Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM – PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM

TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM – PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM

Tải bản đầy đủ - 0trang

 ­Biện pháp dự trữ ­ bảo hiểm:  đây là biện pháp được con người áp dụng từ xa xưa khi con  

người chưa biết đến bảo hiểm nhưng họ đã có ý thức được việc làm cần thiết để bảo đảm cho sự 

sinh tồn như: dự trữ lương thực, vật ni trong ngày săn bắn được nhiều để  dùng cho những ngày 

mưa rét khơng đi săn bắn và hái lượm được. Đó là là những dấu hiệu đầu tiên về  hoạt động bảo  

hiểm mang tính chất tự bảo hiểm. 

Bảo hiểm thực chất là việc con người phải dành ra một phần sản phẩm hay thu nhập trong  

kết quả lao động hàng năm của mình để lập ra quỹ dự trữ đủ lớn về vật tư  hoặc bằng tiền (quỹ  

đó gọi là quỹ dự trữ bảo hiểm ) nhằm :

1/­Hỗ trợ tài chính cho việc đề phòng và hạn chế tổn thất khi hiểm hoạ chưa hoặc đang xảy  

ra. 

2/­Bù đắp và bồi thường kịp thời những thiệt hại và tổn thất về  người và tài sản, sau khi  

xảy ra hiểm hoạ. 

Có 3 loại quỹ được thành lập và chi dùng cho mục đích nêu trên là :

­Quỹ  dự  trữ  nhà nước được lập ra từ  ngân sách nhà nước (quỹ  dự  phòng trong ngân sách, 

quỹ dự trữ quốc gia, quỹ dự trữ tài chính ). Quỹ này thuộc sở  hữu nhà nước do nhà nước quản lý, 

nó được sử dụng để bù đắp những thiệt hại do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra trên diện rộng, quy  

mơ lớn,  quỹ  này khơng được sử  dựng khi rủi ro thiệt hại mang tính cá biệt. Do đó nó khơng đáp  

ứng đầy đủ các nhu cầu của từng tổ chức, gia đình, cá nhân. 

­Quỹ dự phòng riêng của từng tổ chức, cá nhân, gia đình: (Quỹ dự trữ phân tán) Quỹ này do 

các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân tự lập ra bằng thu nhập của mình, họ tự quản lý, sử dụng nên, 

đáp ứng kịp thời, nhanh chóng chủ động đối với những tổn thất vừa và nhỏ. Tuy nhiên, do quy mơ 

quỹ  khơng lớn, khơng thể  bù đắp cho những tổn thất lớn, khơng phát huy được tính cộng đồng  

tương trợ, nó chỉ đóng khung trong từng đơn vị, khơng cơ  động, có thể  dẫn đến tình trạng ứ đọng  

vốn, lãng phí vốn, hiệu quả kinh tế khơng cao. 

­Quỹ  bảo hiểm tập trung mang tính cộng đồng : Quỹ  này được lập bằng tiền do đơng đảo 

những tổ  chức, cá nhân có cùng khả  năng gặp những biến cố  nào đó đóng góp, tạo lập quỹ  theo  

một chế độ  thống nhất và bình đẳng. Nó được sử  dụng để  phòng ngừa và bù đắp những tổn thất  

cho người  tham gia lập quỹ khi có sự kiện bảo hiểm xuất hiện. Chủ thể đứng ra tổ chức lập, quản  

quỹ bảo hiểm có thể là cơ quan nhà nước hay một tổ chức, doanh nghiệp  họ thực hiện cơng việc  

này có thể khơng vì mục tiêu lợi nhuận hoặc hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Nhưng chúng giống  

nhau ở chỗ: 



2



Phương thức tạo lập và sử dụng quỹ này trên ngun tắc “ lấy số đơng bù cho số ít hay cộng  

đồng hố trách nhiệm, hay phân tán chia nhỏ rủi ro cho nhiều người cùng gánh chịu ” nên nó mang 

tính kinh tế, tính xã hội cao. 

Đối với mỗi cá nhân hàng năm chỉ  phải chi ra một lượng tiền nhỏ để  đóng phí bảo hiểm,  

khơng ảnh hưởng đến đời sống của mình. Đối với các DN thì phí bảo hiểm là một chi phí xã hội  

cần thiết nó được hạch tốn vào giá thành sản phẩm. 

Hình thức dự trữ bảo hiểm này sẽ đáp ứng một cách đầy đủ, linh hoạt nhất đối với mọi nhu 

cầu đa dạng của các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế. Nó có khả  năng thanh tốn nhanh, bù đắp  

lớn giúp cho người tham gia bảo hiểm khắc phục nhanh chóng những thiệt hại, đảm bảo cho q  

trình sản xuất và đời sống phát triển bình thường

 Dưới góc độ kinh tế tài chính thì bảo hiểm đó là sự bảo đảm về mặt tài chính khi gặp phải  

những thiệt hại, mất mát  do biến cố rủi ro gây ra cho các chủ thể tham gia lập quỹ baỏ hiểm. 

 Cùng với sự phát triển của xã hội lồi người thì nhu cầu bảo đảm ổn định sản xuất và đời 

sống ngày càng cao ­ các loại bảo hiểm khác nhau đã ra đời để đáp ứng nhu cầu đó.  

Người ta ví “khơng có bảo hiểm như  đi trên cầu thang khơng có tay vịn”. Bảo hiểm là một  

yếu tố, một u cầu khơng thể thiếu đối với mỗi cá nhân, gia đình, tổ chức và khơng chỉ đơn thuần 

làm lá chắn bảo vệ cho đối tượng tham gia mà rộng hơn nó đảm bảo cho sự ổn định và phát triển 

cả nền kinh tế cho cả xã hội. 

Khi nền kinh tế  càng phát triển, nhu cầu bảo hiểm ngày càng đòi hỏi đa dạng (do rủi ro  

khách quan là khơng thể loại trừ, chỉ có thể hạn chế ở mức độ nào đó, thậm chí có nhiều hiểm hoạ 

rủi ro mới xuất hiện... người dân có thu nhập ngày càng cao, nhu cầu cần được bảo vệ  một cách  

chủ  động càng lớn... từ  nhu cầu đó, nhiều hình thức bảo hiểm khác nhau ra đời­ trong đó có loại 

hình  bảo hiểm mang tính kinh doanh. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm khơng ngừng phát triển và  

trở  thành một ngành, lĩnh vực kinh doanh đặc biệt, thu lợi nhuận cao cho các chủ  thể  kinh doanh.  

Hai mục đích đó vừa là tiền đề, vừa là điều kiện để hoạt động bảo hiểm tồn tại và phát triển. 

Do tính chất đa dạng của các loại rủi ro xâm hại đến lợi ích của nhiều chủ thể đòi hỏi phải  

có nhiều loại hình bảo hiểm:

­  Căn cứ  vào đối tượng bảo hiểm có bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người, bảo hiểm  

TNDS; 

­ Căn cứ vào tính chất pháp lý trong bảo hiểm có bảo hiểm bắt buộc bảo hiểm tự nguyện; 

* Căn cứ vào tính chất, phương thức và mục đích sử dụng các loại quỹ bảo hiểm tập trung  

mang tính cộng đồng, người ta chia bảo hiểm thành hai loại bảo hiểm mang tính kinh doanh và bảo  

hiểm phi kinh doanh: 



3



 Bảo hiểm khơng mang tính kinh doanh là loại hình bảo hiểm do nhà nước thực hiện nhằm  

thực hiện chính sách kinh tế xã hội. Nó đặt dưới sự bảo trợ của nhà nước, mục đích của hoạt động 

bảo hiểm này khơng đặt ra mục tiêu kinh doanh lấy lợi nhuận. Loại hình bảo hiểm phi kinh doanh  

ở nước ta hiện nay là bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi … 

 Bảo hiểm có tính kinh doanh là hoạt động bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện  

thơng qua việc lập quỹ bảo hiểm từ nguồn thu phí bảo hiểm của các tổ chức, cá nhân tham gia, sau 

đó quỹ này được sử dụng để bồi thường, chi trả cho các trường hợp thuộc diện được bảo hiểm khi 

có sự kiện bảo hiểm. 

Nếu so sánh giữa bảo hiểm khơng mang tính kinh doanh mà điển hình là bảo hiểm xã hội với 

loại hình kinh doanh bảo hiểm thì giữa chúng có những điểm giống nhau đó là: chúng đều có mục  

đích giúp ổn định kinh tế, đảm bảo đời sống, khắc phục khó khăn do ngun nhân khách quan gây  

ra. Người tham gia đều có trách nhiệm đóng phí bảo hiểm. Bên cạnh đó, chúng có điểm khác nhau 

cơ bản sau: 

Nội dung  Bảo hiểm xã hội (một loại hình bảo 



Kinh doanh bảo hiểm



ph hiểm khơng mang tính kinh doanh)

ân 

bi

ệt

Bản chất



Là một chính sách thuộc lĩnh vực đảm    Là một dịch vụ  tài chính xuất phát từ 

bảo xã hội của một nhà nước 



nhu cầu được bảo vệ, ngồi sự đảm bảo 



chung của xã hội 

Đối tượng  Là người lao động, người làm cơng, ăn  Con người, tài sản, trách nhiệm dân sự 

bảo hiểm

Phạm vi



lương

Trong giới hạn một quốc gia



bảo hiểm

Nguồn 



hiểm ). 

Chủ   yếu   huy   động   sự   đóng   góp   của  Được tạo lập từ  sự  đóng góp phí của tổ 



hình thành 



người   lao   động,người   sử   dụng   lao  chức,   cá   nhân   có   nhu   cầu   được   bảo 



quỹ



động  và  có  thể   một  phần  trợ  cấp từ  hiểm. 



bảo hiểm

Mục đích



ngân sách. 

Để  trợ  cấp cho người lao động khi họ  Chi  bồi   thường   cho  những  tổ   chức,   cá 



sử dụng 



tạm   thời   hay   vĩnh   viễn   mất   sức   lao  nhân tham gia gặp rủi ro thuộc phạm vi  



quỹ



động. 



Mục tiêu



Khơng   vì   lợi   nhuận   mà   vì   quyền   lợi  Nhằm mục tiêu kinh doanh lấy lợi nhuận 



hoạt động



của   người   Lao  động   và   của   cả   cộng 



Vượt ra ngoài phạm vi quốc gia(Tái bảo 



trách nhiệm bảo hiểm. 



4



chủ thể  



đồng. 

 Do cơ quan nhà nước quản lý theo quy   Doanh nghiệp bảo hiểm  



QL  quỹ 



chế chung thống nhất. 



BH

Luật điều 



Bộ   luật   lao   động   và   VBPL   về   bảo  Luật kinh doanh bảo hiểm



chỉnh



hiểm xã hội khác

2/ Khái niệm chung về kinh doanh bảo hiểm 

Tại Điều 3, Luật kinh doanh BH năm 2000: “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh  



nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lời, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của  

người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm  

trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho ng ươì được bảo hiểm khi xảy ra sự  

kiện bảo hiểm”. 

Một số khái niệm được sử dụng trong định nghĩa trên được pháp luật giải thích như sau: 

­ Bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo  

hiểm và đóng phí bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có thể là đồng thời là người được bảo hiểm hoặc  

người thụ hưởng. 

­ Người được bảo hiểm là tổ  chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng được  

bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm. Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ hưởng. 

­ Người thụ hưởng bảo hiểm là tổ  chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định để  nhận 

tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con người.

­Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định mà 

khi có sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng  

hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm. 

­ Phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên bảo hiểm phải đóng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo 

hiểm theo thời hạn bảo hiểm và phương thức do các bên thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm. 

Theo nghĩa rộng kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm tất cả những hoạt động của các chủ thể 

kinh doanh trên thị  trường bảo hiểm có mục đích sinh lời gồm: H oạt động kinh doanh bảo hiểm,  

hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm, hoạt động mơi giới bảo hiểm và hoạt động đại lý bảo hiểm.

 *Đặc điểm của kinh doanh bảo hiểm:

­  Chủ  thể  thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm là doanh nghiệp bảo hiểm. Doanh  

nghiệp bảo hiểm đứng ra lập quỹ  bảo hiểm từ  nguồn thu phí bảo hiểm của người tham gia bảo  

hiểm, quản lý sử  dụng quỹ  bảo hiểm để  chi trả  hoặc bồi thường bảo hiểm cho người được bảo 

hiểm hoặc người thụ  hưởng khi có sự  kiện bảo hiểm. Mặc dù kinh doanh bảo hiểm là một quan  

hệ được thiết lập trên cơ sở hợp đồng giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên tham gia bảo hiểm. Tuy  



5



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM – PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×