Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
 Mô hình mê lộ chữ thập (EPM)

 Mô hình mê lộ chữ thập (EPM)

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hình 3.1 cho thấy thời gian trung bình nhóm chuột sinh lý khám phá cánh mới

cao hơn nhóm chuột bệnh lý > 20 giây (gấp hơn hai lần), điều này cho thấy mơ

hình gây stress đã tiến hành thành cơng.

Trong tiến hành nghiên cứu đánh giá một thuốc từ thảo dược chúng tôi dựa

vào liều sử dụng trong dân gian của một số lồi thuộc chi Corydalis, ví dụ

Huyền hồ (Corydalis yanhusuo W. T. Wang) sử dụng trong dân gian là 6-12g

dược liệu và chúng tôi đã tiến hành tiền sàng lọc các mức liều của cao chiết cải

cần trong khoảng: 0,28; 0,56; 1,12 và 2,24 g/kg thể trọng chuột, kết quả chỉ ra 2

liều 1,12 và 2,24 g/kg có tiềm năng chúng tôi quyết định sử dụng 2 mức liều này

cho nghiên cứu của mình. Kết quả từ Hình 3.1 và cũng khẳng định nhóm chuột

được điều trị bằng cao chiết Cải cần ở mức liều 1,12 g/kg và 2,24 g/kg đều làm

tăng thời gian khám phá cánh mở gấp gần 3 lần so với nhóm chuột bệnh lý

(p<0.05). Kết quả tương tự cũng thấy được ở nhóm chuột được điều trị bằng

thuốc đối chứng imipramine 8 mg/kg (p < 0,05). Bên cạnh đó thơng số đánh giá

thời gian khám phá cánh mở của nhóm chứng sinh lý cao hơn gấp 2,18 lần nhóm

chứng bệnh lý đạt ý nghĩa thống kê (p < 0,05), điều này thể hiện là mơ hình cơ

lập cộng động trên chuột nhắt trắng đã thành công tương tự như kết quả được

công bố trước đây [26, 27].

 Mơ hình treo đi chuột (TST) và mơ hình bơi cưỡng bức (FST)

Các triệu chứng trầm cảm bao gồm thiếu hụt hành vi cộng đồng, cảm xúc,

giảm động lực và tuyệt vọng. Do sự tương đồng gần gũi giữa các triệu chứng

tiêu cực của gây stress cô lập và các triệu chứng cốt lõi của trầm cảm, vì vậy

cách tiếp cận đầu tiên để đánh giá nên sử dụng mơ hình động vật cổ điển cho

trầm cảm, như thử nghiệm treo đuôi (TST) hoặc thử nghiệm bơi cưỡng bức

(FST). Ngồi ra, vì cả hai mơ hình này đều là các thử nghiệm tuyệt vọng về

hành vi, chúng cũng được cho là đại diện cho hành vi thiếu động lực thường

thấy ở đối tượng stress cô lập. Kết quả thu được từ Hình 3.2 và 3.3, đều cho thấy

cao chiết cải cần cả 2 liều 1,12 và 2,24 g/kg đều làm giảm thời gian bất động khi

so với lơ bệnh lý, và khơng có sự khác biệt có ý nghĩa khi so sánh với lô chứng

49



dương sử dụng imipramine. Imipramine được biết tới là thuốc chống trầm cảm 3

vòng vẫn được sử dụng phổ biến là thuốc đối chứng dương trong các nghiên cứu

về bệnh lý rối loạn lo âu, trầm cảm, tâm thần phân liệt [28, 29, 40] với cơ chế

tác dụng tăng cường chức năng hệ dopaminergic [68]. Trong nghiên cứu của

Castagné và cộng sự trên mơ hình bơi cưỡng bức (FST), thời gian bất động của

chuột nhắt giảm khi so sánh phụ thuộc vào liều khi được điều trị bằng

imipramine (8-64 mg/kg), và các thuốc ức chế tái hấp thu monoamine như

fluoxetine (16-64 mg/kg), desipramine và venlafaxine (8-64 mg/kg). Clobazam

(32 và 64 mg/kg) tăng thời gian bất động cùng với tác dụng an thần/giãn cơ.

Clozapin (1-8 mg/kg) không thể hiện tác dụng [65]. Một số thuốc tác động trên

hệ serotonergic gắn vào thụ thể 5-HT1A có tác động khác nhau, 8-OH-DPAT (2

và 8 mg/kg), idazoxan (4 và 8 mg/kg) và alnespirone (4 và 16 mg/kg) có tác

dụng giảm thời gian bất động của chuột, trong khi buspirone (1-16 mg/kg)

không thể hiện tác dụng, flesinoxan (16 mg/kg) còn tăng thời gian bất động.

Cũng trong nghiên cứu này, trên mơ hình treo đi chuột (TST), các thuốc

imipramine (8-32 mg/kg), fluoxetine, desipramine và venlafaxine (8-64 mg/kg)

đều làm giảm thời gian bất động. Clobazam (8-32 mg/kg) và clozapine (4 và 8

mg/kg) tăng thời gian bất động. Các chất chủ vận 5-HT1A bao gồm 8-OH-DPAT

(8 mg/kg), buspirone, flesionxan và alnespirone đều làm tăng thời gian bất động

của chuột trong mô hình TST [65].

Trong nghiên cứu của tác giả Manavi Chatterjee chỉ ra rằng thử nghiệm

treo đuôi (TST) nhạy cảm hơn với những thay đổi hóa học thần kinh cấp tính

hơn bơi cưỡng bức (FST). Nghiên cứu này cũng chỉ ra dopamine tác động đối

với chuột trong thử nghiệm bơi cưỡng bức (FST), trong khi cả hệ thống

serotonergic và dopaminergic đều ảnh hưởng tới mơ hình treo đi (TST) [16].

Do đó, mặc dù cả hai mơ hình này giống nhau về các triệu chứng hành vi trạng

thái, cụ thể là các triệu chứng tuyệt vọng, nhưng chúng lại có các cơ chế khác

nhau tác động lên hành vi. Từ những kết quả thu được có thể gợi ý về cơ chế tác



50



dụng của cao chiết cải cần cũng theo con đường tác dụng tăng cường trên hệ

dopaminergic.

4.2.



Về cơ chế tác dụng của cao chiết cải cần



4.2.1. Về kết quả đánh giá hoạt tính chống oxy hóa của cao chiết cải cần



Như đã để cập ở mục 1.1.2 trong phần Tổng quan cho thấy có mối liên hệ

giữa các bệnh lý thần kinh với các phản ứng oxy hóa khử trong cơ thể. Vì vậy,

trong nghiên cứu này chúng tơi lựa chọn tìm hiểu cơ chế bảo vệ tế bào thần kinh

trên tác dụng chống oxy hóa của cao chiết cải cần. Các phương pháp đánh giá

khả năng dọn gốc tự do in vitro là bước đầu tiên để nghiên cứu cơ chế phân tử.

Trong đó, DPPH là phương pháp cổ điển và thường quy để đánh giá hoạt tính

chống oxy hóa của các chất có tiềm năng. Kết quả thu được ở Hình 3.4 cho thấy

giá trị IC50 của mẫu cao chiết cải cần là 0,55 mg/ml (0,44 ÷ 0,69), và IC50 của

chất đối chiếu quercetin là 4,35 µg/ml. Hoạt tính dọn gốc tự do DPPH của mẫu

cao cải cần đạt cao nhất ở 2,5 mg/ml, đạt 77,7%, khả năng dọn gốc tự do DPPH

của cao chiết cải cần cao hơn so nhiều so với chất đối chiếu Quercetin. Tuy

nhiên kết quả lại cho thấy khả năng dọn gốc tự do DPPH của cao cải cần cao

hơn khi so sánh với các kết quả nghiên cứu dọn gốc tự do DPPH của một dược

liệu của các nghiên cứu trước như cây Nhàu (Morinda citrifolia L.) gồm cao

chiết ethanol lá, quả, rễ lần lượt có giá trị IC50 là 917,16 µg/ml, 1025,2 µg/ml và

1531,4 µg/ml [5] cây Cà gai leo (Solanum hainanense Hance) IC50 là 1734

μg/ml và cao Hà Thủ Ô (Streptocaulon juventas Merr.) (cả cây) có khả năng

kháng oxy hóa với giá trị là IC50 = 2586 μg/ml [70]. Trong khoảng nồng độ

nghiên cứu từ 0,075 đến 2,5 mg/ml, hoạt tính dọn gốc tự do phụ thuộc vào liều

và tăng dần theo nồng độ mẫu cao cải cần.

Như đã biết rằng các anion superoxide gây tổn hại trực tiếp hoặc gián tiếp

bằng cách hình thành H2O2, -OH, peroxy nitrite hoặc nguyên tử oxy trong q

trình lão hóa và các tình trạng bệnh lý, hoặc chấn thương do thiếu máu cục bộ.

Superoxide cũng trực tiếp tham gia peroxide hóa lipid [54]. Kết quả từ Hình 3.6

cho thấy hoạt tính dọn gốc superoxide của cao chiết cải cần được tăng lên rõ rệt

51



khi tăng nồng độ. Khoảng tuyến tính của mẫu cao chiết cải cần trong khoảng

0,005 đến 0,800 mg/ml. Giá trị IC50 tính được là 0,1572 (mg/ml) (0,0989 ÷

0,7135). Khi so sánh với khả năng dọn gốc tự do DPPH, thì khả năng dọn gốc

superoxide của cao cải cần cao hơn gấp 3,5 lần. Cả 2 phương pháp DPPH và

superoxide có thể thấy giá trị IC50 của mẫu cao chiết cải cần khả quan là một

chất chống oxy hóa có tiềm năng, và mẫu cao chiết cải cần có khả năng dọn gốc

superoxide hiệu quả hơn, hướng tới một trong các cơ chế tác dụng của mẫu cao

chiết cải cần là dọn gốc tự do superoxide.

4.2.2.



Về mức độ biểu hiện gen BNIP3 trong não chuột thí nghiệm



Beta-actin thường được sử dụng làm nội chuẩn (gen) để chuẩn hóa biểu hiện

của gen mục tiêu hoặc mức mARN giữa các mẫu khác nhau. β-actin thường

được biểu hiện ổn định ở các tế bào biểu mơ não do vai trò duy trì cấu trúc

khung xương tế bào. Để đánh giá sự biểu hiện của gen BNIP3, nghiên cứu tiến

hành sử dụng kỹ thuật RT-PCR từ mARN của cả 2 gen là BNIP3 và β-actin. Để

tránh ảnh hưởng của các yếu tố khách quan tới đánh giá hàm lượng gen BNIP3,

hàm lượng gen sau khi được xác định bằng phương pháp realtime – PCR được

chia cho hàm lượng biểu hiện β-actin của từng mẫu tương ứng. Kết quả thu

được không cho thấy sự khác nhau biểu hiện giữa các nhóm chuột, kể cả mẫu

chứng dương sử dụng thuốc chống trầm cảm imipramine. Trong một nghiên cứu

của tác giả Alessandro Ieraci chỉ ra gây mơ hình rối loạn lo âu bằng nuôi cô lập

gây stress kéo dài cho thấy nhiều gen thay đổi biểu hiện ở vùng HPC tuy nhiên

cũng có một số gen khơng thay đổi biểu hiện như mGluR, BDNF. Kết quả biểu

hiện gen BNIP3 ở HPC trong nghiên cứu này cũng thống nhất với kết quả

nghiên cứu trên, cho thấy khơng có sự thay đổi về biểu hiện gen BNIP3 (Hình

3.6). Ngồi ra trong một nghiên cứu của tác giả Tohda và công sự (2010) cho

thấy có những mâu thuẫn về vai trò sinh học/sinh lý của BNIP3 [40]. BNIP3 còn

cần thiết để bắt đầu q trình sống sót của tế bào tự đáp ứng với stress oxy ở cả

tế bào bình thường và khối u [69]. Khi kết hợp một số thuốc chống trầm cảm có

52



thể làm tăng biểu hiện mARN của BNIP3 trong tế bào NG108-15. Do đó việc

tăng biểu hiện của mARN BNIP3 và điều trị với imipramine có thể có cơ chế

tương tác nào đó chưa được biết. Trong nghiên cứu của tác giả Sandau và Handa

BNIP3 được biểu hiện cấu thành ngay cả trong não chuột không bị căng thẳng,

khu trú và phân bố rộng khắp trong 7 ngày sau sinh, nhưng lại chủ yếu tập trung

ở vùng hải mã ở não chuột trưởng thành. Hơn nữa, mức độ mARN BNIP3 đã

được tìm thấy đỉnh điểm vào ngày thứ 6,5 sau sinh, thời điểm này là thời điểm

mạng lưới thần kinh trong não được hình thành [36]. Từ những phát hiện này,

chúng tơi suy đốn rằng BNIP3 có vai trò chức năng trong sự hình thành khớp

thần kinh sau này. Là một yếu tố phản ứng chống stress, BNIP3 có thể đóng một

vai trò trong việc duy trì và / hoặc tái hình thành khớp thần kinh trong não và

thuốc chống trầm cảm có thể hỗ trợ chức năng của BNIP3 bằng cách tăng cường

biểu hiện của nó.

Kết quả định lượng hàm lượng ARN tổng số cho thấy hàm lượng ARN

sau khi tách từ vùng HPC của nhóm điều trị bằng mẫu CC 2,24 thấp < 0,1 µg/µl

khơng đủ hàm lượng cho phản ứng RT-PCR sau đó. Chính vì vậy kết quả biểu

hiện gen BNIP3 sau đó khơng tiến hành được với mẫu cải cần có nồng độ 2,24.

Điều này có thể do trong q trình tách ARN tách chiết mẫu theo protocol chuẩn

chưa loại bỏ hết toàn bộ muối guanidine có trong kit tách chiết ARN. Muối này

có tác dụng ức chế enzyme ARNse nhưng cũng đồng thời ức chế protein chẳng

hạn như RT enzyme dẫn tới làm giảm lượng ARN tổng số hoặc cũng có thể

trong mẫu vẫn còn nhiều protein của não bộ sau khi nghiên ko loại hết dẫn tới

giá trị A260/280 thấp.

Từ những kết quả thu được trên hành vi và các kết quả in vitro, cơ chế tác

dụng giải lo âu của cao chiết cải cần có thể rút ra là có khả năng dọn gốc tự do,

chống oxy hóa giúp bảo vệ các tế bào thần kinh khỏi stress. Có thể tác động của

cao chiết cải cần theo cơ chế tác động tới hệ dopaminergic. Cơ chế tác gây rối

loạn lo âu phức tạp và chưa được rõ ràng, do vậy việc nghiên cứu cơ chế tác

53



dụng của thuốc cũng như các cao chiết từ dược liệu vẫn còn nhiều hạn chế, tuy

nhiên với kết quả bước đầu thu được cho thấy tiềm năng của cây cải cần nói

riêng và dược liệu nói chung trong nghiên cứu tác dụng và cơ chế giải lo âu trên

mơ hình chuột nhắt trắng thực nghiệm.



54



KẾT LUẬN

Từ các kết quả nghiên cứu của đề tài, chúng tôi rút ra một số kết luận như

sau:

-



Cao chiết cải cần (CC) với liều 1,12 và 2,24 g/kg thể hiện tác dụng giải lo

âu trên mơ hình chuột nhắt trắng bị cô lập cộng đồng.



-



Đã bước đầu nghiên cứu cơ chế tác động của cao chiết ethanol cải cần trên

tế bào thần kinh trung ương:





Cơ chế tác động của cao chiết cồn cải cần có tác dụng chống oxy hóa

thơng qua con đường dọn gốc superoxide và DPPH.







Tuy nhiên cao chiết cải cần khơng có làm thay đổi biểu hiện gen BNIP3

ở vùng Hippocampus trên não chuột cô lập cộng đồng.



55



KIẾN NGHỊ

Từ những kết quả thu được chúng tôi đưa ra một số kiến nghị như sau:

-



Nghiên cứu quá trình chiết tăng hiệu quả để giảm liều, và tiến hành đánh

giá trên cao chiết phân đoạn.



-



Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về cơ chế tác dụng và đánh giá độ an toàn.



-



Đánh giá biểu hiện BNIP3 ở các vùng đặc biệt của não chuột ví dụ như vỏ

não (Frontal Cortex) hoặc vỏ não trước trán (Prefrontal Cortex).



56



TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1.



2.

3.

4.



5.



6.

7.



Nguyễn Hoàng Anh, Khổng Trọng Quân, Đỗ Quyên, Đào Thị Vui, Nguyễn

Quốc Huy, Nghiên cứu tác dụng giải lo âu thực nghiệm của Stephania sinica

diels và Stephania dielsiana Y.C. WU. Tạp chs Dược liệu, 2013. 18(3): p.

141-147.

Hồ Huỳnh Thùy Dương, Sinh Học Phân Tử. 2003: NXB Giáo Dục.

Phạm Hoàng Hộ, Cây cỏ Việt Nam. Vol. 1. 1999: NXB Trẻ.

Nguyễn Thị Thu Hương, Matsumoto, K., and Wantanabe, H., Tác dụng giải lo

âu và chống trầm cảm của Majonosid-R2, hoạt chất chính trong sâm Việt Nam.

Tạp chí Dược liệu, 2002. 5: p. 148-152.

Đái Thị Xuân Trang, Ảnh hưởng của cao ethanol rễ cây Nhàu (Morinda

citrifolia L.) đến sự thay đổi mô bệnh học của tụy tạng chuột bệnh đái tháo

đường. Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ, 2016. 19(1T): p. 66-73.

Nguyễn Minh Tuấn, Các rối loạn tâm thần: Chẩn đoán và điều trị. 2004, Hà

nội: NXB Y học.

Chevallier, Andrew Dược Thảo Toàn Thư (bản dịch). 2012: Tổng Hợp

TPHCM.



Tiếng Anh

8.

9.

10.



11.

12.



Attele, A. S., Xie, J. T., and Yuan, C. S., Treatment of insomnia: an

alteARNtive approach. Altern Med Rev, 2000. 5(3): p. 249-59.

Bai, F., et al., Intra- and interstrain differences in models of "behavioral

despair". Pharmacol Biochem Behav, 2001. 70(2-3): p. 187-92.

Behl, A., et al., Relationship of possible stress-related biochemical markers to

oxidative/antioxidative

status

in

obsessive-compulsive

disorder.

Neuropsychobiology, 2010. 61(4): p. 210-4.

Bulut, M., et al., Malondialdehyde levels in adult attention-deficit hyperactivity

disorder. J Psychiatry Neurosci, 2007. 32(6): p. 435-8.

Campos, A. C., et al., Animal models of anxiety disorders and stress. Rev Bras

Psiquiatr, 2013. 35 Suppl 2: p. S101-11.



13.



Carobrez, A. P. and Bertoglio, L. J., Ethological and temporal analyses of

anxiety-like behavior: the elevated plus-maze model 20 years on. Neurosci

Biobehav Rev, 2005. 29(8): p. 1193-205.



14.



15.



Carr, M. N., Bekku, N., and Yoshimura, H., Identification of anxiolytic

ingredients in ginseng root using the elevated plus-maze test in mice. Eur J

Pharmacol, 2006. 531(1-3): p. 160-5.

Chakraborty, S., et al., Correlation between lipid peroxidation-induced TBARS

level and disease severity in obsessive-compulsive disorder.

Neuropsychopharmacol Biol Psychiatry, 2009. 33(2): p. 363-6.



16.



17.

18.



19.



20.



21.



22.



23.



24.

25.



Prog



Chatterjee, Manavi, Jaiswal, Manoj, and Palit, Gautam, Comparative evaluation

of forced swim test and tail suspension test as models of negative symptom of

schizophrenia in rodents. ISRN psychiatry, 2012. 2012: p. 595141-595141.

Dhawan, K., Kumar, S., and Sharma, A., Anti-anxiety studies on extracts of

Passiflora incaARNta Linneaus. J Ethnopharmacol, 2001. 78(2-3): p. 165-70.

Esterbauer, H., Schaur, R. J., and Zollner, H., Chemistry and biochemistry of 4hydroxynonenal, malonaldehyde and related aldehydes. Free Radic Biol Med,

1991. 11(1): p. 81-128.

Griebel, G., et al., Differential modulation of antipredator defensive behavior in

Swiss-Webster mice following acute or chronic administration of imipramine

and fluoxetine. Psychopharmacology (Berl), 1995. 120(1): p. 57-66.

Grundmann, O., et al., Kaempferol from the leaves of Apocynum venetum

possesses anxiolytic activities in the elevated plus maze test in mice.

Phytomedicine, 2009. 16(4): p. 295-302.

Head, K. A. and Kelly, G. S., Nutrients and botanicals for treatment of stress:

adrenal fatigue, neurotransmitter imbalance, anxiety, and restless sleep. Altern

Med Rev, 2009. 14(2): p. 114-40.

Ieraci, A., Mallei, A., and Popoli, M., Social Isolation Stress Induces AnxiousDepressive-Like Behavior and Alterations of Neuroplasticity-Related Genes in

Adult Male Mice. Neural Plast, 2016. 2016: p. 6212983.

Lakhan, Shaheen E. and Vieira, Karen F., Nutritional and herbal supplements

for anxiety and anxiety-related disorders: systematic review. Nutrition

jouARNl, 2010. 9: p. 42-42.

Lister, R. G., The use of a plus-maze to measure anxiety in the mouse.

Psychopharmacology (Berl), 1987. 92(2): p. 180-5.

Matsumoto, K., et al., Effects of methylenechloride-soluble fraction of Japanese

angelica root extract, ligustilide and butylidenephthalide, on pentobarbital



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

 Mô hình mê lộ chữ thập (EPM)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×