Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

5

mẹ, người chăm sóc trẻ và bản thân trẻ vẫn còn hạn chế. Do đó, việc nâng cao

nhận thức, kỹ năng phòng chống tai nạn đuối nước cho các bậc phụ huynh cũng

là một nội dung cần được quan tâm [1, 2]

Việc dạy bơi cho trẻ gặp nhiều khó khăn do thiếu giáo viên dạy bơi và thiếu bể

bơi, đặc biệt là các xã nghèo, vùng khó khăn. Mơi trường sống vẫn còn nhiều

nguy cơ gây đuối nước, vẫn còn nơi nước sâu nguy hiểm chưa có biển báo, rào

chắn, làm trẻ ngã xuống bị tử vong. Vẫn còn nhiều trẻ khơng biết bơi và thiếu kỹ

năng an tồn trong mơi trường nước, hiện nay mới có 30% trẻ em trong lứa tuổi

tiểu học và trung học cơ sở biết bơi. Trong các văn bản chỉ đạo của Bộ LĐTB&XH cũng lưu ý việc cần có rào chắn, biển báo ở những vùng nước sâu,

nguy hiểm nhưng việc làm biển báo này cũng không đủ, đặc biệt ở vùng sông

nước đồng bằng sơng Cửu Long.Ngày 5/2/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban

hành Quyết định số 234/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phòng, chống tai nạn

thương tích trẻ em giai đoạn 2016 - 2020, trong đó: Giảm 6% số trẻ em bị tử

vong do đuối nước so với năm 2015; 40% trẻ em trong độ tuổi tiểu học và trung

học cơ sở biết kỹ năng an tồn trong mơi trường nước; 90% trẻ em sử dụng áo

phao khi tham gia giao thông đường thủy; 100% tỉnh, thành phố trực thuộc

Trung ương triển khai thí điểm chương trình bơi an tồn cho trẻ em. Do đó, để

đảm bảo quyền sống còn của trẻ, đảm bảo nguồn nhân lực tương lai của đất

nước cần thiết phải xây dựng chính sách hỗ trợ phòng chống đuối nước trẻ em.

Bộ LĐ-TB&XH đang xây dựng dự thảo đề xuất chính sách hỗ trợ phòng

chống đuối nước trẻ em. Mục đích của nhằm góp phần hỗ trợ trẻ em từ 6 đến 15

tuổi được tiếp cận các dịch vụ dạy bơi, dạy kỹ năng an tồn trong mơi trường

nước và được cấp cứu kịp thời khi bị đuối nước. Mục tiêu đến năm 2020 trên

80% trẻ em từ 6 - 15 tuổi được học bơi, học kỹ năng an tồn trong mơi trường

nước. 100% các tỉnh, thành phố kiện toàn mạng lưới dịch vụ dạy bơi, dạy kỹ

năng an toàn cho trẻ em 6 - 15. 100% các tỉnh, thành phố xây dựng được đội ngũ

giáo viên dạy bơi theo chương trình bơi an tồn…[1, 4]



6

1.2. Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lứa tuổi 6 đến 15 tuổi.

1.2.1. Đặc điểm tâm lý học sinh 6 đến 15 tuổi:

Ở lứa tuổi này các em có bước phát triển nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần,

các em đang tách khỏi thời kì thơ ấu để chuyển sang giai đoạn trưởng thành. Các

em khơng còn là trẻ em nữa nhưng cũng chưa phải là người lớn. Do đó, các nhà

tâm lý học thường gọi thời kỳ này là thời kỳ quá độ chuyển từ trẻ con lên người

lớn. Trong giai đoạn này trẻ em được hình thành những phẩm chất mới về trí

tuệ, tình cảm, ý chí, … tạo những điều kiện thuận lợi để trẻ chuẩn bị thành

người lớn. Nhưng ở giai đoạn này sự phát triển của trẻ diễn ra tương đối phức

tạp, đời sống tâm lý có nhiều mâu thuẫn, nhiều thay đổi đột biến khiến các bật

cha mẹ, những nhà giáo dục phải ngạc nhiên và cảm thấy khó xử.

Đặc trưng của giai đoạn này là sự phát dục hay gọi là dậy thì, nó còn ảnh

hưởng khơng nhỏ đến cá tính của các em. Tuổi dậy thì đã đem lại cho các em

nhiều cảm xúc, ý nghĩa, hứng thú, tính cách mới mẻ mà thường bản thân thiếu

niên cũng không ý thức được.

Ở tuổi thiếu niên, thân thể trẻ em lớn một cách đột ngột về chiều cao, hệ

xương đang tiếp tục cốt hóa và phát triển mạnh. Hệ thần kinh cũng tiếp tục phát

triển và hoàn thiện. Do ảnh hưởng của giáo dục và học tập, vai trò của hệ thống

tính hiệu thứ hai được nâng cao rõ rệt, những kích thích bằng lời giữ vai trò tín

hiệu có ý nghĩa càng lớn lao.

Do vậy công tác giáo dục và huấn luyện vận động viên ở tuổi dậy thì hết

sức phức tạp. Thầy giáo - Huấn luyện viên cần nắm vững các đặc điểm phát

triển tâm sinh lý lứa tuổi để điều chỉnh khối lượng, cường độ vận động và

phương pháp giáo dục để bảo đảm cho thành tích thể thao phát triển bình thường

trước, trong và sau thời kì của tuổi đậy thì

Động cơ và hứng thú học tập, lao động, tập luyện thể thao của thiếu niên có

sắc thái riêng và có ý nghĩa xã hội, sự hứng thú, say mê và sáng tạo trong các

hoạt động của mình đã đem lại cho các em các kết quả đáng kể trong các cuộc



7

thi đấu học sinh giỏi trong và ngoài quốc tế, cả thi đấu thể thao trong và ngoài

nước.

Thực tế trong hoạt động thể thao hiện đại đã có nhưng khẳng định mang

tính chân lý: Thể thao là của tuổi trẻ. Điều đó nói lên sự hứng thú có nhận thức

về hoạt động tập luyện và thi đấu thể thao ở thiếu niên và chiếm ưu thế hơn bất

kì lứa tuổi nào khác.

Tóm lại sự phát triển của trẻ em ở tuổi thiếu niên mang tính độc đáo, nổi

bật nhất là tính chất quá độ “vừa trẻ con vừa người lớn” vì lẽ đó nên trong giáo

dục và đối xử với thiếu niên phải hết sức tế nhị và tôn trọng tính độc lập của các

em nhưng phải hướng dẫn theo dõi kịp thời từng bước phát triển của chúng.

1.2.2. Đặc điểm sinh lý học sinh lứa tuổi 6 đến 15 tuổi:

Đặc điểm đặc trưng của lứa tuổi này là quá trình phát dục mạnh mẽ. Các

tuyến nội tiết (tuyến hạ não, tuyến giáp trạng) tăng cường hoạt động, kích thích

cơ thể lớn lên nhanh mà chủ yếu do chân tay dài ra, đồng thời kích thích tuyến

sinh dục (buồn trứng ở con gái, tinh hoàn ở con trai) bắt đầu hoạt động mạnh

theo kiểu cách của sinh lí người trường thành.

Hàng năm các em cao thêm 7 – 10 cm, chân tay lều nghều, động tác vụng

về, tăng trao đổi chất, xuất hiện các giới tính phụ (trai mọc râu, mọc lông, vỡ

tiếng, …; gái nhiều mỡ dưới da, vú nỡ, tóc dài thêm và mượt, chậu hơng nở rộng

…). Các em muốn làm người lớn, biết lo lắng trách nhiệm, hăng hái nhiệt tình,

hăm hở đi tìm cái mới nhưng chưa có kinh nghiệm, tự lượng sức mình, thường

đánh giá cao khả năng, dễ lẫn lộn giữa dũng cảm với liều lĩnh, giữa khiêm tốn

với nhu nhược, giữa tình cảm đúng với tình cảm sai.

Khi tuyến sinh dục đã hoạt động đủ mạnh, đủ làm xuất hiện giới tính chính (gái

hành kinh, trai xuất tinh trùng) thì trở lại kìm hãm sự hoạt động của hai tuyến hạ

não và giáp trạng. Bởi thế, chiều cao phát triển chậm dần, ít năm nữa sẽ dừng

hẳn, có cao thêm thì cũng chủ yếu do thân mình dài ra ưu thế hơn tay chân, trái

lại các chiều ngang, các vòng cơ thể cùng với sức lực tăng lên rất rõ.



8

Các em gái khi hành kinh, huyết ra ngoài, hồng cầu trong máu giảm tạm

thời, bạch cầu tăng lên, người mệt, nhứt đầu, buồn nôn, dễ cáu gắt, dễ bị nhiễm

trùng qua đường sinh dục, cho nên hết sức chú ý hướng dẫn vệ sinh.

Nói chung, cơ thể học sinh trung học cơ sở đang trên đà phát triển mạnh.

Những sự mất cân đối sâu sắc giữa các mặt đặt yêu cầu cho các nhà giáo dục

phải biết chăm sóc các em thật chu đáo. Thiếu thể dục, vệ sinh, nghỉ ngơi, vui

chơi, giải trí hợp lí sẽ đưa đến những nguy hại không nhỏ. Học tập, lao động quá

sức sẽ dễ dàng gây bệnh. Nhưng nếu hiểu rõ đặc điểm và sử dụng đúng năng lực

các em thì tuổi này có nhiều đóng góp tốt, có nhiều tài năng đang độ nảy nở, kể

cả tài năng về thể dục thể thao.

Để hiểu rõ hơn đặc điểm nói trên, cần biết thêm một số hệ thống cơ quan

dưới đây:

* Hệ thần kinh:

Đã hoàn thiện về cơ cấu tế bào, nhưng chức năng sinh lí vẫn đang phát

triển mạnh. Hưng phấn vẫn chiếm ưu thế, khả năng phân tích tổng hợp mặc dù

còn thấp nhưng sâu sắc hơn tuổi nhi đồng. Dễ thành lập phản xạ, song cũng dễ

phai mờ, cho nên tiếp thu nhanh nhưng cũng chóng quên. Thần kinh thực vật

yếu ớt ở mức độ nhất định, các dấu hiệu về kích thích cảm giác tăng lên, các

biểu hiện chủ quan, lo lắng rất hay gặp, 14% trai và 26% gái xuất hiện trạng thái

đau đầu vô cớ, chống mệt hồi hộp, đơi khi có biểu hiện đau ở vùng dạ dày, dễ bị

chấn thương tinh thần khi rối loạn giấc ngủ, hoặc khi giáo dục sai phương pháp,

khi công việc nặng nhọc, tập luyện quá sức.

* Hệ vận động:

Phát triển đáng chú ý cả về số lượng và chất lượng. Xương đang cốt hóa

mạnh mẽ, dài ra rất nhanh. Các xương nhỏ ở cổ tay, cổ chân đã thành xương

nhưng chưa vững vàng, lao động, tập luyện nặng dễ gây đau kéo dài các khớp

đó. Mãi đến 15 – 16 tuổi cột sống mới tương đối ổn định các đường cong sinh

lý. Nếu đi, đứng, ngồi sai tư thế vẫn có thể bị cong vẹo cột sống. Đặt biệt, đối

với nữ do các xương chậu chưa cốt hóa đầy đủ nên nếu tập luyện không đúng sẽ

bị méo, lệch, ảnh hướng đến chức năng sinh đẻ sau này. Bắp thịt của các em



9

phát triển chậm hơn sự phát triển của xương, chủ yếu phát triển mạnh về chiều

dài, từ 15 – 16 tuổi bắt thịt dần dần phát triển theo chiều ngang. Mặt khác, các

cơ co và cơ to phát triển nhanh hơn các cơ duỗi và nhỏ.

Do sự phát triển cơ bắp khơng nhịp nhàng, thiếu cân đối đó khiến các em không

phát huy được khả năng sức mạnh của mình, đồng thời xuất hiện mệt mỏi. Vì

vậy, việc tập luyện thể dục thể thao cho các em phải mang tính chất phong phú,

hấp dẫn và đảm bảo sự phát triển toàn diện các tố chất thể lực, chú ý tăng cường

phát triển sức mạnh cơ bắp bằng những bài tập có cường độ trung bình.

* Hệ tuần hồn:

Cơ năng hoạt động của tim còn chưa được vững vàng, cơ năng điều tiết

hoạt động của tim chưa được ổn định, sức co bóp còn yếu, hoạt động q nhiều,

q căng thẳng sẽ chóng mệt mỏi.

Tập thể dục thường xuyên ảnh hưởng đến hệ thống tuần hoàn, quả tim

dần dần thích ứng và có khả năng chịu đựng với khối lượng làm việc nặng nhọc

sau này. Nhưng trong quá trình tập luyện cần tôn trọng nguyên tắc tăng dần từ

nhẹ đến nặng, không nên để các em hoạt động quá sức và quá đột ngột. Trong

giáo dục cần chú ý theo dõi hoạt động của tim mạch để có căn cứ định ra kế

hoạch rèn luyện và chăm lo sức khoẻ cho học sinh, vì lứa tuổi này hệ tuần hồn

có nhiều đột biến, diễn ra rất phức tạp nhưng vẫn không theo kịp tốc độ phát

triển quá mạnh mẽ của tồn bộ cơ thể.

* Hệ hơ hấp:

Phổi các em phát triển chưa hoàn chỉnh, các ngăn buồng túi phổi đang

còn nhỏ, các cơ hơ hấp phát triển còn yếu, dung lượng khí mỗi lần thở nhỏ, sự

điều tiết của hệ thần kinh trung ương đối với việc thở chưa được bền vững và

nhịp nhàng. Vì vậy khi hoạt động khẩn trương nhịp thở nhanh, không giữa được

nhịp thở tự nhiên, không kết hợp với động tác, làm cho cơ thể chóng mệt mõi.

Cho nên trong tập luyện thể dục thể thao cần hướng dẫn cho các em về thở; biết

cách thở sâu, thở nhịp nhàng tự nhiên, nhất là việc kết hợp thở với động tác, giữ

vững nhịp thở trong các hoạt động khẩn trương, cần tránh những bài tập tĩnh lực



10

với thời gian dài, vệ sinh trong khi thở, biết tìm chọn nơi khơng khí trong lành

để tập luyện, biết cách bảo vệ đường hô hấp.

Mặt khác, quan trọng hơn là cần tập luyện những bài tập phát triển mạnh

mẽ, cân đối tồn diện các cơ hơ hấp, phát triển nhanh chóng lơng ngực cả ba

chiều (trên dưới, trước sau, phải trái) nhằm đáp ứng tốt yêu cầu vận động.

Căn cứ và đặc điểm nêu trên, ở lứa tuổi này cần chú ý giáo dục giới tính

đồng thời tạo tạo môi trường sống thật thuận lợi cho các em.

Thể dục thể thao đã phân môn và nâng cao kĩ thuật, trai gái tập theo

những hình thức và khối lượng khác nhau. Cần bồi dưỡng năng khiếu thể thao

đang bộc lộ. Trên cơ sở tập luyện toàn thân, toàn diện mà ưu tiên phát triển các

chiều dài trong cơ thể (ở tuổi tiền dậy thì) hoặc ưu tiên phát triển chiều ngang và

chiều vòng (từ khi hết tiền dậy thì) ưu tiên phát triển sức nhanh, sức khéo léo và

sức mạnh, có chú ý phát triển sức bền chung (ở cả tiền dậy thì và dậy thì, đặc

biệt từ khi dậy thì chính thức).[8, 25]

1.2.3. Đặc điểm về hoạt động và môi trường sống của học sinh lứa tuổi 6 đến

15 tuổi.

Nếu như ở bậc mầm non hoạt động chủ đạo của trẻ là vui chơi, thì đến

tuổi tiểu học hoạt động chủ đạo của trẻ đã có sự thay đổi về chất, chuyển từ hoạt

động vui chơi sang hoạt động học tập. Tuy nhiên, song song với hoạt động học

tập ở các em còn diễn ra các hoạt động khác như:

+ Hoạt động vui chơi: Trẻ thay đổi đối tượng vui chơi từ chơi với đồ vật

sang các trò chơi vận động.

+ Hoạt động lao động: Trẻ bắt đầu tham gia lao động tự phục vụ bản thân

và gia đình như tắm giặt, nấu cơm, quét dọn nhà cửa,...Ngồi ra, trẻ còn tham

gia lao động tập thể ở trường lớp như trực nhật, trồng cây, trồng hoa,...

+ Hoạt động xã hội: Các em đã bắt đầu tham gia vào các phong trào của

trường, của lớp và của cộng đồng dân cư, của Đội thiếu niên tiền phong,...[16,

17]



11

1.3. Lợi ích và tác dụng của môn bơi lội đối với học sinh Tiểu học và THCS:

Bơi lội là môn thể thao giúp phát triển cơ thể một cách toàn diện và cân

đối nhất.

Khi tham gia vào hoạt động bơi lội thì cơ thể chúng ta sẽ phải vận động

tồn thân, điều này tạo cho ta một thân thể phát triển toàn diện cân đối và đẹp

một cách tự nhiên. Với những người thường xuyên bơi lội thì chúng ta sẽ rất dễ

dàng nhận ra những điểm cắt cơ bắp đẹp mắt trên cơ thể của họ.Nếu quan sát kỹ

thì bạn có thể dễ dàng thấy được, khi bơi thì chúng ta sẽ vận động từ đầu đến

chân, hơn nữa có hiệu năng massage tự nhiên tốt nhất, có thể thúc đẩy tuần hoàn

máu của hệ thống huyết quản toàn thân, tăng cường thay thế, làm tăng tiêu hao

mỡ, thúc đẩy sự phát triển của cơ bắp của chân tay, bụng, đùi, lưng… tăng

cường công năng cơ quan nội tạng, đề cao sức đề kháng của cơ thể, thực hiện

quá trình giảm béo nhẹ nhàng, thoải mái.Ngồi ra khi bơi thì chân, tay và thân

người ln ln vươn về phía trước nên sẽ hữu ích trong việc phát triển nhanh

chóng về chiều cao (nhất là trong tuổi thanh, thiếu niên) cũng như phòng chống

cong vẹo cột sống (do thiếu vận động hay ngồi một chỗ nhiều)

Bơi lội giúp phòng trị viêm khớp hiệu quả.

Theo các chuyên gia thì bơi lội là một dạng tập luyện chịu tác động thấp, sự

không trọng lượng của nước giúp giảm áp lực vào các khớp giúp loại bỏ khả

năng bị đau lưng, gối và các nhóm cơ khác.

Các nghiên cứu mới nhất về sức khoẻ còn cho rằng bơi lội đều đặn làm cho

các khớp hoạt động tốt hơn, có tác dụng trong chữa bệnh viêm khớp mãn tính.

Đặc biệt người cao tuổi hay bị đau lưng thì bơi lội là phương pháp lý tưởng để

giảm đau.



12

Bơi lội giúp cho hệ thống tuần hồn, hơ hấp và thần kinh hoạt động tốt

hơn bình thường.

Tham gia vào hoạt động bơi lội sẽ giúp cho tim bóp mạnh hơn bình thường,

số lần đập của tim giảm từ 60 - 45 lần/phút. Phế lượng của phổi lớn hơn, bởi vậy

lồng ngực của vận động viên bơi lội to hơn người thường rất nhiều.

Ngoài ra do sự hoạt động liên tục của đôi chân, tác động đến các cơ bụng

giúp bộ máy tiêu hóa hoạt động tốt hơn. Bơi lội còn tác động tốt đến sự phát

triển của hệ thống thần kinh, giúp cho hệ thống thần kinh cân bằng, bền vững.

Bơi lội tốt cho tuần hoàn máu.

Áp lực nước vào chân và tay cũng có lợi ích cho hệ tuần hoàn máu. Áp lực

nước cộng với áp lực của cơ ép vào các mạch máu giúp lưu thông máu trở lại

tim phổi.

Khi chúng ta bơi khoảng 30 - 60 phút mỗi ngày và 3 - 4 ngày mỗi tuần có

thể giúp giảm nguy cơ tim mạch, đột quỵ và tiểu đường. Như một hình thức vận

động thường xuyên, bơi lội có thể giúp giảm huyết áp và lượng cholesterol.

Bơi lội kích thích cho ta ăn ngon, ngủ say, giúp cơ thể tăng trưởng nhanh

chóng.

Việc sử dụng một lượng calo khá lớn trong khi bơi nên sau khi bơi chúng ta

thường cảm thấy đói, kích thích sự ăn ngon, ngủ khỏe, giúp cho cơ thể cường

tráng và phát triển tồn diện. Một vận động viên bơi lội thường có một thân hình

phát triển rất cân đối, lý tưởng và vô cùng hấp dẫn.

Bơi lội giúp giải tỏa áp lực, stress hiệu quả.

Theo các thống kê thì có tới hơn 75% người tham gia bơi lội cho rằng

những áp lực và căng thẳng mà họ gặp phải trong công việc, cuộc sóng hàng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×