Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phân biệt phá sản và giải thể (tt)

Phân biệt phá sản và giải thể (tt)

Tải bản đầy đủ - 0trang

 Phân biệt phá sản và giải thể (tt)





Phá sản khác với giải thể  ở bản chất của hai 

thủ  tục  pháp  lý  cũng  như  cơ  quan  có  thẩm 

quyền thực hiện các thủ tục đó:







Giải thể là một thủ tục hành chính: là giải pháp mang 

tính  chất  tổ  chức  của  người  chủ  DN  tự  mình  quyết 

định hoặc do cơ quan có thẩm quyền cho phép thành 

lập quyết định.

Thủ  tục  phá  sản  một  thủ  tục  tư  pháp:  là  hoạt  động 

của tòa án có thẩm quyền. 







 Phân biệt phá sản và giải thể (tt)





Giải  thể  và  phá  sản  còn  khác  nhau  về  hậu 

quả:







Giải  thể  bao  giờ  cũng  dẫn  đến  chấm  dứt  hoạt  động 

và xóa tên DN, HTX.

Đối  với  phá  sản  khơng  phải  bao  giờ  cũng  dẫn  đến 

hậu quả như vậy.







 Phân biệt phá sản và giải thể (tt)





Thái  độ  của  NN  đối  với  các  chủ  sở  hữu  hay 

người quản lý, điều hành DN cũng có sự khác 

biệt: 







Cấm chủ sở hữu hay người quản lý, điều hành DN bị 

phá  sản  khơng  được  hành  nghề  trong  một  thời  gian 

nhất định.

Còn  đối  với  giải  thể,  việc  hạn  chế  quyền  tự  do  kinh 

doanh khơng được pháp luật đặt ra. 







2. Khái qt về pháp luật phá sản

2.1 Khái niệm pháp luật phá sản

2.2 Nội dung của pháp luật phá sản 

2.3 Vai trò của luật phá sản 



2.1 Khái niệm pháp luật phá sản













PLPS là tổng thể các QPPL do NN ban hành, điều chỉnh các 

QHXH phát sinh trong q trình giải quyết u cầu phá sản 

của DN, HTX. 

PLPS  là  một  bộ  phận  cấu  thành  nhóm  các  chế  định  pháp 

luật về giải quyết hậu quả của khung pháp lý kinh tế trong 

nền KTTT. 

PLPS  là  một  chế  định  đặc  thù:  Vừa  chứa  đựng  các  QPPL 

nội dung, vừa chứa đựng các QPPL hình thức (pháp luật tố 

tụng). 



Với tư cách là pháp luật nội dung, PLPS điều chỉnh các QHTS 

giữa chủ nợ và con nợ.

 Với tư cách là pháp luật hình thức, PLPS điều chỉnh các quan 

hệ  tố  tụng  giữa  CQNN  có  thẩm  quyền  với  chủ  nợ,  con  nợ  và 

những  chủ  thể  có  liên  quan,  trình  tự,  thủ  tục  giải  quyết  yêu 

cầu phá sản DN, HTX. 

→   PLPS  điều chỉnh hai nhóm QHXH: QHTS giữa chủ nợ và con 





nợ; quan hệ tố tụng giữa các đương sự với CQNN có thẩm 

quyền. 



◙ Quan hệ giữa chủ nợ và con nợ

Quan hệ giữa chủ nợ và con nợ là những QHTS 

phần lớn được hình thành trước khi có u cầu 

phá sản, và nó chỉ được coi là QHPL phá sản kể 

từ khi có u cầu phá sản. 













Chủ thể tham gia các QHTS này là chủ nợ (chủ nợ 

có bảo đảm; chủ nợ có bảo đảm một phần; chủ nợ 

khơng có bảo đảm) và con nợ (DN, HTX).   

Khách thể của quan hệ giữa chủ nợ và con nợ hay 

nói cách khác là những lợi ích mà chủ nợ và con nợ 

nhằm vào chính là tài sản còn lại của DN, HTX. 

Nội dung của QHTS giữa chủ nợ và con nợ chính là 

những  quyền  và  nghĩa  vụ  về  tài  sản  của  các  chủ 

thể đó. 



◙ Quan hệ tố tụng











Là  quan  hệ  tố  tụng  giữa  các  đương  sự  và  CQNN  có  thẩm 

quyền,  phát  sinh  trong  q  trình  giải  quyết  yêu  cầu  phá 

sản  DN,  HTX.  Các  chủ  thể  của  quan  hệ  này  gồm:  các 

đương sự và các CQNN có thẩm quyền. 

Các đương sự gồm có: chủ nợ, con nợ và những người có 

liên quan. 

Các cơ quan tố tụng gồm có: Tòa án, TQLTLTS, VKS. 













Tòa  án  là  cơ  quan  có  vai  trò  quyết  định,  có  thẩm  quyền  tiến 

hành thủ tục phá sản đối với DN, HTX. 

TQLTLTS  là  bộ  phận  chun  mơn  do  tòa  án  thành  lập  để  làm 

nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản của DN, HTX. 

VKS  có  vai  trò  rất  hạn  chế,  chỉ  kiểm  sát  việc  tn  theo  pháp 

luật, bởi vì pháp luật ln đề cao quyền tự định đoạt của các 

đương sự. 



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phân biệt phá sản và giải thể (tt)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×