Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nguyên lý thủy động lực học:

Nguyên lý thủy động lực học:

Tải bản đầy đủ - 0trang

18

Những nhân tố cấu thành lực cân: Hình dáng của vật chuyển động (C),

hình chiếu (S), tốc độ (V2), mật độ của nước hay độ đậm đặc của nước (P).

Lực cân của nước đối với cơ thể khi chuyển động trong nước biểu thị

bằng công thức:



F=-



S.C.V2.P



Cân bằng động năng và thế năng.



S Diện tích hình chiếu của vật thể.

C Hệ số lực cân hình dạng và tính chất bề mặt của vật thể.

V2 Bình phương tốc độ

P Độ đậm đặc của nước (nước sạch thường là 1, nước bẩn >1).

Lực cân con người phải gánh chịu khi bơi: Lực cân ma sát, lực cân do

chênh lệch áp lực, lực cân của sóng, lực đẩy trong bơi.

Những lực cơ thể phải chịu khi bơi:

Khi cơ thể nằm im trong nước, chỉ có tác dụng của hai lực là trọng lực và

lực nổi…khi tay chân hoặc bất cứ bộ phận nào của cơ thể sinh ra lực, lực này tác

dụng vào trọng tâm cơ thể giúp cơ thể tiến về trước, gọi chung là lực đẩy và lực

hạn chế tiến về trước gọi là lực cân.

Kỹ thuật bơi hợp lý:

Khi tập bơi người tập cần tạo cho mình một kỹ thuật bơi phù hợp, cố tốc

độ, tiết kiệm sức và có thể di trì hoạt động liên tục trong thời gian dài.



19

Kỹ thuật bơi hợ lý phải phù hợp với các nguyên tắc sau: bơi phải phát huy

năng lực, khả năng của cơ thể, phù hợp với đặc điểm cấu trúc giải phẫu, chức

năng sinh lý của cơ thể, đồng thời sử dụng đầy đủ các đặc điểm để đạt được hiệu

quả cao.

Kỹ thuật bởi phải xoay quanh “hiệu lực thực tế” để lợi dụng triệt để hình

dạng, tốc độ của các bộ phận vậng động, nhằm phát huy hiệu ứng lực trong

phạm vi cho phép.

Kỹ thuật bơi phải lấy hiệu lực thực tế làm tiền để để suy xét đến sự được

và mất của kỹ thuật từng phần. Đồng thời kết hợp với đặc điểm cụ thể của từng

người nhằm phát huy kỹ thuật mang phong cách riêng.

Kỹ thuật bời phải phù hợp với thể trạng của từng người, phù hợp với tố

chất, đồng thời còn có thể dựa vào những phần có lợi của kỹ thuật.

1.5.5. Chức năng sinh lý của cơ thể và ảnh hưởng của nó đến việc học bơi:

Sự trao đổi chất và thở:

Trong cơ thể con người ln diễn ra q trình trao đổi chất. Nguồn năng

lượng cần thiết cho sự sống và hoạt động của con người được sản sinh trong q

trình sinh hốt phức tạp.

Khi hoạt động với cường độ cao cơ thể đòi hỏi nhiều ô xy. Khi hoạt động

trong môi trường nước quá trình tỏa nhiệt tăng lên, quá trình trao đổi chất được

tăng cường tạo nên nhiều nhiệt lượng cung cấp cho cơ thể. Khi bơi làm tăng quá

trình trao đổi chất.

Yêu cầu trong khi bơi rất lớn, do đó cân chú ý hoàn thiện kỹ thuật thở.

Trong bơi lội động tác thở liên quan mật thiết đến cấu trúc động tác bơi. Thở

hợp lý nhất là theo từng chu kỳ động tác.

Luôn phiên giữa dùng sức và thả lỏng: Cơ bắp của con người chỉ có thể

hoạt động tích cực với thời gian dài dùng sức và thả lỏng tốt sẽ tạo khả năng



20

hoạt đơng lâu dài và ít mệt mỏi. Cho nên, cấu trúc động tác bơi phải thế nào để

sau khi dùng sức, cơ bắp chân, tay có khả năng thả lỏng.

Hoạt động tuần hoàn và hoạt động cơ bắp:

Trong khi tập bơi tim phải làm việc tích cực để cung cấp máu cho nhu cầu

vận động. Khi cơ bắt hoạt động mạnh, số lượng máu do tim cung cấp cho cơ thể

trong một đơn vị thời gian tăng từ 6 đến 8 lần so với mức bình thừng, nhờ đó mà

cơ bắp hoạt động liên tục. Nhưng nếu tất cả các nhóm cơ đều hoạt động tích cực

thì hệ tuần hồn khơng thể đảm bảo cung cấp máu đầy đủ cùng một lúc cho tất

cả các nhòm cơ, vì vậy khi bơi cần phải biết loại trừ những cơ hoạt động không

cần thiết.

Hoạt động của hệ thần kinh trung ương và quá trình hình thành định hình

động lực.

Khi bơi chỉ được phát huy hiệu lực tốt khi ngươi bơi nắm vững kỹ thuật.

Trong quá trình lặp đi lặp lại nhiều lần các động tác, kỹ thuật sẽ dần dần trở

thành định hình động lực.

Hệ thống thần kinh trung ương quy định và điều khiển mức độ luôn phiên

giữa dùng sức và thả lỏng các cơ bắp khác nhau. Q trình học tập và hồn thiện

những động tác mới là quá trình hình thành phản các phản xạ có điều kiện.

Trong tập luyện, động tác lặp đi lập lại nhiều lần, sẽ thiết lập nên mối

quan hệ tạm thời giữa hệ thống thần kinh trung ương với các cơ quan vận động,

những cơ quan nội tạng và những bộ phận khác nhau trong cơ thể. Do đó khả

năng vận động được thiết lập và phát triển.

Đặc điểm cá nhân có ảnh hưởng đến kỹ thuật bơi:

Mỗi người có những tính chất và đặc điểm riêng biệt như chiều cao, trong

lựng, chiều dài của tay, chân…Tất cả những điều đó đều ảnh hưởng trực tiếp đến

kỹ thuật bơi. Để xác định kỹ thuật bời phù hợp với đặc điểm của từng học sinh



21

cần có kiến thức rộng rã, áp dụng phù hợp với đặc điểm cá nhân. Không nên vì

quá chiếu cố đặc điểm cá nhân mà làm ảnh hửng đến cấu trúc hợp lý của từng kỹ

thuật. [17]

1.5.6. Đặc điểm phát triển tố chất thể lực học sinh lứa tuổi 6 đến 15 tuổi:

Con người mới sinh ra có khả năng vận động rất hạn chế về số lượng và

mức độ phức tạp của động tác. Hầu hết các hoạt động vận động của con người

có được là nhờ rèn luyện trong quá trình sống. Trong quá trình rèn luyện, các kỹ

năng kỹ xảo mới được hình thành, các kỹ năng thường hưởng nhờ bẩm sinh, si

truyền cũng được củng cố. Nhờ tập luyện, con người dần dần lĩnh hội được các

động tác đơn lẻ hoặc các hoạt động toàn vẹn. Về mặt sinh lý vận động, quá trình

hình thành các kỹ năng vận động là quá trình phức tạp, gần liền với quá trình

hình thành và củng cố các phản xạ có điều kiện, xong q trình này lại liên quan

chặt trẽ với sự phát triển các tố chất thể lực.

Trong hoạt động thể dục thể thao, cơ chế sinh lí của các tố chất thể lực rât

đa dạng và phức tạp, hiệu quả phụ thuộc vào công suất hoạt động, cơ cấu động

tác, thời gian dùng sức, sự hiểu biết….khả năng hoạt động thể lực có thể biểu

hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, các mặt khác nhau của khả năng hoạt động

thể lực đó được gọi là tố chất vận động. Có 5 tổ chất thể lực cơ bản là: Sức

nhanh, sức mạnh, sức bền, độ dẻo, khả năng phối hợp vận động (khéo léo). Các

tố chất thể lực có liên quan chặt trẽ với kỹ năng vận động. Sự hình thành kỹ

năng vận động phụ thuộc nhiều vào mức độ phát triển các tố chức thể lực và

ngược lại, trong quá trình thành ký năng vận động, các tố chất thể lực cũng được

hoàn thiện thêm. Trong GDTC việc dạy học động tác cũng góp phần nâng cao

các tố chất thể lực và ngườc lại, trong khi tập cac bài tập thể lực (Giáo dục các

tố chất thể lực) tuy việc nâng cao các tốt chất thể lực chiếm ưu thế, xong các kỹ

năng vận động, khả năng hình thành động tác, khả năng phối hợp vận động cũng

được hình thành. Mức độ phát triển các tố chất thể lực phụ thuộc vào trạng thái

cấu tạo và chức năng của cơ quan trong cơ thể. Đây là hai mặt của một quá trình



22

phát triển và hoạn thiện các cơ quan trong cơ thể. Đây là hai mặt của một q

trình mà cơng tác chuẩn bị thể lực phải hướng tới để điều khiển các q trình đó.

Cơ thể con người từ lúc sinh ra cho đến khoảng 25 tuốt phát triển theo

hướng đi lên, sau đó chậm dần và suy giảm theo qui luật sinh học. Từ đó sự

thích nghi của các hệ thống cơ quan trong cơ thể con người đối với những điều

kiện sống mời và thay đổi môi trường cũng trở nên khó khăn.

Ở lứa tuổi 6 đến 15 tuổi các hệ thống cơ quan quan trọng và thể chất của

con người chưa hoàn thiện. Lứa tuổi này xưng và khớp bắt đầu tăng về kích

thước và số lượng, ở lứa tuổi này chiều cao đang tăng dần do sự phát triển các

chức năng sụn, đệm giữa các khớp xương. Các tổ chức sụn đệm này sẽ tăng dần.

Mặt khác cơ thể sẽ phát triển mạnh theo bề ngang và trọng lượng cơ thể, nếu

được tập luyện TDTT thường xuyên thì mức độ linh hoạt của khớp xương thay

đổi tăng dần.

Ở lứa tuổi này cơ bắp dần dần phát triển, tạo điều kiện thuận lợi để tập

luyện phát triển sức mạnh và bền. Cơ thể conn người có khả năng hoạt động

cao. Tập luyện TDTT có hệ thống, khoa học sẽ làm tăng lực co cơ chính là nhờ

tăng tiết diện ngang cũng như tăng độ đàn hồi của cơ. Các khả năng sinh học của

cơ thể cho phép tập luyện tất cả các môn thể thao và ở lứa tuổi này có thể đạt

được những thành tích trong các mơn thể thao mang tính nghệ thuật (thể dục

dụng cụ, thể dụng nghệ thuật) cũng như trong bơi lội và các môn thể thao khác.

Những môn thể thao sức mạnh, sức bền thì thành tích cao nhất lại đạt ở lứa tuổi

cao hơn. Tóm lại có thể nói rằng ở lứa tuổi 6 đến 15 tuổi có thể học tất cả các

môn thể thao nếu được đào tạo cơ bản.

Trong quá trình giáo dục thể chất cho học sinh, giáo dục tố chất thể lực

được coi là vấn đề quan trọng, vì vậy việc phát triển các tố chất thể lực một cách

toàn diện là nhiệm vụ bắt buộc đối với những người làm công tác thể dục thể

thao quần chúng. Các tố chất thể lực con người có mối quan hệ biện chứng,

thống nhất và ràng buộc chặt trẽ với nhau theo D Harre: “Sự phát triển cực hạng



23

của một năng lực thể chất nào đó chỉ có được trên cơ sở nâng cao các khả năng

chức phận chung của cơ thể”.

Khi sử dụng các phương tiện, phương pháp, điều kiện chuyên môn để

phát triển các tố chất thể lực người ta thường xem xét dưới ba góc độ:

Sự phát triển hài hòa thống nhất các tố chất thể lực của cơ thể, sự phát

triển tương hỗ và sự chuyển lẫn nhau giữa các tố chất thể lực, sự hạn chế lẫn

nhau trong việc phát triển các tố chất thể lực. Ở lứa tuổi này năng lực phát triển

chậm. Giai đoạn này hầu hết các tố chất thể lực chưa phát triển. Vì vậy giáo dục

tố chất vận động cho học sinh cần phải được đặc biệt chú trọng cho phù hợp với

đặc điểm lứa tuổi.[20, 28]



24



CHƯƠNG 2

PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1. Phương pháp nghiên cứu:

Để giải quyết các nhiệm vụ, tôi áp dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

2.1.1. Phương pháp tham khảo tài liệu:

Ngoài nguồn tài liệu đã ghi chép trong quá trình học tập và thu thập tài liệu

có liên quan trong các sách, báo, tạp chí …, chúng tơi còn nghiên cứu một số

sách chun mơn có liên quan đến đề tài như: sách kỹ thuật giảng dạy bơi lội trẻ

em, các tài liệu mơn sinh lý, sinh hóa, sinh cơ, tốn thống kê, lý luận và phương

pháp giáo dục thể dục thể thao để xác định hiệu quả một số bài tập kỹ thuật và

thể lực trong giảng dạy bơi lội, nhằm hạn chế tình trạng đuối nước ở trẻ em lứa

tuổi 6-15 tuổi.

Áp dụng phương pháp này nhằm mục đích xây dựng cơ sở lý luận cho việc

giải quyết các mục tiêu nghiên cứu của đề tài.

2.1.2. Phương pháp phỏng vấn:

Phương pháp phỏng vấn nhằm tìm thơng tin liên quan đến các bài tập kỹ

thuật và thể lực lực trong giảng dạy bơi lội, nhằm hạn chế tình trạng đuối nước ở

trẻ em lứa tuổi 6-15 tuổi. Xác định chính xác các bài tập đã tìm được ở phương

pháp tham khảo tài liệu.

- Khách thể phỏng vấn gồm 30 người, số phiếu phát ra 30, số phiếu thu vào là

20 phiếu các chuyên gia, huấn luyện viên, giáo viên bơi lội trong huyện Tân

Hiệp và trong tỉnh Kiên Giang.

- Hình thức phỏng vấn: phỏng vấn gián tiếp thông qua phiếu câu hỏi.



25

2.1.3. Phương pháp kiểm tra sư phạm:

Đề tài tiến hành sử dụng phương pháp kiểm tra sư phạm bằng hình thức sử

dựng các test:

* Test nổi nước

- Mục đích: Giúp học sinh biết cách nhịn thở dưới nước, có cảm giác về lực

nổi.

- Đơn vị tính: Giây

- Sân bãi dụng cụ: Hồ bơi có mực nước 0,8m, còi, đồng hồ bấm giây.

- Phương pháp kiềm tra và cơng nhận thành tích: Học sinh đứng dưới nước

khi nghe tiếng còi, hít thật sâu 1 hơi dài nhịn thở, từ từ thả lỏng 2 tay và 2 chân

cơ thể nổi lên mặt nước ( tính giây) đến khi cơ thể khơng còn nổi lên mặt nước

hoặc đầu ngẩn, 2 chân đã chạm đất, tính thành tích.



* Test lướt nước :

- Mục đích: Giúp học sinh làm quen với tư thế hoạt động thăng bằng ổn

định, có cảm giác tốt hơn về lực nổi dưới nước, bớt sợ nước làm cơ sở cho việc

học kỹ thuật.

- Đơn vị tính: mét

- Dụng cụ - sân bãi: Hồ bơi, còi, thước dây.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nguyên lý thủy động lực học:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×