Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương II Chức náng, nhiệm vụ, quyển hạn và ccf cấu tổ chửc của VPQH

Chương II Chức náng, nhiệm vụ, quyển hạn và ccf cấu tổ chửc của VPQH

Tải bản đầy đủ - 0trang

MỘTSố VẤNĐÉ

VỀĐỔI MỚI Tổ CHỨC. HOẠTĐỘNGCÙAQUỐC HỘI

II.



THỰC TRẠNG T ổ CHỨC BỘ MÁY VĂN PHỊNG QC



HỘI - NHỮNG MẶT

1.



Được VÀ CHỮA Được



Khái quát quá trình hình thành tổ chức bộ máy, chức



năng, nhiệm vụ, quyển hạn của Văn phòng Quốc hội qua

các giai đoạn



Khái quát về quá trình hình thành và phát triển về tổ

chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn

phòng Qc hội từ khi Quồc hội nước ta ra đòi đến nay, có

thể chia làm 5 giai đoạn sau đây:

a. Giai đoan phôi th a i từ thực tiễn

Sau khi Quốc hội khoá I ra đòi, chưa có ngay bộ máy

giúp việc. Vàn phòng Ban thưòng trực Quốc hội dần được

hình thành qua từng giai đoạn, vì chưa có ván bản nào quy

định về bộ máy giúp việc của Quốc hội. Trên thực tế, Văn

phòng này do một số cán bộ đảm trách để giúp Ban thường

trực Quốc hội giải quyết các công việc đối nội và đôl ngoại.

Cho đến ngày 19/3/1950, căn cứ vào nhu cầu cơng việc, Chủ

tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh sô' 38-SL cử bác sỹ

Nguyễn Tấn Gi Trọng, nguyên Tổng Giám đốc Nha thông

tin giữ chức Chánh Văn phòng Ban thưòng trực Q'c hội.

Đầu năm 1957, Vàn phòng được thành lập 2 phòng chun

mơn (Phòng Hành chính - Quản trị và Phòng Nghiên cứu).

Với cách tổ chức đơn giản như vậy, chức náng, nhiệm vụ,

quyền hạn của Ván phòng Ban thưòng trực Quốc hội chủ



176



Chương II

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chứt của VPQH

yếu là m a n g tí n h trỢ giúp các cơng việc h à n h c h ín h cho B an



thưòng trực Quổc hội.

b, G ỉai đoạn hình thành bằng cơ sở p h á p lý

Trên cơ sở quy định của Luật Tổ chức Quốc hội, ngày

16/01/1962, ưỷ ban thưòng vụ Quốc hội đã ban hành Nghị

quyết sô' 87-N Q /TV Q H về việc t h à n h lập V á n p hò ng ư ỷ b a n



thường vụ Quốc hội và quy định tổ chức Văn phòng. Theo

quy định tại Điều 1 của Nghị quyết, thì chức năng của Văn

phòng ‘7à cơ quan giúp việc của ưỷ ban thường vụ Quốc hội,

có trách nhiệm phục vụ ưỷ ban thường vụ Quốc hội hoạt

động theo quyền hạn và nhiệm vụ được ghi trong Hiến pháp

và Luật Tổ chức Quốc hộư\ Để thực hiện được chức năng đó,

Văn phòng được trao 6 nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến

công tác phục vụ, nghiên cứu và quản lý cơng việc hành

chính. Về tổ chức, Vàn phòng có 3 vụ là Vụ Hành chính, Vụ

P h á p c h í n h và Vụ D â n chính. Mỗi vụ có m ộ t sơ" p h ò n g và tổ



cơng tác. Sau đó, ngày 26/8/1976, u ỷ ban thưòng vụ Quốc

hội đã ban hành Nghị quyết sơ" 13-NQ/QHK6 về việc nâng

Phòng xét khiếu tố và dân nguyện (thuộc Vụ Dân chính)

thành Vụ Xét khiếu tố và dân nguyện.

c.



G iai đoạn có sự diều chỉnh



S a u k h i có H iế n p h á p n ă m 1980 với n h ũ n g t h a y đổi về

tô chức bộ m á y n h à nước. Để đ áp ứ n g y ê u cầu p hụ c vụ



Quốc hội trong tình hình mói, ngày 06/7/1981, Hội đồng



177



MỘTsó VẤN ĐỀ

VẾ ĐỔI MỚI Tổ CHỨC, HOẠTĐỘNG CỦAQUÓC HỘI

N h à nưốc đ ã r a N g h ị q u y ế t sô' 0 1 /H Đ N N 7 quy đ ịn h về tổ



chức, nhiệm vụ của Văn phòng Quổc hội và Hội đồng Nhà

nước. Theo quy định tại Điều 1 của Nghị quyết, thì Vãn

phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nưốc có chức năng ‘7à cơ

quan giúp việc Quốc hội và Hội đồng Nhà nước, có trách

nhiệm phục vụ mọi hoạt động của Hội đồng Nhà nước, Chủ

tịch và các Phó Chủ tịch Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các

uỷ ban của Quốc /lội”. Để thực hiện được chức năng này,

Nghị quyết đà trao cho Văn phòng 15 nhiệm vụ, quyền hạn

có liên quan chủ yếu đến cơng tác nghiên cứu, tham mưu,

tổng hợp, phục vụ và quản lý cơng việc hành chính, v ề tổ

chức, V ă n p h ò n g có 9 đơn vị, gồm 8 v ụ và 1 đơn vị cấp

phòng. Đ ến n á m 1985, do yêu c ầ u p h ụ c vụ, V ản p h ò n g



thành lập thêm Nhà khách Phủ Chủ tịch và nâng cấp trụ

sở liên lạc tạ i 165 N a m kỳ khởi n g h ĩ a ( th à n h p h ố Hồ Chí

M in h ) t h à n h P h ò n g liên lạc tại thành phố Hồ Chí M inh. Kể

t ừ N g h ị q u y ết sô' 0 1 /H Đ N N 7, chức n ă n g , n h iệ m vụ c ủ a các



đơn vị thuộc Ván phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nưốc

bắt đầu đươc hình thành rõ nét.

m



d, Giai đoạn đổi mới

Sau khi có Hiến pháp năm 1992 với nhiều thay đổi

quan trọng, để đáp ứng nhu cầu phục vụ Quốc hội ngày

càng cao, bộ máy giúp việc của Quốc hội phải được xác định

là một chỉnh thể thống nhất, có cơ câu hỢp lý và phân cơng

cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn. Xuất phát từ



178



Chương II

Chức năng, nhiệm vụ, quyển hạn và cơ cấu tổ chức của VPQH

u cầu đó, Văn phòng Quốc hội và Hội đồng Nhà nưóc đã

được đổi tên thành Vãn phòng Quôc hội và ngày

17/10/1992, ư ỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị

quyết sô" 02/NQ-ƯBTVQH quy định về tổ chức, nhiệm vụ

của Văn phòng Quốc hội. Tại Điều 1 của Nghị quyết, chức

năng của Văn phòng được xác định “Zà cơ quan giúp việc

của Quốc hội có trách nhiệm nghiên cứu, tham mưu tổng

hỢp và t ổ chức p h ụ c vụ m ọi h o ạ t đ ộ n g của Quốc hội, ư ỷ b a n

thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch

Quốc hội, của Hội đồng dân tộc và các uỷ han của Quốc

hộV\ Nghị quyết cũng trao cho Văn phòng 16 nhiệm vụ,

quyền hạn liên quan đến các mặt công tác tham mưu, tổng

hỢp, tổ chức phục vụ điều hành và quản lý các cơng việc

hành chính, về tổ chức, Ván phòng còn có 19 đơn vị, trong

đó có 17 đơn vị cấp vụ và 2 đơn vị cấp phòng.

đ, Gỉaỉ đoạn hồn thiện

m







Do q trình đổi mỏi tổ chức và hoạt động của Quốc hội

các khoá trong thòi kỳ đổi mới và để giúp Quốc hội thực

hiện tốt hơn chức năng của mình, ngày 01/10/2003, ư ỷ ban

th ư ò n g



vụ



Q"c hộ i



đã



ban



hành



Nghị



quyết



sơ"



417/2003/UBTVQHll quy định về chức náng, nhiệm vụ,

quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Quốc hội. Theo

đó, Ván phòng Quốc hội ‘7à cơ quan giúp việc của Quốc hội,

có chứ c n ă n g th a m m ư u , tổ n g hỢp và tổ chứ c p h ụ c vụ các



hoạt động của Quốc hội, ư ỷ ban thường vụ Quốc hội, các



179



MỘTsó VẤN0Ể

VỀ ĐỔI MỚI TỔCHỨC. HOẠTDỘNG CỦAQUỐC HỘI

hoạt động của Hội đổng dán tộc, các ưỷ ban của Quôc hội,

các ban của ư ỷ ban thường vụ Quốc h ộ i\ Đẻ thực hiện

được chức n ă n g đó, N g h ị qu y ết đã tra o cho V ăn ph òn g 17



nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến các mặt hoạt động của

Quốc hội, các cơ quan của Q'c hội, cơng tác quản lý hành

chính và trỢ giúp các hoạt động của Qc hội nói chung.

Đến đây, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ

chức của Ván phòng Qc hội được đề cập khá tồn diện và

có tính hệ thống hơn.

2.

Đánh giá thực trạng về chức năng, nhiệm vụ, quyền

hạn và cơ cấu tổ chức của Vân phòng Quốc hội

ơ. Đ ánh g iá kh ải q u á t về quá trĩn h hình thành,

p h á t triển các chức năng, nhiệm vụ, quyền han vá cơ

cấu tố chức của Văn p h ò n g Quốc hội

Trên cơ sỏ phân chia các giai đoạn hình thành và

phát triển của Vãn phòng Quốc hội như đã nêu ở trên,

kết hỢp với việc nghiên cứu q trìn h lịch sử, có thể đưa

r a những đán h giá khái qu át về thực trạ n g chức năng,

nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Vàn phòng

Quốc hội như sau:

Quá trinh xác lập chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và

cơ cấu tổ chức của Văn phòng Quốc hội là một quá trinh

hinh thành, p h á t triển từ thấp đến cao, tuỳ thuộc vào cơ



180



Chương II

Chửc năng, nhiệm vụ, quyển hạn và cơ cấu tổ chửc của VPQH



cấu tố chức và phương thức hoạt động của Quốc hội trong

mỗi g ia i đoạn của lịch sử. Điều đó được th ê h iệ n q u a th ự c



tiễn tô chức bộ máy và các quy định của pháp luật về chức

náng, nhiệm vụ, quyến hạn của Văn phòng Quốc hội. Xem

xét quá trình này cho thấy từ việc tổ chức khá đơn giản bộ

máy vối nhừng quy định chưa mang tính định hình, định

lượng và đ ịn h t ín h tro n g việc xác lập chức n ă n g , n h iệ m vụ,



quyền hạn của Văn phòng cho đến giai đoạn sau này,

những vấn đề dó đã được để cập hồn chính hơn. Trong một

thòi gian khá dài, Văn phòng Quổc hội vói cơ cấu tổ chức

k h á đơn giản, chỉ có chức náng, nh iệm vụ m à k h ô n g có



những quyền hạn để bảo đảm thực hiện chức năng, nhiệm

vụ dược giao.

- Sự thay đổi về mò hinh tổ chức bộ máy tham mưu,

giúp việc của Quôh hội lờ cơ sở cho sự thay đổi uề chức

năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn ph òn g Quốc hội. Đ â y



là một thực trạng bát nguồn từ những thay đổi to lớn trong

nhặn thức vế vị trí, vai trò của Quôc hội, với tư cách là cơ

quan đại biểu cao nhát của nhân dân, cơ quan quyền lực

nhà nưóc cao nhất của nưốc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt

Nam. Chính điều đó đả tạo ra động lực vê' tư duy đổi mói

bộ máy tham mưu giúp việc, dẫn đến sự thay đổi về mô

hinh tổ chức và từng bước hoàn thiện về chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn của bộ máy này.

- Đổi mới và từng bước hoàn thiện về cơ cấu tố chứ c bộ



181



MỘTSỐ VẤNĐỂ

VỀĐỔI MỚI TỔCHỨC. HOẠTOỘNGCỦAQUỐC HỘI

máy tham mưu, giúp việc của Quôi hội với những chức

năng, nhiệm vụ, quyền hạn ngày càng rõ nét hơn là một đòi

hỏi khách quan, phù hỢp với các nguyên lý khoa học về tổ

chức bộ máy. Điều đó chứng minh tính đúng đắn trong việc

xác định các cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn để từng bước

xáy dựng và hoàn thiện các quy định về cơ cấu tổ chức bộ

máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Quốc

hội vối tư cách là cơ quan tham mưu, giúp Quốc hội, các cơ

quan của Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội và các đại

biểu Quốc hội hoạt động có hiệu quả hơn, đáp ứng với đòi

hỏi ngày càng cao của nhân dân.

6.

Những m ặ t đĩ/ợc, chưa được từ thực tiễn áp dụng

các quy định hiện hành về chức năngf nhiệm vụ, quyền

hạn và cơ cấu t ổ chức của Văn ph ò n g Quốc hội

- Những mặt được:

Trên cơ sỏ các quy định hiện hành, Văn phòng Quốc hội

đà thực hiện tốt chức náng ''tham mưu, tổng hỢp và tổ chức

phục vụ các hoạt động của Quốc hội, uỷ ban thường vụ

Quốc hội, các hoạt động của Hội đồng dãn tộc, các uỷ ban

của Quốc hội, các ban của ưỷ ban thường vụ Quốc hội".

Điều đó được thể hiện qua q trình hồn thành những

chức nàng, nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

Tham mưu, phục vụ có hiệu quả việc thực hiện chức

năng lập pháp của Quốc hội. Đảy là điểm nổi bật, tạo ra sự



182



Chương II

Chửc năng, nhiệm vụ, quyển hạn vả cơ cấu tể chức của VPQH

chuyển biến tích cực cả về sơ' lượng, chất lượng và kỹ thuật

các ván bản do Quốc hội và u ỷ ban thưòng vụ Quốc hội ban

hành. Do có nhừng tham mưu, đế xuất cải tiến về quy trình

x â y d ự n g p h á p l u ậ t và sự phối hỢp giữa các cơ q u a n h ữ u



quan tham gia, nên sô' lượng và chất lượng văn bản luật,

pháp lệnh đã khơng ngừng tăng lên, thòi gian được rút

ngắn hơn so vối dự kiến.

Tham mưu, phục vụ có hiệu quả chức năng giám sát tối

cao của Quốc hội. Văn phòng Quốic hội đã có nhiều cơ"gắng

trong cơng tác tham mưu, đề xuất vỏi Uỷ ban thưòng vụ

Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội đổi mối quá trình hoàn

thiện các quy định vỂ hoạt động giám sát của Quốc hội và

trực tiếp phục vụ các hoạt động đó. Nhửng chuyển biến

trong hoạt động giám sát đã góp phần tạo nên dấu ấn quan

trọng, rõ nét trong các hoạt động của Qc hội.

Tham mưu, phục vụ có hiệu quả việc thực hiện chức

năng quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.

Với việc nghiên cứu, tham mưu, chuẩn bị chu đáo các văn

bản thuộc phạm vi trách nhiệm được giao, Văn phòng Quốic

hội đã phục vụ Quốc hội ra những quyết định có chất lượng

ngày càng cao, cớ liên quan đến nhiều lĩnh vực hoạt động

của đòi sống kinh tế - xã hội của đất nưốc, chính sách cơ

bản về đốỉ nội, đối ngoại, an ninh - quốc phòng, tổ chức bộ

máy và nhân sự cấp cao của Nhà nước.

Ngồi những phương diện hoạt động cơ bản đó,



183



MỘTSố VẤNĐÉ

VỀĐỔI MỚI Tổ CHỮS. HOẠTĐỘNGCỦAQUỐC HỘI

Văn phòng Qc hội đả có nhiều cơ" gắng, tích cực trong

việc tham mưu, phục vụ các hoạt động đối ngoại của Quốc

hội, các cơ quan của Quốc hội; góp phần quan trọng trong

mối quan hệ giữa Quốc hội và nhân dân; tham mưu, phục

vụ tốt việc tổ chức các kỳ họp Quốc hội, các hội nghị đại

biểu Quốc hội chuyên trách, hoạt động điểu hành của ư ỷ

ban thường vụ Quốc hội; bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật

chất, kỹ thuật; tổ chức cơng tác thơng tin, báo chí và

nghiên cứu khoa học phục vụ hoạt động của Quốc hội...

- Những mặt chưa được:

Việc phục vụ chức năng lập pháp của Quốíc hội còn

nhiều bất cập. Điều đó được thể hiện ở chất lượng tham

mưu về nội dung một sô" văn bản luặt, pháp lệnh còn chưa

cao, có những nội dung chưa được nghiên cứu sâu để cụ

thể hoá trong văn bản; chưa tham mưu, để xuất được các

giải pháp có tính khả thi cao; việc đôn đốc công tác chuẩn

bị các dự án luật, pháp lệnh còn chưa quyết liệt; chưa chú

trọng đến công tác theo dõi, đôn đốc việc ban hành các vàn

bản hưống dẫn thi hành luật, pháp lệnh để nhanh chóng

đi vào cuộc sống.

Cơng tác tổ chức phục vụ hoạt động giám sát chưa được

nghiên cứu, cải tiến. Một sơ' lĩnh vực quan trọng của đòi

sống xà hội mà cử tri quan tâm chưa được nghiên cứu, đề

xuá*t phương thức giám sát kịp thòi và có hiệu quả.

Chưa tổ chức tốt công tác nghiên cứu, dự báo và cung



184



Chương II

Chức nảng, nhiệm vụ, quyển hạn và cơ cấu tổ chức của VPQH

câ"p thơng tin đầy đủ, chính xác làm cơ sở cho các đại biểu

Quôc hội, các cơ quan của Quốc hội và Quốc hội xem xét,

quyết định những vấn đề quan trọng của đất nưóc.

- N guyên nhàn của những hạn chế, b ấ t cập:



Việc đổi mới tổ chức bộ máy của Văn phòng Quốc hội

tiẽn hành còn chậm, chưa đáp ứng kịp vói lộ trình của

những thay đổi to lớn, toàn diện trên các lĩnh vực hoạt

động củ a đòi sống k in h tẽ * xã hội của đ ấ t nưốc.



Trong các cơ quan nhà nước, chưa có cơ quan nào tổ

chức theo mơ hình 3 khối như Văn phòng Quốc hội (khơi

các đơn vị phục vụ Hội đồng dân tộc, các uỷ ban của Quốc

hội, khối các đơn vị phục vụ các ban của u ỷ ban thường vụ

Quòc hội và khốỉ các đơn vị phục vụ chung). Do vậy, mặc



dù đà có nhừng cơ' gắng nhát định trong sự phốỉ hợp, song

vẫn gặp khơng ít nhửng khó khăn, lúng túng trong công

tác lãnh đạo, chĩ đạo và điều hành bộ máy. Nhiều hoạt

động còn chồng lân, do chưa cá biệt hố được lình vực hoạt

động cụ thê của từng loại đơn vỊ trong cơ cấu tổ chức của

Văn phòng Quốc hội.

T í n h độc lập về m ặ t tổ chức • n h â n sự của V ản p hò ng



Quốic hội chưa rõ nét, chưa tạo khả năng điều hành thống

nhât và có hệ thơng để đạt được hiệu quả quản lý cao trong

việc thực hiện các chức nàng, nhiệm vụ đã được xác định.

- Một sô" v ấ n đề liên q u an đến chức n ả n g , n h iệ m vụ,



185



MỘT Số VẤN OỂ



VỀ oổl MỚI Tổ CHỨC, HOẠTĐỘNG CỦAQUỐC HỘI

quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Quốc hội, các

chức danh lãnh đạo Văn phòng Quốc hội, lãnh đạo các đơn

vị thuộc Ván phòng Quốc hội và chức trách của cán bộ, công

chức trong từng đơn vỊ chưa được xác lập mạch lạc, rõ ràng.

- Công tác t u y ể n dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưõng, q uy



hoạch cán bộ thực hiện chưa tốt, chưa đồng bộ, chưa khoa

học; đặc biệt là cơ chế đánh giá cán bộ còn chưa khách quan;

chưa có sự kết hợp đúng đắn giữa lợi ích và nghĩa vụ trong

mỗi cá nhân, đơn vị. Do đó, chưa tạo ra được khả năng khơi

nguồn, khuyến khích và phát huy sức m ạnh trí tuệ cá nhân

k ế t hỢp với sức m ạ n h t r í tu ệ của t ậ p t h ể cơ quan .

- Q u y ền h ạ n c ủ a V á n ph òn g Quốc hội, c ủ a các chức



danh lãnh đạo Văn phòng, lãnh đạo các đơn vị và cán bộ,

chuyên viên trong Ván phòng chưa tương xứng vỏi chức

năng, nhiệm vụ được giao. Vì vậy, chưa tạo ra năng lực đầy

đủ về mặt pháp lý cho các chủ thể này chủ động, sáng tạo

và linh hoạt trong các hoạt động công vụ.



- Công tác tổng kết, đánh giá thực tiễn chưa đưỢc quan

tâm , chú trọng thường xuyên, làm cơ sỏ kiến nghị với U ỷ



ban thường vụ Quốic hội sửa đổi, bổ sung kịp thòi những

quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ

chức của Văn phòng Quốc hội.



186



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương II Chức náng, nhiệm vụ, quyển hạn và ccf cấu tổ chửc của VPQH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×