

̣

̀

̣

ơi cư  tru,́  

học tập, nâng cao trình độ  văn hóa, chun mơn, nghiệp vụ; tham gia hoạt  

động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả  năng của  

minh. Khi sơng cung v

̀

́

̀ ơi cha me, con co nghia vu tham gia cơng vi

́

̣

́

̃ ̣

ệc gia đình,  

lao đơng, san xt, t

̣

̉

́ ạo thu nhập nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình;  

đong gop thu nhâp vao vi

́

́

̣

̀ ệc đáp  ứng nhu cầu cua gia đinh phù h

̉

̀

ợp với khả  

năng của mình.

5. Được hưởng quyền về tài sản tương xứng với cơng sức đóng góp vào  

tài sản của gia đình.

* Quyền và nghĩa vụ  của ơng, bà nội, ơng, bà ngoại với cháu được quy 

định tại điều 104 Luật Hơn nhân và gia đình năm 2014:

1. Ơng bà nội, ơng bà ngoại có quyền, nghĩa vụ  trơng nom, chăm sóc,  

giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu; trường hợp  

cháu chưa thành niên, cháu đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự  hoặc  

khơng có khả năng lao động và khơng có tài sản để tự ni mình mà khơng có  

người ni dưỡng theo quy định tại Điều 105 của Luật này thì ơng bà nội,  

ơng bà ngoại có nghĩa vụ ni dưỡng cháu.

2. Cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ơng bà nội, ơng  

bà ngoại; trường hợp ơng bà nội, ơng bà ngoại khơng có con để  ni dưỡng  

mình thì cháu đã thành niên có nghĩa vụ ni dưỡng.

* Quyền và nghĩa vụ  của anh, chị, em được quy định tại điều 105 Luật 

Hơn nhân và gia đình 2014: Anh, chị, em có quyền, nghĩa vụ thương u, chăm  

sóc, giúp đỡ  nhau; có quyền, nghĩa vụ  ni dưỡng nhau trong trường hợp  

khơng còn cha mẹ  hoặc cha mẹ  khơng có điều kiện trơng nom, ni dưỡng,  

chăm sóc, giáo dục con.

5



Câu 6: Chế độ tài sản của vợ chồng được Luật Hơn nhân và gia đình  

quy định như  thế  nào? Trước khi kết hơn, nam nữ  có được quyền thỏa  

thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng hay khơng? Tại sao?

* Tài sản chung của vợ chồng:

1. Tài sản chung của vợ  chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu  

nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh  

từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hơn nhân, trừ trường  

hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ  chồng  

được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ  chồng  

thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử  dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hơn là tài sản  

chung của vợ  chồng, trừ  trường hợp vợ  hoặc chồng  được thừa kế  riêng,  

được tặng cho riêng hoặc có được thơng qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng  

để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp khơng có căn cứ  để  chứng minh tài sản mà vợ,  

chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi  

là tài sản chung.

Chiếm hữu sử dụng tài sản chung:

1. Việc chiếm hữu, sử  dụng, định đoạt tài sản chung do vợ  chồng thỏa  

thuận.

2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của  

vợ chồng trong những trường hợp sau đây:

a) Bất động sản;

b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;

c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.

* Tài sản riêng của vợ chồng:

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi  

kết hơn; tài sản được thừa kế  riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ  hơn  

nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39  

và 40 của Luật hơn nhân và gia đình năm 2014; tài sản phục vụ nhu cầu thiết  

yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở  

hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản  

riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ  tài sản riêng trong thời kỳ  

hơn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều  

40 của Luật này.

Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng:

1. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của  

mình; nhập hoặc khơng nhập tài sản riêng vào tài sản chung.



6



2. Trong trường hợp vợ  hoặc chồng khơng thể  tự  mình quản lý tài sản  

riêng và cũng khơng  ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền  

quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có  

tài sản.

3. Nghĩa vụ  riêng về  tài sản của mỗi người được thanh tốn từ  tài sản  

riêng của người đó.

4. Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài  

sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản  

này phải có sự đồng ý của chồng, vợ.

** Trước khi kết hơn, nam nữ  có quyền thỏa thuận xác lập chế  độ  tài 

sản của vợ  chồng. Vì: Tài sản vợ  chồng là một trong những nội dung quan 

trọng của luật hơn nhân và gia đình. Sau khi kết hơn, tài sản chung được hình  

thành, các lợi ích và các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với khối tài 

sản này cũng vì thế mà hình thành. Nhiều vấn đề  nảy sinh nhiều mâu thuẫn,  

đặc biệt là sau khi vợ  chồng ly hơn. Việc xác định chế  độ  tài sản giữa vợ 

chồng trước, trong thời kỳ hơn nhân nhằm điều chỉnh các quan hệ tài sản của 

vợ  chồng, tạo điều kiện để  vợ, chồng có những cách “xử  sự” theo u cầu 

của pháp luật và phù hợp với đạo đức xã hội. Việc thực hiện và áp dụng chế 

độ tài sản của vợ chồng góp phần củng cố, bảo đảm thực hiện các quyền và  

nghĩa vụ  nhân thân giữa vợ  chồng và giữa các thành viên của gia đình với 

nhau. Việc thực hiện và áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng góp phần củng  

cố, bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ  nhân thân giữa vợ  chồng và  

giữa các thành viên của gia đình.  Thực tiễn xét xử  cho thấy, phần lớn các 

tranh chấp của vợ chồng có liên quan đến tài sản. Sự phức tạp trong việc xác 

định tài sản chung, tài sản riêng vợ chồng cùng những hạn chế trong việc qui  

định về chế  độ tài sản vợ chồng trong luật dân sự, luật hơn nhân và gia đình 

nước ta ngày càng trở nên bất cập; chính vì thế  việc xác lập chế  độ  tài sản  

vợ chồng  là cần thiết.

Câu 7: Luật quy định như  thế nào về  việc mang thai hộ vì mục đích  

nhân đạo? Trường hợp con sinh ra bằng kỹ thuật hổ trợ sinh sản thì việc  

xác định cha, mẹ được thực hiện như thế nào?

Mang   thai   hộ   vì   mục   đích   nhân   đạo   là   việc   một   người   phụ   nữ   tự 

nguyện, khơng vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà  

người vợ  khơng thể  mang thai và sinh con ngay cả  khi áp dụng kỹ  thuật hỗ 

trợ sinh sản, bằng việc lấy nỗn của người vợ và tinh trùng của người chồng  

để  thụ  tinh trong  ống nghiệm, sau đó cấy vào tử  cung của người phụ  nữ  tự 

nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con.

* Điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo:

1. Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ  

sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản.

2. Vợ chồng có quyền nhờ  người mang thai hộ khi có đủ  các điều kiện  

sau đây:

7



a) Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ khơng  

thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

b) Vợ chồng đang khơng có con chung;

c) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

3. Người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang  

thai hộ;

b) Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;

c) Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về  

khả năng mang thai hộ;

d) Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng  

ý bằng văn bản của người chồng;

đ) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.

4. Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo khơng được trái với quy định  

của pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.

Luật Hơn nhân và gia đình 2014 quy định bên nhờ  mang thai hộ  khơng 

được từ chối nhận con, trường hợp bên nhờ  mang thai hộ  từ chối nhận con,  

thì bên mang thai hộ  có quyền u cầu Tòa án buộc bên nhờ  mang thai hộ 

nhận con. Trong trường hợp bên mang thai hộ  từ  chối giao con, thì bên nhờ 

mang thai hộ có quyền u cầu Tòa án buộc bên mang thai hộ giao con. Trong  

trường hợp bên nhờ mang thai hộ chết, thì con được hưởng thừa kế theo pháp 

luật đối với di sản của bên nhờ mang thai hộ…

Pháp luật quy định rất chặt chẽ  về  thỏa thuận về mang thai hộ vì mục 

đích nhân đạo. Theo đó, thỏa thuận về  mang thai hộ  vì mục đích nhân đạo 

phải bảo đảm các điều kiện:

 – Lập thành văn bản có cơng chứng. Trong trường hợp vợ  chồng bên 

nhờ  mang thai hộ   ủy quyền cho nhau hoặc vợ  chồng bên mang thai hộ   ủy 

quyền cho nhau về việc thỏa thuận thì việc ủy quyền phải lập thành văn bản  

có cơng chứng. Việc  ủy quyền cho người thứ  ba khơng có giá trị  pháp lý. 

Trong trường hợp thỏa thuận về mang thai hộ giữa bên mang thai hộ  và bên 

nhờ mang thai hộ được lập cùng với thỏa thuận giữa họ với cơ sở y tế thực  

hiện việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì thỏa thuận này phải có 

xác nhận của người có thẩm quyền của cơ sở y tế này;

–  Có thơng tin đầy đủ về bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ theo  

các điều kiện có liên quan;

– Quy định rõ quyền, nghĩa vụ về hỗ trợ để bảo đảm sức khỏe sinh sản  

cho người mang thai hộ trong thời gian mang thai và sinh con, việc nhận con 

của bên nhờ  mang thai hộ, quyền và nghĩa vụ  của hai bên đối với con trong  

trường hợp con chưa được giao cho bên nhờ mang thai hộ và các quyền, nghĩa 

vụ;

–   Trách nhiệm dân sự  trong trường hợp một hoặc cả  hai bên vi phạm 

cam kết theo thỏa thuận.

8



Trường hợp phát sinh tranh chấp liên quan tới việc mang thai hộ thì Tòa 

án là cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Trong trường hợp bên nhờ mang thai  

hộ  khơng còn mà bên mang thai hộ  khơng nhận ni đứa trẻ, thì Tòa án chỉ 

định người giám hộ  cho đứa trẻ  theo quy định của Bộ  luật dân sự. Trong 

trường hợp bên nhờ mang thai hộ khơng nhận con và bên mang thai hộ khơng 

tự  nguyện chăm sóc, ni dưỡng đứa trẻ, thì Tòa án chỉ  định người giám hộ 

cho đứa trẻ, bên nhờ  mang thai hộ  có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ  cấp 

dưỡng cho con.

* Xác định cha, mẹ trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hổ tr ợ sinh  

sản:

* Đối với cặp vợ chồng vơ sinh:

Theo quy định tại Điều 93 Luật Hơn nhân và gia đình năm 2014: “ 1. 

Trong trường hợp người vợ  sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì việc  

xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật này”. Đối 

chiếu với quy định tại Điều 88, Luật Hơn nhân và gia đình năm 2014: “1. Con 

sinh ra trong thời kỳ  hơn nhân hoặc do người vợ  có thai trong thời kỳ  hơn  

nhân là con chung của vợ  chồng. Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày  

kể từ thời điểm chấm dứt hơn nhân được coi là con do người vợ có thai trong  

thời kỳ  hơn nhân. Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hơn và được cha mẹ  

thừa nhận là con chung của vợ chồng”. 

Thứ  nhất, đối với cặp vợ, chồng vơ sinh sinh con bằng kỹ thuật hỗ  trợ 

sinh sản thì căn cứ  xác định cha, mẹ, con được xác định trên ngun tắc suy  

đốn pháp lý (Điều 88, Luật HN và GĐ năm 2014) nhưng khơng hồn tồn 

giống sinh con theo chu trình tự nhiên. Đó là căn cứ vào thời kỳ hơn nhân của 

cặp vợ  chồng vơ sinh. Đây khơng chỉ  là căn cứ  xác định cha, mẹ, con trong 

trường hợp con sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mà còn là điều kiện bắt  

buộc để cặp vợ chồng được áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Do đó, trường  

hợp con sinh ra trước ngày vợ, chồng đăng ký kết hơn và được vợ chồng thừa 

nhận là con chung sẽ  khơng được áp dụng đối với trường hợp con sinh ra  

bằng hỗ trợ kỹ thuật sinh sản. 

Thứ hai, chỉ khi có sự tự nguyện của cặp vợ chồng vơ sinh thì mới được  

áp   dụng   việc   sinh   con   bằng   kỹ   thuật   hỗ   trợ   sinh   sản.   Trên   tình   thần   tự 

nguyện, người vợ  trong cặp vợ chồng vơ sinh được xác đònh là mẹ  đứa trẻ 

trong mọi trường hợp kể  cả  người mẹ  là người nhận tinh trùng, nhận nỗn 

hay nhận phơi của người khác. Người chồng hợp pháp của người mẹ đó cũng  

chính là cha đứa trẻ, ngay cả  trường hợp người chồng khơng phải là người  

cho tinh trùng. 

* Đối với phụ nữ độc thân:

Căn cứ để xác định cha, mẹ, con trong trường hợp này chỉ dựa vào sự tự 

nguyện và sự kiện sinh đẻ của chính họ. Theo  quy định tại  khoản 2 Điều 93 

Luật Hơn nhân và gia đình năm 2014: “Trong trường hợp người phụ nữ sống  

độc thân sinh con bằng kỹ  thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ  nữ  đó là mẹ  

của con được sinh ra”. Theo đó, người phụ  nữ  độc thân đương nhiên là mẹ 

9



của đứa trẻ. Pháp luật hiện nay ngồi việc cho phép người phụ  nữ  độc thân  

được nhận tinh trùng từ  người khác còn cho phép họ  được nhận phơi trong 

trường hơp họ  khơng có nỗn hoặc nỗn khơng bảo đảm chất lượng để  thụ 

thai. Việc quy định cho người phụ nữ đơn thân được phép nhận phơi thể hiện 

được tính chất nhân đạo của pháp luật, bởi khi người phụ  nữ độc thân khát  

khao được làm mẹ  nhưng do khơng có nỗn hay nỗn khơng đảm bảo chất 

lượng để  thụ  thai, do đó dù có nhận tinh trùng của người khác thì họ  cũng 

khơng thể thụ thai được nên lúc này họ có thể nhận phơi để được sinh con.

Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản khơng làm phát sinh quan hệ 

cha, mẹ  và con giữa người cho tinh trùng, cho nỗn, cho phơi với người con  

được sinh ra: quy định này phù hợp với ngun tắc áp dụng kỹ  thuật hỗ  trợ 

sinh sản là: “việc cho và nhận tinh trùng, cho và nhận phơi được thực hiện  

trên ngun tắc vơ danh giữa người cho và người nhận” (Khoản 3, Nghị định 

số 10/2015/NĐ­CP ngày 28 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ q uy định về sinh 

con bằng kỹ  thuật thụ  tinh trong  ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ  vì 

mục đích nhân đạo).

* Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân  

đạo:

Mang thai hộ  vì mục đích nhân đạo là điểm đổi mới tiến bộ  của pháp 

luật hơn nhân và gia đình. Pháp luật cho phép cặp vợ chồng vơ sinh có quyền 

nhờ  mang thai hộ. Việc này đã mở  ra cơ  hội được làm cha mẹ  thực sự  cho 

nhiều cặp vợ  chồng hiếm muộn. Theo quy định tại khoản   22 Điều 3 Luật 

Hơn nhân và gia đình năm 2014 thì: Mang thai hộ  vì mục đích nhân đạo là  

“việc một người phụ nữ tự nguyện, khơng vì mục đích thương mại giúp mang  

thai cho cặp vợ chồng mà người vợ khơng thể mang thai và sinh con ngay cả  

khi áp dụng kỹ  thuật hỗ  trợ  sinh sản, bằng việc lấy nỗn của người vợ  và  

tinh trùng của người chồng để  thụ  tinh trong  ống nghiệm sau đó cấy vào tử  

cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh  

con”. Theo quy định tại  Điều 94, Luật Hơn nhân và gia đình năm 2014: “Con  

sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của  

vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra ”. Như vậy, việc 

mang thai hộ vì mục đích nhân đạo khơng làm phát sinh mối quan hệ cha, mẹ,  

con giữa vợ chồng người được nhờ mang thai hộ và đứa trẻ sinh ra.

Câu 8: Luật quy định hơn nhân chấm dứt trong những trường hợp  

nào? Nội dung cụ thể của các trường hợp ly hơn quy định trong Luật Hơn  

nhân và Gia đình. Trường hợp người (đã có vợ  hoặc chồng) bị  Tòa án  

tun bố là đã chết mà trở về thì quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản của  

người đó được quy định như thế nào?

* Chấm dứt hơn nhân trong các trường hợp:

+ Do vợ, chồng chết hoặc bị tồ án tun bố đã chết.



10



+ Do ly hơn: thuận tình ly hơn; ly hơn theo u cầu của 1 bên; ly hơn khi 

bị tòa án tun bố mất tích.

** Nội dung cụ thể của các trường hợp ly hơn quy định trong Luật Hơn 

nhân và Gia đình:

+ Thuận tình ly hơn: Là trường hợp vợ chồng cùng u cầu ly hơn, nếu  

xét thấy hai bên thật sự  tự  nguyện ly hơn và đã thỏa thuận về  việc chia tài  

sản, việc trơng nom, ni dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm  

quyền lợi chính đáng của vợ  và con thì Tòa án cơng nhận thuận tình ly hơn;  

nếu khơng thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng khơng bảo đảm quyền  

lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hơn.

+  Ly hơn theo u cầu của 1 bên:

Khi vợ hoặc chồng u cầu ly hơn mà hòa giải tại Tòa án khơng thành thì  

Tòa án giải quyết cho ly hơn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo  

lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ  của vợ, chồng làm  

cho hơn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung khơng thể  kéo  

dài, mục đích của hơn nhân khơng đạt được.

Trong trường hợp có u cầu ly hơn theo quy định tại khoản 2 Điều 51  

của Luật thì Tòa án giải quyết cho ly hơn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có  

hành vi bạo lực gia đình làm  ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức  

khỏe, tinh thần của người kia.

Hậu quả pháp lý của việc ly hơn:

Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng:

Khi quyết định, bản án của Tòa án giải quyết ly hơn có hiệu lực thì quan  

hệ nhân thân giữa vợ và chồng chấm dứt.

Quan hệ giữa cha mẹ – con sau khi ly hơn:

Sau khi ly hơn thì quan hệ giữa cha mẹ – con vẫn tồn tại. Cha mẹ vẫn có  

quyền, nghĩa vụ  trơng nom, chăm sóc, ni dưỡng, giáo dục con chưa thành  

niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc khơng có khả năng  

lao động và khơng có tài sản để tự ni mình. Việc ni con, nghĩa vụ, quyền  

của mỗi bên sau khi ly hơn đối với con do hai vợ  chồng thỏa thuận. Trong  

trường hợp khơng thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho bên  

trực tiếp ni căn cứ  vào quyền lợi mọi mặt của con, nếu con từ đủ  7 tuổi  

trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp ni, trừ trường hợp  

người mẹ khơng đủ điều kiện để trực tiếp trơng nom, chăm sóc, ni dưỡng,  

giáo dục con hoặc cha mẹ  có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.  

Người cha hoặc người mẹ  khơng trực tiếp ni con phải   cấp dưỡng ni  

con (theo quy định cấp dưỡng).

Việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hơn:

Điều 59 Luật Hơn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc giải quyết 

tài sản chung của vợ chồng như sau:



11



Khi ly hơn chia tài sản do các bên thỏa thuận; nếu bên khơng thỏa thuận  

được thì u cầu Tòa án giải quyết theo ngun tắc sau:

* Tài sản riêng của bên nào thuộc sở hữu bên đó.

* Tài sản chung của vợ chồng về ngun tắc chia đơi nhưng có xem xét  

hồn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, cơng sức đóng góp của mỗi bên  

vào việc xác lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ chồng trong  

gia đình coi như lao động có thu nhập. Bảo vệ quyền lợi ích hợp của vợ, con  

chưa thành niên hoặc đã thành niên bị  tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự,  

khơng có khả năng lao động và khơng có tài sản tự ni mình. Bảo vệ lợi ích  

chính đáng mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh nghề  nghiệp để  các bên có  

điều kiện tiếp tục lao động thu nhập.

Tài sản chung của vợ  chồng được chia bằng hiện vật theo giá trị, nếu  

bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị  lớn hơn phần mình được  

hưởng thì phải thanh tốn cho bên kia phần giá trị chênh lệch.

+ Trong trường hợp vợ  hoặc chồng của người bị Tòa án tun bố  mất  

tích u cầu ly hơn thì Tòa án giải quyết cho ly hơn.

Hậu quả pháp lý:

Khi vợ hoặc chồng của người bị tun bố  mất tích xin ly hơn thì Tòa án  

giải quyết cho ly hơn.

Tài sản của người bị tun bố mất tích: Người đang quản lý tài sản của  

người vắng mặt tại nơi cư  trú tiếp tục quản lý tài sản của người đó khi  

người đó bị  Tồ án tun bố  mất tích. Trong trường hợp Tồ án giải quyết  

cho vợ  hoặc chồng của người bị  tun bố  mất tích ly hơn thì tài sản của  

người mất tích được giao cho con đã thành niên hoặc cha, mẹ của người mất  

tích quản lý; nếu khơng có những người này thì giao cho người thân thích của  

người mất tích quản lý; nếu khơng có người thân thích thì Tồ án chỉ  định  

người khác quản lý tài sản.

*** Trường hợp người (đã có vợ  hoặc chồng) bị  Tòa án tun bố  là đã 

chết mà trở về thì quan hệ  nhân thân, quan hệ  tài sản của người đó được 

quy định như sau: Căn cứ vào điều 67, Luật hơn nhân và gia đình năm 2014:

Quan hệ  nhân thân, tài sản khi vợ, chồng bị tun bố  là đã chết mà trở  

về

– Khi Tòa án ra quyết định hủy bỏ tun bố một người là đã chết mà vợ hoặc  

chồng của người đó chưa kết hơn với người khác thì quan hệ hơn nhân được  

khơi phục kể  từ  thời điểm kết hơn. Trong trường hợp có quyết định cho ly  

hơn của Tòa án theo quy định tại khoản 2 Điều 56 của Luật Hơn nhân và Gia  

đình thì quyết định cho ly hơn vẫn có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp  

vợ, chồng của người đó đã kết hơn với người khác thì quan hệ  hơn nhân  

được xác lập sau có hiệu lực pháp luật.

– Quan hệ tài sản của người bị tun bố là đã chết trở về với người vợ  

hoặc chồng được giải quyết như sau:



12



+ Trong trường hợp hơn nhân được khơi phục thì quan hệ  tài sản được  

khơi phục kể từ thời điểm quyết định của Tòa án hủy bỏ tun bố chồng, vợ  

là đã chết có hiệu lực. Tài sản do vợ, chồng có được kể  từ  thời điểm quyết  

định của Tòa án về  việc tun bố  chồng, vợ  là đã chết có hiệu lực đến khi  

quyết định hủy bỏ tun bố chồng, vợ đã chết có hiệu lực là tài sản riêng của  

người đó;

+ Trong trường hợp hơn nhân khơng được khơi phục thì tài sản có được  

trước khi quyết định của Tòa án về  việc tun bố  vợ, chồng là đã chết có  

hiệu lực mà chưa chia được giải quyết như chia tài sản khi ly hơn.

Câu 9: Xử lý tình huống pháp luật hơn nhân và gia đình:

Căn cứ  vào Luật Hơn nhân và gia đình năm 2014 thì u cầu của anh A  

tại tòa chưa đủ  cơ  sở  pháp lý. Bởi theo quy định tại  khoản 4 điều 59 Luật  

Hơn nhân và gia đình năm 2014 có quy định:

“Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở  hữu của người  đó, trừ  

trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật  

này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản  

chung mà vợ, chồng có u cầu về chia tài sản thì được thanh tốn phần giá  

trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có  

thỏa thuận khác”. 

Như  vậy căn nhà của A được cha mẹ  tặng riêng thuộc quyền sở  hữu  

riêng của anh A, nhưng trong thời gian sống chung, hai vợ chồng đã dành dụm 

tiền để sửa sang, nâng cấp với tổng số  tiền là 500 triệu đồng (đây là tài sản  

chung của hai vợ chồng), nên khi ly hơn anh có nghĩa vụ bồi thường phần tài 

sản cho chị B theo luật định, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

Về  quyền ni con, căn cứ  vào điều 81 Luật Hơn nhân và gia đình năm 

2014; vợ, chồng anh A chị  B thỏa thuận về  người trực tiếp ni con, nghĩa 

vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hơn đối với con; trường hợp khơng thỏa 

thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp ni căn cứ 

vào quyền lợi về mọi mặt của con. (Nhìn chung Tòa án sẽ  dựa trên 3 u tố 

sau: Điều kiện về  vật chất bao gồm: Ăn,  ở, sinh hoạt, điều kiện học tập…

các yếu tố  đó dựa trên thu nhập, tài sản, chỗ   ở  của cha mẹ; Các yếu tố  về 

tinh thần bao gồm: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm đã  

dành cho con từ trước đến nay, điều kiện cho con vui chơi giải trí, nhân cách  

đạo đức, trình độ học vấn … của cha mẹ;  Nguyện vọng của con: Con mong  

muốn được ở với ai). Anh A có thể giành quyền ni con gái lớn (con gái lớn  

5 tuổi), nếu anh A có đủ  khả  năng chứng minh trước tòa rằng mình có thể 

đem lại cho con mình cuộc sống tốt đẹp hơn. Riêng với bé trai 18 tháng tuổi,  

theo quy định tại khoản 3 điều 81 Luật Hơn nhân và gia đình 2014 thì quyền  

ni con thuộc về  chị  B trừ  trường hợp người mẹ  khơng đủ  điều kiện để 

13



trực tiếp trơng nom, chăm sóc, ni dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa 

thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Câu 10:  Khoản 1 Điều 36 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ  

nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định “nam nữ  có quyền kết hơn, ly hơn. 

Hơn nhân theo ngun tắc tự  nguyện, tiến bộ, một vợ  một chồng, vợ 

chồng bình đẳng tơn trọng lẫn nhau”. Hãy phân tích về  quyền kết hơn 

và ly hơn của nam nữ  trên cơ  sở  hơn nhân tự  nguyện, tiến bộ, một vợ 

một chồng, vợ  chồng bình đẳng tơn trọng lẫn nhau, và trình bày quan 

điểm cá nhân về  quyền ly hơn của cơng dân trong mối tương quan về 

xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững”?

Tình u giữa nam và nữ  là thứ  tình cảm  xuất phát từ  sự  tự  nguyện cả 

hai phía mà khơng có sự lừa dối, cản trở hay cưỡng ép. Đó cũng chính là cơ 

sở cho việc nam và nữ tiến tới hơn nhân khi họ thực sự muốn cùng nhau xây 

dựng cũng như thực hiện các chức năng của gia đình. Sự  tự nguyện, tiến bộ 

còn được thể hiện khi cả hai bên vợ và chồng muốn chấm dứt hơn nhân thơng 

qua việc li hơn. Họ cũng hồn tồn được quyết định vấn đề này và các vấn đề 

về con chung cũng như tài sản.

Tự nguyện hồn tồn trong việc kết hơn là hai bên nam nữ tự mình quyết  

định việc kết hơn và thể  hiện ý chí là mong muốn trở  thành vợ  chồng của  

nhau. Mỗi bên khơng chịu tác động của bên kia hay bất kì người nào khác  

khiến họ  phải kết hơn trái với nguyện vọng của họ. Sự  thể hiện ý chí phải  

thống nhất với ý chí. Sự  tự  nguyện kết hơn phải thể  hiện rõ là họ  mong 

muốn được gắn bó với nhau, cùng nhau chung sống suốt đời nhằm thảo mãn 

nhu cầu tình cảm của 2 người, đảm bảo cho họ được tự do thể hiện ý chí và 

tình cảm khi kết hơn.

Viêc ghi nhân ngun tăc hơn nhân t

̣

̣

́

ự  ngun, tiên bơ rât cân thiêt va co

̣

́

̣ ́ ̀

́ ̀ ́ 

nhưng y nghia quan trong nh

̃ ́

̃

̣

ư sau:

Thứ nhât,

́  viêc nha n

̣

̀ ươc ghi nhân ngun tăc nay tr

́

̣

́ ̀ ươc hêt phu h

́ ́

̀ ợp với 

ngun vong cua ng

̣

̣

̉

ươi dân, pháp lu

̀

ật đã thực sự  trở  thành cơng cụ  quản lý 

của Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kết hơn.

Thứ hai,  viêc ghi nhân ngun tăc hơn nhân t

̣

̣

́

ự  ngun tiên bơ cua nha

̣

́

̣ ̉

̀ 

nươc đa lam cho ngun tăc nay tr

́ ̃ ̀

́ ̀ ở thanh mơt trong nh

̀

̣

ững điêu kiên tiên qut

̀

̣

́ 

đê đam bao cho hơn nhân co gia tri phap ly. Đ

̉ ̉

̉

́ ́ ̣

́ ́ ồng thời cũng là căn cứ pháp lý  

để Tòa án xử lý những trường hợp vi phạm xảy ra trên thực tế.

Xet cho cung, ta thây, viêc ghi nhân ngun tăc hơn nhân t

́

̀

́

̣

̣

́

ự ngun tiên bơ

̣

́ ̣ 

cua nha n

̉

̀ ươc la nhăm đam bao đ

́ ̀ ̀

̉

̉ ược muc đich cuôi cung cua hôn nhân la xây

̣

́

́ ̀

̉

̀  

dựng môt gia đinh hanh phuc, môt tê bao khoe manh cua xa hôi

̣

̀

̣

́

̣ ́ ̀

̉

̣

̉

̃ ̣

Cac biêu hiên cua nguyên tăc hôn nhân t

́

̉

̣

̉

́

ự  nguyên, tiên bô trong chê

̣

́

̣

́ 

đinh kêt hôn:

̣

́



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

***  Luật Hôn nhân và gia đình sửa đổi năm 2014 bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” nhưng quy định cụ thể “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” (khoản 2 Điều 8). Như vậy, những người đồng giới tính vẫn có thể kết

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×