Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nội dung phân biệt

Nội dung phân biệt

Tải bản đầy đủ - 0trang

chủ thể  



đồng. 

 Do cơ quan nhà nước quản lý theo quy   Doanh nghiệp bảo hiểm  



QL  quỹ 



chế chung thống nhất. 



BH

Luật điều 



Bộ   luật   lao   động   và   VBPL   về   bảo  Luật kinh doanh bảo hiểm



chỉnh



hiểm xã hội khác

2/ Khái niệm chung về kinh doanh bảo hiểm 

Tại Điều 3, Luật kinh doanh BH năm 2000: “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh  



nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lời, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của  

người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm  

trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho ng ươì được bảo hiểm khi xảy ra sự  

kiện bảo hiểm”. 

Một số khái niệm được sử dụng trong định nghĩa trên được pháp luật giải thích như sau: 

­ Bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo  

hiểm và đóng phí bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có thể là đồng thời là người được bảo hiểm hoặc  

người thụ hưởng. 

­ Người được bảo hiểm là tổ  chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng được  

bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm. Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ hưởng. 

­ Người thụ hưởng bảo hiểm là tổ  chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định để  nhận 

tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con người.

­Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định mà 

khi có sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng  

hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm. 

­ Phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên bảo hiểm phải đóng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo 

hiểm theo thời hạn bảo hiểm và phương thức do các bên thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm. 

Theo nghĩa rộng kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm tất cả những hoạt động của các chủ thể 

kinh doanh trên thị  trường bảo hiểm có mục đích sinh lời gồm: H oạt động kinh doanh bảo hiểm,  

hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm, hoạt động mơi giới bảo hiểm và hoạt động đại lý bảo hiểm.

 *Đặc điểm của kinh doanh bảo hiểm:

­  Chủ  thể  thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm là doanh nghiệp bảo hiểm. Doanh  

nghiệp bảo hiểm đứng ra lập quỹ  bảo hiểm từ  nguồn thu phí bảo hiểm của người tham gia bảo  

hiểm, quản lý sử  dụng quỹ  bảo hiểm để  chi trả  hoặc bồi thường bảo hiểm cho người được bảo 

hiểm hoặc người thụ  hưởng khi có sự  kiện bảo hiểm. Mặc dù kinh doanh bảo hiểm là một quan  

hệ được thiết lập trên cơ sở hợp đồng giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên tham gia bảo hiểm. Tuy  



5



nhiên để thiết lập được quan hệ hợp đồng bảo hiểm ngồi việc các bên trực tiếp thiết lập quan hệ 

còn có các chủ thể khác tham gia để giúp cho các bên thiết lập được quan hệ bảo hiểm gốc là đại  

lý bảo hiểm, doanh nghiệp mơi giới bảo hiểm. Trong kinh doanh bảo hiểm ngồi mối quan hệ giữa  

doanh nghiệp bảo hiểm với người mua bảo hiểm còn có các quan hệ bảo hiểm phái sinh là quan hệ 

kinh doanh tái bảo hiểm. 

­ Hoạt động kinh doanh bảo hiểm ln nhằm mục đích thu lợi nhuận. Thu nhập được tạo ra  

từ phần chênh lệch giữa số phí thu được với các nghĩa vụ  trả  tiền bảo hiểm hoặc bồi thường cho  

người được bảo hiểm và số lãi thu được từ  hoạt động đầu tư  tài chính từ  nguồn phí thu được còn 

nhàn rỗi.

­ Đối tượng kinh doanh bảo hiểm là sản phẩm đặc biệt một lời cam kết gắn liền với yếu tố 

rủi ro. Xét về  tính chất kinh doanh thì kinh doanh bảo hiểm thuộc loại hình kinh doanh dịch vụ 

“Dịch vụ  tài chính”.  Sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vơ hình­ là sự  bảo đảm về  mặt tài chính  

trước rủi ro cho người được bảo hiểm và kèm theo các dịch vụ  có liên quan. Người tham gia bảo 

hiểm nộp phí cho nhà bảo hiểm để đổi lấy lời hứa hay cam kết là sẽ  trả  tiền bảo hiểm khi có sự 

kiện bảo hiểm xảy ra. 

­ Chu trình kinh doanh bảo hiểm là một chu trình đảo ngược­ sản phẩm bảo hiểm được bán  

ra trước ­doanh thu phát sinh, sau đó mới phát sinh chi phí ­ Đặc điểm này tạo ra tính nhàn rỗi của  

nguồn vốn bảo hiểm trong những thời gian nhất định, Chủ  thể  nhận bảo hiểm có thể  sử  dụng  

chúng để đầu tư sinh lời nhằm tăng khả năng tài chính cho chi trả bồi thường và tăng thu nhập cho  

doanh nghiệp. Bởi vậy, đầu tư  tài chính là một hoạt động khơng thể  tách rời với hoat động bảo 

hiểm. Điều này nó làm cho bảo hiểm có tính phức tạp và ảnh hưởng đến khả năng thanh tốn của  

doanh nghiệp bảo hiểm đòi hỏi phải được quản lý chặt chẽ nhằm bảo đảm lợi ích cho người tham  

gia.

­ Bảo hiểm vừa mang tính bồi hồn vừa khơng mang tính bồi hồn: Trong thơì gian bảo  

hiểm, khơng có sự kiện bảo hiểm xảy ra thì  DN bảo hiểm khơng phải trả tiền hay bồi thường bảo  

hiểm. Nếu có sự kiện bảo hiểm xảy ra thì DNBH phải trả tiền hoặc bồi thường bảo hiểm. 

Do tính bất ngờ của rủi ro bảo hiểm cả khơng gian, thời gian và quy mơ nên DNBH phải xây 

dựng các quỹ  dự  phòng để  thực hiện cam kết của mình trước bên tham gia bảo hiểm; Quỹ  này 

được sử dụng để tham gia đầu tư tuy nhiên bảo đảm tính thanh khoản cao; 

Số tiền bồi thường bảo hiểm trong một hợp đồng nếu có thường rất lớn, lớn hơn nhiều lần  

số phí mà người tham gia bảo hiểm đã đóng. (Do lợi ích các bên có xung đột trực diện thường xảy  

ra tranh chấp trong thực hiện hợp đồng). Vì thế có thể dẫn đến các trường hợp trục lợi bảo hiểm.  

DN bảo hiểm muốn bảo đảm và ổn định nguồn tài chính cho việc bù đắp tổn thất trong hoạt động  



6



bảo hiểm thì phải thực hiện tốt ngun tắc lấy số  đơng bù cho số  ít; Trong trường hợp có hợp  

đồng có giá trị lớn hoặc đối tượng bảo hiểm có nguy cơ dẫn đến rủi ro cao thì DN bảo hiểm phải  

thực các biện pháp phân tán rủi ro như đồng bảo hiểm, tái bảo hiểm; mặt khác để giảm bớt chi phí 

bồi thường các DNBH phải tăng cường các biện pháp đề  phòng, ngăn ngừa và hạn chế  tổn thất 

bảo hiểm. 

­ Hoạt động kinh doanh bảo hiểm được điều chỉnh bằng luật kinh doanh bảo hiểm và các  

văn bản pháp luật khác có liên quan; 

­ Hoạt động kinh doanh bảo hiểm là hoạt động kinh doanh có điều kiện đặt dưới sự quản lý  

nhà nước của Bộ Tài chính.

II. Khái niệm  chung về pháp luật kinh doanh bảo hiểm. 

2.1. Sự cần thiết điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm. 

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm đóng vai trò  quan trọng đối với nền kinh tế và đời sống xã  

hội. 

­ Bảo hiểm đóng vai trò là cơng cụ góp phần ổn định các hoạt động kinh tế xã hội đời sống 

của dân cư, thúc đẩy q trình tích tụ vốn trong xã hội.

Để tránh thất thốt cho tài sản các pháp nhân, thể nhân có thể tham gia bảo hiểm cho tài sản 

của mình và nếu gặp rủi ro thì thiệt hạn sẽ được bù đắp bằng tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo 

hiểm chi trả. Đồng thời, cũng chính nhờ tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm trả cho các pháp  

nhân, thể  nhân có thể  duy trì được hoạt động bình thường,  ổn định đời sống khi gặp rủi ro. Mặt  

khác an tồn về  tính mạng, sức khoẻ là vấn đề  được cá nhân, cộng đồng và Nhà nước quan tâm.  

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm đóng vai trò tích cực trong việc bù đắp vật chất trong các tổ chức,  

cá nhân tham gia bảo hiểm, nó trở thành một trong những phương tiện bảo vệ con người. 

Ngồi ra, việc tham gia bảo hiểm có tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy người tham gia  

bảo hiểm áp dụng các biện pháp phòng tránh rủi ro và giảm bớt các hậu quả  của rủi ro. Bởi vì, 

phòng tránh và giảm bớt hậu quả của rủi ro là nghĩa vụ  của người tham gia bảo hiểm được pháp  

luật ghi nhận và thường được các bên tham gia hợp đồng bảo hiểm ghi thành các điều khoản hợp  

đồng. Do mối quan hệ  ràng buộc như  vậy giữa người tham gia bảo hiểm với doanh nghiệp bảo  

hiểm nên hoạt động kinh doanh bảo hiểm có vai trò tích cực trong việc bảo đảm an tồn cho đời 

sống cộng đồng và cho nền kinh tế. 

Trong điều kiện nền kinh tế  thị  trường, bảo hiểm càng chứng minh có vai trò là cơng cụ 

động viên, tập trung vốn cho nền kinh tế. Bởi vì, nhiều tổ chức, cá nhân đơn lẻ đóng phí bảo hiểm  

tạo nên quỹ bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm và trong thời gian chưa sử dụng, quỹ bảo hiểm  

được doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng để tham gia các hình thức đầu tư. 



7



Thứ  hai, hoạt động kinh doanh bảo hiểm là hoạt động đặc thù phức tạp ­ kinh doanh trên  

những rủi ro, có xung đột lợi ích trực tiếp, dễ bị lợi dụng, khó quản lý giám sát, cần có pháp luật  

điều chỉnh để bảo vệ  lợi ích của các chủ  tthể  tham gia trong những điều kiện khả  thi.  Ngồi ra,  

trong một số trường hợp bảo hiểm liên quan đến chủ thể thứ ba.

 



Ví dụ: Theo chế độ bảo hiểm trách nhiệm dân sự  của chủ phương tiện tham gia giao thơng  



cơ giới đối với người thứ  ba thì người mua phí bảo hiểm là chủ  phương tiện tham gia giao thơng 

cơ giới còn người được hưởng tiền bảo hiểm là người thứ  ba bị  thiệt hại. Do đó việc ký kết hợp 

đồng bảo hiểm giữa chủ phương tiện và doanh nghiệp bảo hiểm là nhằm bảo vệ lợi ích cho người 

thứ ba. 

Thứ  ba, pháp luật là cơng cụ  bảo đảm cho các hoạt động của các chủ  thể  tham gia bảo  

hiểm thương mại phù hợp với lợi ích của Nhà nước và xã hội 

Do bản chất và chức năng của nó mà pháp luật đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động  

kinh doanh bảo hiểm. Nếu thiếu sự điều chỉnh của pháp luật thì hoạt động kinh doanh bảo hiểm 

khơng thể  tiến hành thuật lợi và nghĩa vụ  của các bên tham ra quan hệ  bảo hiểm sẽ khơng được  

bảo đảm thực hiện trong những trật tự phù hợp với lợi ích của Nhà nước và cộng đồng. 

2.2. Khái niệm pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.

Dưới góc độ luật thực định pháp luật về kinh doanh bảo hiểm là tập hợp các qui phạm pháp 

luật điều chỉnh các quan hệ  xã hội phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Các qui phạm 

pháp luật này có thể phân chia làm hai nhóm sau:

Nhóm thứ nhất: Các qui phạm pháp luật qui định về  tổ  chức và hoạt động của các chủ  thể 

thực hiện hoạt động kinh doanh trong thị  trường bảo hiểm như: doanh nghiệp bảo hiểm, doanh  

nghiệp mơi giới bảo hiểm, đại lý bảo hiểm… Loại qui phạm pháp luật này chứa ở các loại nguồn 

như: Luật kinh doanh bảo hiểm, các Luật về doanh nghiệp, thương mại, đầu tư

Nhóm thứ hai: Các qui phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ thu, nộp phí bảo hiểm và trả tiền 

bảo hiểm giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm. Các qui phạm pháp luật loại  

này chứa chủ yếu ở Luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành. 

Nếu phân chia theo các quy định trong luật thực định thì pháp luật kinh doanh bảo hiểm được  

chia thành các bộ phận sau: 

* Pháp luật về tổ chức và hoạt động của các chủ thể kinh doanh bảo hiểm 

­



Doanh nghiệp bảo hiểm 



­



Doanh nghiệp mơi giới bảo hiểm 



­



Đại lý bảo hiểm 



* Pháp luật về hợp đồng bảo hiểm; Bao gồm tất cả quy định chung về hợp đồng bảo hiểm 



8



* Pháp luật về chế độ bảo hiểm cụ thể 

­



PL về bảo hiểm con người 



­



Pl về bảo hiểm tài sản 



­



PL về bảo hiểm trách nhiệm dân sự 



2.3. Các ngun tắc pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm.

Tại điều 6 Luật kinh doanh bảo hiểm và tại Điều 3 Nghị định 45/2007/NĐ­ CP ngày 27 tháng 

03 năm 2007  có quy định các ngun tắc cơ bản trong kinh doanh bảo hiểm gồm: 

Thứ nhất, Tổ chức, cá nhân muốn hoạt động kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm,  

hoạt động mơi giới bảo hiểm tại Việt Nam phải được Bộ  Tài chính cấp giấy phép thành lập và  

hoạt động theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm.

Kinh doanh bảo hiểm là ngành lĩnh vực kinh doanh có điều kiện nên phải được cơ  quan có  

thẩm quyền cấp phép ....

Thứ hai, tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm có quyền lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm  

và chỉ  được tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm được phép hoạt động tại Việt Nam. 

Khơng một tổ  chức, cá nhân nào được phép can thiệp trái pháp luật đến quyền lựa chọn doanh  

nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp mơi giới bảo hiểm của bên mua bảo hiểm.

Việc đặt ra ngun tắc này nhằm bảo vệ  lợi ích quốc gia, tạo điều kiện cho sự  phát triển 

lành mạnh và lâu dài của thị trường bảo hiểm Việt Nam, đồng thời bảo đảm sự  quản lý chặt chẽ 

của Nhà nước và phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành và tập qn quốc tế. Tuy nhiên  

do thực trạng phát triển của thị trường bảo hiểm ở Việt Nam chưa đáp ứng được hết nhu cầu bảo  

hiểm của xã hội, pháp luật quy định:  Tổ  chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm có thể  tham gia bảo 

hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm khơng có trụ  sở ở Việt Nam trong những trường hợp: Các doanh 

nghiệp bảo hiểm hoạt động ở Việt Nam chưa cung cấp được loại sản phẩm bảo hiểm mà tổ chức,  

cá nhân có nhu cầu tham gia bảo hiểm hoặc theo quy định của các điều ước quốc tế mà Chính phủ 

Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. Hợp đồng bảo hiểm được giao kết giữa các tổ  chức, cá nhân  

Việt Nam với doanh nghiệp bảo hiểm khơng có trụ sở ở Việt Nam trái với các quy định trên đều bị 

coi là vơ hiệu.

Thứ  ba, Doanh nghiệp bảo hiểm phải duy trì khả  năng tài chính phù hợp với quy mơ kinh  

doanh của mình để bảo vệ quyền lợi của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm. 

Với tính chất là hoạt động kinh doanh rủi ro và mang tính xã hội hố cao, với vai trò quan  

trọng của kinh doanh bảo hiểm đối với nền kinh tế  và sự   ổn định của đời sống xã hội việc bảo  

đảm khả  năng tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm để  bảo đảm quyền lợi cho các tổ  chức, cá 

nhân tham gia bảo hiểm là rất quan trọng, bởi nó khơng chỉ tạo uy tín tạo ra khả năng kinh doanh có  



9



hiệu quả  cho doanh nghiệp bảo hiểm mà nó còn có ý nghĩa kinh tế  xã hội lớn. Với việc quy định  

nguyên tắc chung cơ  bản này trong Luật kinh doanh bảo hiểm, để  trên cơ  sở  đó các cơ  quan nhà 

nước có thẩm quyền sẽ  ban hành các quy định cụ  thể, chi tiết về  chế  độ  tài chính đối với doanh 

nghiệp bảo hiểm. 

u cầu của ngun tắc này đòi hỏi doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ các quy định như: 

­Phải ký quỹ  tại một ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam. Số tiền ký quỹ  là một 

phần của vốn điều lệ  và nó là một trong các điều kiện để  khai trương hoạt động. Các doanh  

nghiệp bảo hiểm được hưởng lãi tiền gửi kỳ hạn 1 năm trên số tiền ký quỹ, tiền ký quỹ  chỉ  được 

sử dụng khi có ý kiến của Bộ Tài chính bằng văn bản nhằm đáp ứng khả năng thanh tốn bị  thiếu  

hụt tạm thời. Doanh nghiệp bảo hiểm được rút tồn bộ tiền ký quỹ khi chấm dứt hoạt động. 

­ Phải thường xun trích lập và duy trì đủ  khoản dự  phòng nghiệp vụ  để  thực hiện các  

trách nhiệm phát sinh từ  hợp đồng bảo hiểm. Dự  phòng nghiệp vụ  là khoản dự  trữ  liên quan đến  

từng nghiệp vụ  bảo hiểm được trích lập và hoạch tốn vào chi phí kinh doanh nhằm mục đích 

thanh tốn các trách nhiệm đã được xác định trước và phát sinh từ  hợp đồng đã được ký kết. Dự 

phòng nghiệp vụ phải được lập riêng cho từng nghiệp vụ gồm: 

Dự phòng chi cho các trách nhiệm chưa hồn thành; 

Dự phòng bồi thường cho các kiếu nại chưa giải quyết; 

Dự phòng bồi thường cho các dao động lớn về tổn thất. 

­ Phải duy trì khả năng thanh tốn tối thiểu tương ứng với qui mơ hoạt động kinh doanh và  

khơng thấp hơn giới hạn khả  năng thanh tốn trong suốt q trình hoạt động. Một doanh nghiệp  

bảo hiểm được coi là đủ  khả  năng thanh tốn khi tổng các nguồn vốn sau hoặc = mức khả  năng 

thanh tốn: Vốn điều lệ đã đóng; quỹ dự trữ bắt buộc; lãi các năm trước chưa sử dụng. 

Trong trường hợp tái bảo hiểm ở nước ngồi, doanh nghiệp bảo hiểm phải tái bảo hiểm một phần  

rủi ro của hợp đồng bảo hiểm đã ký cho doanh nghiệp tái bảo hiểm do chính phủ  chỉ  định. Xuất  

phát từ  sự  cần thiết hạn chế  tình trạng chảy máu ngoại tệ  thơng qua việc tái bảo hiểm cho các  

cơng ty nước ngồi, tạo điều kiện duy trì mối quan hệ chặt chẽ giữa doanh nghiệp bảo hiểm gốc  

và doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm. Thơng qua cơng cụ  tái bảo hiểm bắt buộc, Nhà nước có thể 

kiểm sốt tình hình hoạt động và tình trạng tài chính cũng như  khả  năng thanh tốn của các doanh  

nghiệp bảo hiểm việt nam, bảo vệ quyền của người tham gia bảo hiểm. 

CHƯƠNG II

PL TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CHỦ THỂ KINH DOANH BẢO HIỂM.



10



Các chủ  thể  thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm bao gồm: Doanh nghiệp bảo hiểm;  

doanh nghiệp mơi giới bảo hiểm; Đại lý bảo hiểm. 

1. Doanh nghiệp bảo hiểm 

1.1.. Khái niệm. 

 Theo pháp luật hiện hành thì khái niệm “Doanh nghiệp bảo hiểm” được hiểu như sau:

  Doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ  chức và hoạt động theo quy  

định của Luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật có liên quan để  kinh doanh  

bảo hiểm, tái bảo hiểm1. 

Với tư  cách là doanh nghiệp, nó có đầy đủ  các đặc điểm của doanh nghiệp nói chung. Tuy  

nhiên doanh nghiệp bảo hiểm còn có đặc điểm đặc thù giúp chúng ta nhận biết nó với các loại  

doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực khác. 

Thứ nhất, doanh nghiệp bảo hiểm có hoạt động kinh doanh chính, chủ yếu thường xun và  

mang tính nghề nghiệp là kinh doanh bảo hiểm, một lĩnh vực, ngành nghề đặc biệt. Tính chất đặc  

biệt của kinh doanh bảo hiểm thể hiện  ở chỗ: Nó là loại dịch vụ tài chính đặc biệt,  là hoạt động 

kinh doanh trên những rủi ro. Sản phẩm của bảo hiểm là sản phẩm vơ hình, nó là sự bảo đảm về 

mặt tài chính trước rủi ro cho người được bảo hiểm kèm theo là các dịch vụ có liên quan. Rủi ro là  

cơ sở của hoạt động bảo hiểm, là nguồn gốc phát sinh các hoạt động bảo hiểm. Để  bảo vệ mình, 

người tham gia bảo hiểm nộp phí cho doanh nghiệp bảo hiểm,  để  đổi lấy lời hứa của doanh  

nghiệp bảo hiểm là sẽ trả tiền bảo hiểm khi có rủi ro xảy ra. Như vậy ở đây chỉ có cam kết từ hai  

phía doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, trong đó người tham gia bảo hiểm phải  

cam kết nộp phí, còn doanh nghiệp bảo hiểm lúc đó trở  thành con nợ  của những người tham gia  

bảo hiểm, cam kết sẽ bồi thường hay trả tiền bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra. 

Chu trình kinh doanh bảo hiểm là chu trình đảo ngược, tức là sản phẩm được bán ra trước, 

doanh thu được thực hiện, sau đó mới phát sinh chi phí. Các doanh nghiệp bảo hiểm nhận phí bảo  

hiểm trước của người tham gia bảo hiểm đóng góp và thực hiện nghĩa vụ  sau với bên được bảo 

hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm thực tế. Đặc tính này tạo ra tính nhàn rỗi của nguồn vốn bảo  

hiểm trong những thời gian nhất định, nó cho phép các doanh nghiệp bảo hiểm có thể  sử  dụng 

chúng để đầu tư sinh lời nhằm tăng khả năng tài chính cho bồi thường và trả tiền bảo hiểm và tăng  

thu nhập cho doanh nghiệp bảo hiểm. Trong thời gian bảo hiểm nếu khơng có rủi ro xảy ra, thì  

doanh nghiệp bảo hiểm khơng phải bồi thường hay trả  tiền bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm. 

Ngược lại, xảy ra rủi ro, đối tượng bảo hiểm bị  thiệt hại thì bên mua bảo hiểm sẽ  được bồi  

thường hay được trả tiền bảo hiểm. Như vậy quan hệ giữa người mua bảo hiểm và doanh nghiệp 

1



khoản 5 điều 3 luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000.



11



bảo hiểm trên thị  trường bảo hiểm vừa mang tính bồi hồn vừa khơng mang tính bồi hồn. Đặc  

điểm này đã tạo ra tiền đề khách quan cho tính thương mại của hoạt động bảo hiểm. Nghĩa là, khi 

khơng xảy ra rủi ro bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm khơng phải bồi hồn và phí bảo hiểm sẽ 

tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp bảo hiểm. Khác với khả  năng bồi hồn của các khâu tài chính  

khác, bồi hồn trong kinh doanh bảo hiểm có tính bất ngờ cả về thời gian, khơng gian cũng như quy  

mơ. Chính vì vậy, trong q trình hoạt động doanh nghiệp bảo hiểm phải xây dựng các quỹ  dự 

phòng để  bảo đảm các cam kết của mình trước những người tham gia bảo hiểm khi có các sự  cố 

bảo hiểm xảy ra. Các quỹ  này là nguồn quan trọng để  tham gia đầu tư  nhằm tăng khả  năng tài  

chính của doanh nghiệp bảo hiểm nhưng phải đảm bảo ngun tắc tính an tồn, tính sinh lời, và  

tính thanh khoản của các khoản vốn đầu tư. Thơng thường thì tính bồi thường tổn thất thực tế cho 

người được bảo hiểm trong một hợp đồng bảo hiểm thường rất lớn, lớn gấp nhiều lần so với số 

phí bảo hiểm đã đóng. Vì thế, để  đảm bảo và  ổn định nguồn tài chính cho việc bù đắp tổn thất, 

trong hoạt động bảo hiểm phải áp dụng ngun tắc lấy số  đơng bù số  ít, tức là phải cung cấp  

nhiều sản phẩm bảo hiểm cho nhiều loại khách hàng, trên nhiều vùng thị  trường khác nhau… để 

lấy phí bảo hiểm đóng góp từ nhiều người nhằm bù đắp cho một số ít người gặp rủi ro. Trên thực  

tế, đối với những hợp đồng có giá trị  lớn hoặc trường hợp có khả  năng doanh nghiệp bảo hiểm  

phải bồi thường cho nhiều người được bảo hiểm trong cùng một sự cố, để  giảm bớt trách nhiệm  

tài chính đối với rủi ro bảo hiểm doanh nghiệp bảo hiểm thường phải thực hiện nghiệp vụ tái bảo 

hiểm hoặc đồng bảo hiểm. Mặt khác, để  giảm bớt chi phí bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm  

phải tăng cường giám sát các biện pháp phòng ngừa hạn chế tổn thất bảo hiểm.   

Thứ hai, Doanh nghiệp bảo hiểm được tổ chức thành lập và hoạt động theo các qui định của 

Luật kinh doanh bảo hiểm và các qui định khác của pháp luật. Xuất phát từ  tính chất đặc thù của 

hoạt động kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm được coi là một tổ chức kinh doanh ngành  

nghề đặc biệt, nên pháp luật phải có những qui định riêng áp dụng cho doanh nghiệp bảo hiểm, đó  

là Luật kinh doanh bảo hiểm. Trong việc tổ chức thành lập và hoạt động của mình doanh nghiệp  

bảo hiểm phải tn theo Luật kinh doanh bảo hiểm. 

Tuy nhiên, bên cạnh việc áp dụng các qui  định trong Luật kinh doanh bảo hiểm,  doanh  

nghiệp bảo hiểm còn phải tn thủ  theo các qui định khác của pháp luật trong hệ  thống pháp luật 

Việt Nam ­ nếu như  vấn đề  nào đó Luật kinh doanh bảo hiểm khơng quy định, khơng điều chỉnh  

trực tiếp …Chẳng hạn doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước thì việc tổ  chức và hoạt động của doanh 

nghiệp phải tn theo các qui định trong Luật kinh doanh bảo hiểm đồng thời còn phải tn thủ các  

qui định dành riêng cho doanh nghiệp nhà nước trong các văn bản như Luật doanh nghiệp nhà nước 





12



Thứ  ba,  Doanh nghiệp bảo hiểm chịu sự  quản lý trực tiếp của Bộ  Tài Chính. Để  quản lý 

hoạt động kinh doanh bảo hiểm hầu hết các quốc gia trên thế giới đều giao cho một cơ quan quản 

lý nhà nước nhất định. Một số nước ở Châu á như Singapor, Philipin, cơ quan quản lý nhà nước về 

hoạt động kinh doanh bảo hiểm có tên gọi là Uỷ ban giám sát bảo hiểm. Các nước khác như  Anh, 

Nhật Bản, cơ quan này là một phòng trực thuộc vụ quản lý các ngân hàng. 

ở  Việt Nam, cơng tác quản lý nhà nước về  hoạt động bảo hiểm được Chính phủ  giao cho  

Bộ Tài chính thống nhất lãnh đạo và quản lý cơng tác bảo hiểm. Trước đây do tính độc quyền trong 

kinh doanh bảo hiểm, lúc đó Bộ tài chính đã giao cho Bảo Việt thực hiện hai chức năng quản lý và  

trực tiếp kinh doanh bảo hiểm. Sau khi đất nước ta chuyển đổi sang kinh tế  thị  trường thì để  đáp 

ứng u cầu quản lý trong cơ chế kinh tế này, ngày 15 tháng 5 năm 1992 Bộ trưởng Bộ tài chính đã 

ra quyết định số 223TC/ QĐ­ BTC thành lập phòng quản lý bảo hiểm trực thuộc vụ tài chính ngân  

hàng và tổ chức tài chính, Như vậy, bằng qui định trên Bộ Tài Chính đã tách chức năng quản lý và 

chức năng kinh doanh bảo hiểm của Bảo Việt. Từ thời điểm đó cho đến nay Bộ  Tài chính là cơ 

quan của Chính phủ trực tiếp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo  

hiểm. Điều này đã được Luật kinh doanh bảo hiểm qui định cụ thể: “Bộ Tài chính chịu trách nhiệm 

trước Chính Phủ thực hiện quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm “(Khoản 2, Điều 121)

Đây là đặc điểm giúp ta phân biệt doanh nghiệp bảo hiểm với doanh nghiệp khác trong nền  

kinh tế. Bởi vì, trong khi các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực ngành nghề  khác chịu sự 

quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước khác như các tổ chức tín dụng chịu sự quản lý nhà nước 

trực tiếp của Ngân hàng nhà nước, các doanh nghiệp kinh doanh chứng khốn chịu sự  quản lý nhà 

nước của Uỷ ban chứng khốn nhà nước …

1.2. Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm.

Trước đây, trong cơ  chế  kế  hoạch hố tập trung lĩnh vực bảo hiểm rủi ro là lĩnh vực độc 

quyền của nhà nước (gọi tên là bảo hiểm nhà nước). ở  nước ta chỉ duy nhất có Tổng cơng ty bảo  

hiểm Việt Nam (bảo Việt). Cơ quan “Bảo Việt” thực hiện đồng thời cả hai chức năng quản lý nhà  

nước và kinh doanh bảo hiểm rủi ro. Chuyển sang cơ chế kinh tế mới – c ơ chế kinh t ế thị tr ường,  

Nhà nước khơng còn giữ  độc quyền trong lĩnh vực bảo hiểm rủi ro mà cho phép các thành phần 

kinh kế được tham gia kinh doanh bảo hiểm­. Nhà nước có phân định rạch ròi giữa chức năng quản  

lý và chức năng kinh doanh trong bảo hiểm rủi ro ­ Thị trường bảo hiểm đã hình thành và phát triển  

cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội. Nhiều loại hình doanh nghiệp bảo hiểm ra đời, sản phẩm  

bảo hiểm phát triển rất đa dạng để  đáp  ứng nhu cầu của xã hội. Vì vậy, việc phân loại các loại 

hình doanh nghiệp bảo hiểm là rất cần thiết. Có nhiều tiêu chí để  phân loại doanh nghiệp bảo 

hiểm, mỗi cách phân loại có ý nghĩa và mục đích riêng. 



13



* Nếu căn cứ vào tính chất sở hữu vốn điều lệ trong doanh nghiệp bảo hiểm thì có các loại  

hình doanh nghiệp bảo hiểm sau: 

­ Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước là một tổ chức kinh doanh bảo hiểm do nhà nước đầu tư 

vốn, thành lập và tổ  chức quản lý, thực hiện kinh doanh bảo hiểm và thực hiện những nhiệm vụ 

nhà nước giao. Bên cạnh việc áp dụng các qui định của Luật kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp  

bảo hiểm nhà nước còn phải tn thủ các qui định trong các văn bản pháp luật dành riêng cho doanh 

nghiệp nhà nước. Trong nền kinh tế  thị  trường định hướng xã hội chủ  nghĩa  ở  nước ta những  

doanh nghiệp nhà nước nói chung và doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước nói riêng đóng vai trò rất  

quan trọng trong nền kinh tế, ln được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, tạo điều kiện khuyến 

khích phát triển để nó trở thành thành phần kinh tế chủ đạo trong những ngành, lĩnh vực then chốt  

của nền kinh tế. 

­ Cơng ty cổ phần bảo hiểm: là loại doanh nghiệp bảo hiểm trong đó các thành viên cùng góp 

vốn để kinh doanh bảo hiểm, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp  

và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của cơng ty trong phạm vi phần vốn góp của mình góp vào 

cơng ty.Thực chất thì cơng ty cổ  phần bảo hiểm là những cơng ty cổ  phần kinh doanh trong lĩnh  

vực bảo hiểm. Việc tổ chức và hoạt động của cơng ty cổ  phần bảo hiểm ln chịu sự  điều chỉnh  

của Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật doanh nghiệp. 

­ Tổ chức bảo hiểm tương hỗ; Tổ chức bảo hiểm tương hỗ là tổ chức có tư cách pháp nhân 

được thành lập để  kinh doanh bảo hiểm nhằm tương trợ, giúp đỡ  lẫn nhau giữa các thành viên. 

Thành viên tổ  chức bảo hiểm tương hỗ  vừa là chủ  sở  hữu vừa là bên mua bảo hiểm”. Theo quy  

định của pháp luật hiện hành,Thành viên tổ  chức bảo hiểm tương hỗ  là Tổ  chức, cơng dân Việt 

Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự  đầy đủ, hoạt động trong cùng một lĩnh vực,  

ngành nghề, có nhu cầu bảo hiểm đều có quyền tham gia thành lập tổ chức bảo hiểm tương hỗ với  

tư  cách là thành viên sáng lập. Chỉ các tổ  chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với tổ  chức  

bảo hiểm tương hỗ mới có thể  trở  thành thành viên của tổ  chức bảo hiểm tương hỗ. Việc thành 

lập, tổ chức và hoạt động của tổ chức bảo hiểm tương hỗ do Chính phủ quy định.

Trên thế  giới, phần lớn các doanh nghiệp bảo hiểm được tổ  chức dưới hình thức cơng ty 

bảo hiểm tương hỗ. Đây là loại hình doanh nghiệp được thành lập nhằm tương trợ, giúp đỡ  lẫn 

nhau giữa các thành viên, mục đích kinh doanh chỉ là thứ yếu. ở Việt Nam, thị trường bảo hiểm mới  

ở giai đoạn đầu của sự  phát triển thì đây là một mơ hình mới, chưa hề  có một tổ  chức bảo hiểm  

tương hỗ nào tồn tại trên thực tế. Việc qui định loại hình doanh nghiệp bảo hiểm này ở  Việt Nam  

hiện nay là cần thiết, phù hợp với tính chất và đặc thù của nền kinh tế  Việt Nam. Bởi vì đối với  

một số lĩnh vực nơng nghiệp, lâm nghiệp, ni trồng, đánh bắt thuỷ sản tại Việt Nam là những lĩnh  



14



vực mà ta có thế  mạnh mà các doanh nghiệp bảo hiểm hiện chưa phục vụ được hoặc hoạt động  

khơng có hiệu quả. nếu chúng ta có doanh nghiệp bảo hiểm tương hỗ  trong những lĩnh vực như 

vậy có nhiều lợi thế. Việc xây dựng và hồn thiện hệ thống các văn bản qui phạm về tổ chức bảo  

hiểm tương hỗ là hết sức cần thiết, tạo điều kiện để loại hình doanh nghiệp này phát triển. 

 Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngồi (gồm doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh; 

Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngồi). Là doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập 

có một phần vốn hoặc 100% vốn điều lệ  của doanh nghiệp bảo hiểm nước ngồi để  kinh doanh 

bảo hiểm tại Việt Nam. Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư  nước ngồi tại Việt Nam là pháp  

nhân Việt Nam hoạt động theo pháp luật Việt Nam. 

­Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh: Là doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập trên cơ  sở 

góp vốn của bên Việt Nam và bên nước ngồi. (Tỷ  lệ  góp vốn của bên Việt Nam trong doanh  

nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp mơi giới bảo hiểm liên doanh khơng được thấp hơn 30% vốn điều  

lệ.)

  Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư  nước ngồi:  Là doanh nghiệp bảo hiểm do tổ 

chức bảo hiểm nước ngồi đầu tư 100% vốn, thành lập tại Việt Nam. Doanh nghiệp này hồn tồn  

do chủ đầu tư là bên nước ngồi sở hữu và kiểm sốt, khơng có sự tham gia của bên Việt Nam.

 Theo pháp luật hiện hành, doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư  nước ngồi khơng bị  hạn 

chế về nội dung, phạm vi hoạt động khi bán sản phẩm bảo hiểm cho các doanh nghiệp có vốn đầu  

tư  nước ngồi, tổ  chức và cá nhân nước ngồi; các doanh nghiệp ngồi quốc doanh; các sản phẩm  

phục vụ cho những chương trình phát triển nơng nghiệp, lâm nghiệp, ngư  nghiệp và bảo hiểm rủi 

ro tài chính, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp. Tuy nhiên, việc mở rộng nội dung, phạm vi hoạt  

động sẽ  được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ  Tài chính, phù hợp với nhu cầu phát triển thị 

trường và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Cụ thể: Trong năm hoạt động 

đầu tiên, doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngồi chỉ được phép mở một chi nhánh ngồi 

trụ  sở chính để  tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Sau 3 năm kể  từ  khi hoạt động, doanh 

nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp mơi giới bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngồi được phép mở thêm 

2 chi nhánh để tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm, mơi giới bảo hiểm. Sau 5 năm kể từ khi 

hoạt động, việc mở thêm chi nhánh của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp mơi giới bảo hiểm 

có vốn đầu tư nước ngồi được thực hiện theo nhu cầu phát triển thị  trường và điều ước quốc tế 

mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. 

* Căn cứ vào nghiệp vụ bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện thì các doanh  

nghiệp bảo hiểm được chia thành hai loại là doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ  và doanh nghiệp  

bảo hiểm phi nhân thọ. 



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nội dung phân biệt

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×