Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Những kết quả đạt được và nguyên nhân

Những kết quả đạt được và nguyên nhân

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Huy động được nhiều nguồn vốn đầu tư, thực hiện định

hướng đầu tư, giữ vững vai trò nòng cốt của Nhà nước trong

đầu tư phát triển đào tạo nghề: Thực hiện xã hội hóa đào tạo

nghề, các cấp chính quyền có sự thay đổi nhận thức về vai trò

đầu tư phát triển đào tạo nghề, đã đề râ cơ chế, chính sách thu

hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư'cho đào tạo nghề.

Thực hiện mục tiêu tăng nhanh nguồn vốn đầu tư đáp ứng

yêu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng đào tạo, tổng số

vốn đầu tư từ năm 1999 đến nay tăng lên nhanh chóng, hàng năm

tăng trên 40%.

Vai trò của Nhà nước trong việc tạo động lực đầu tư phát

triển đào tạo nghề có sự thay đổi theo hướng tích cực cả về quy

mô và cơ cấu. Nguồn vốn từ Nhà nước cấp cho đào tạo nghề từ

năm 1999 đến nay tăng đáng kể, trung bình năm sau cao hơn

năm trước 20%, giữ vững tỷ trọng vốn đầu tư của Nhà nước

chiếm trên 50% tổng vốn đầu tư, thực tế đạt 58,9 % tổng nguồn

vốn đầu tư phát triển đào tạo nghề.

Đổi mới hoạt động đầu tư, nhất là các nguồn vốn từ ngân

sách, nguồn vốn từ nước ngoài. Tập trung đầu tư nâng cấp cơ sở

vật chất, đào tạo đội ngũ giáo viên, xây dựng nội dung chương

trình, biên soạn giáo trình tài liệu, khắc phục được tình trạng

trước đó chủ yếu chi thường xuyên. Tỷ trọng chi chương trình

mục tiêu, chi đầu tư xây dựng cơ bản trong tổng chi ngân sách

cho đào tạo nghề chiếm trên 50%.

- Từng bước thực hiện công bằng trong đầu tư phát triển đào

tạo nghề: Đầu tư được thực hiện công bằng hơn. Khắc phục được

tình trạng nhiều tỉnh khơng có trường dạy nghề. Chú trọng đào

tạo nghề cho đối tượng là nông dân, bộ đội xuất ngũ, vùng sâu,

134



vùng xa. Hình thành các quỹ khuyến học, ngân hàng chính sách

cho học sinh vay ưu đãi. Thực hiện ưu tiên tuyển sinh, miễn,

giảm học phí, trợ cấp xã hội cho các đối tượng chính sách.

Thứ hai, dã chủ động, tích cực xây dựng chiến lược định

hướng, quy hoạch, k ế hoạch đầu tư phát triển đào tạo nghề

Trong quá trình xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch

đầu tư phát triển đào tạo nghề đã chú ý đến chiến lược phát triển

đào tạo nghề cho cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, chiến lược thu

hút các nguồn vốn đầu tư, thực hiện xã hội hóa đào tạo nghề là

chủ trương chiến lược lâu dài, chú ý đến định hướng un tiên đầu

tư, hiệu quả đầu tư. Đào tạo nghề và đầu tư phát triển đào tạo

nghề đã thực hiện quy hoạch tổng thể trên phạm vi cả nước, đồng

thời các tỉnh, thành phố có quy hoạch riêng cho địa phương dựa

trên chiến lược và quy hoạch quốc gia. Trong quy hoạch đã chú ý

đến quy hoạch hệ thống cơ sở dạy nghề, nguồn vốn đầu tư, đất

đai ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở dạy nghề.

Thứ ba, bước đầu hồn thiện chính sách, pháp luật vê đầu tư

phát triển đào tạo nghê

Từ năm 1998 đến nay, hệ thống chính sách, pháp luật về đào

tạo nghề được tích cực nghiên cứu, xây dựng và hồn thiện. Đã

ban hành các văn bản pháp luật để tạo cơ sở pháp lý thu hút đầu

tư, hướng dẫn quản lý các hoạt động đầu tư, đặc biệt là quản lý

nguồn vốn đầu tư từ NSNN. Những chính sách, pháp luật khuyến

khích đầu tư phát triển đào tạo nghề mang tính đột phá trong giai

đoạn này là:

Luật Giáo dục và Luật Dạy nghề, trong đó đã có một số điểu

khoản quy định về đầu tư cho đào tạo nghề.

135



Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Lao

động và Luật Giáo dục vể dạy nghề, trong đó vấn đề đầu tư cho

đào tạo nghề dược ưu tiên, nhằm phát triển đào tạo nghề, khắc

phục sự hụt hẫng, thiếu trầm trọng đội ngũ công nhân lành nghề

hiện nay.

Về đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động đào tạo nghề, đã ban

hành 3 nghị quyết, quyết định của Chính phủ tạo điều kiện cho

hàng loạt các cơ sở dạy nghề ngồi cơng lập, các cơ sở dạy nghề

tại doanh nghiệp ra đòri, đã tận dụng và khai thác được năng lực

của các cơ sở đào tạo ngoài hệ thống dạy nghề.

Nghị định của Chính phủ về quyền tự chủ, tự chịu trách

nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài

chính đối với đom vị sự nghiệp công lập đã tạo cơ chế phát huy

sáng tạo của cơ sở.

Nghị định về hợp tác đầu tư với nước ngồi trong lĩnh vực

giáo dục và đào tạo, Thơng tư hướng dẫn hoạt động đầu tư nước

ngoài trong lĩnh vực dạy nghề là những quy định mang tính pháp

lý đầu tiên, quan trọng về thu hút đầu tư cho đào tạo nghề, mở ra

những hoạt động mới về thu hút nguồn lực từ nước ngoài.

Thứ tư, thực hiện các biện pháp thu hút và sử dụng hiệu quá

các nguồn vốn đầu tư phát triển đào tạo nghề

Mở rộng các hoạt động thu hút đầu tư như tuyên truyền, hội

thảo, ban hành và phổ biến, hướng dẫn văn bản về chính sách,

pháp luật về đầu tư.

Việc thực hiện các hoạt động đầu tư đã đảm bảo đầy đủ các

thủ tục, hồ sơ, chấp hành đúng quy trình, quy phạm. Quản lý

chặt chẽ quy trình lập và thẩm định dự án đầu tư. Tổ chức đấu

thầu, chỉ định thầu, lập và thẩm định, phê duyệt quyết toán theo

quy định. Thực hiện được mục tiêu, tiến độ đầu tư.

136



Thứ năm, tăng cường cơng tác kiểm tra, giám sát

Đã kiện tồn đội ngũ cán bộ thanh tra, đổi mới công tác

kiểm tra, giám sát các hoạt động đầu tư, thu, chi tài chính, bước

đầu giúp cho lãnh đạo quản lý các hoạt động đầu tư sát với mục

tiêu, định hướng đề ra. Chú ý kiểm tra hoạt động đầu tư ngay từ

khi lập dự án, đề án mở cơ sở dạy nghề mới hoặc các hoạt động

đầu tư từ NSNN.

Thứ sáu, bộ máy tổ chức và cán bộ quản lý nhà nước vê

quản lý đầu tư đã được kiện tồn lại

Chính phủ đã thành lập lại Tổng cục Dạy nghề, tách QLNN

từ một bộ phận của một vụ thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo thành

Tổng cục Dạy nghề. Hệ thống QLNN về dạy nghề từ trung ương

đến địa phương đang được củng cố, sắp xếp lại, hình thành các

phòng Dạy nghề trực thuộc các sở Lao động - Thương binh và

Xã hội. Bộ máy QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề được

kiện tồn và có sự phân cấp quản lý. Cán bộ QLNN về đầu tư

phát triển đào tạo nghề được tăng cường, nâng cao trình độ và

đầu tư phương tiện làm việc.

Nguyên nhàn của những kết quả trén là:

Thứ nhất, nhận thức mới và đúng đắn của Đảng, Nhà nước,

nhân dân về đầu tư phát triển đào tạo nghề: Đảng, Nhà nước đã

đánh giá cao vai trò to lớn của đào tạo nghề trong thời kỳ chuyển

sang nền KTTT, đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất

nước và hội nhập quốc tế. Nhất là từ khi Nghị quyết Hội nghị

Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai (Khố VIII) đã

khẳng định vai trò của đào tạo nghể trong việc phát triển kinh tế

- xã hội, tạo ra sự chuyển biến về nhận thức tích cực của các cấp,

137



các ngành và của toàn xã hội đối với đào tạo nghề, qua đó tàng

cường đầu tư, tạo tiền đề thuận lợi cho đào tạo nghề phát triển

Thứ hơi, một sô' chủ trương đúng hướng đã làm thay đổi dầu

tư phát triển đào tạo nghề: Chủ trương gắn đào tạo với sản xuất,

với việc làm, các doanh nghiệp tự tổ chức đào tạo, mở nhiều ìớp

dạy nghề tại xưởng, tại nhà v.v làm cho hệ thống dạy nghề phát

triển đa dạng, phong phú, huy động được nguồn lực trực tiếp tại

doanh nghiệp như: kinh phí, nhà xưởng, máy móc, thiết bị, dội

ngũ giáo viên, cán bộ kỹ thuật, gắn học lý thuyết với thực hành

và giải quyết việc làm.

Chủ trương đa dạng hố loại hình đào tạo, nghề đào tạo,

phương thức đào tạo và chủ trương xã hội hoá đào tạo nghề được

khởi xướng từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới được duy trì,

mở rộng và đẩy mạnh hơn, đã huy động được nhiều nguồn lực

đầu tư cho phát triển đào tạo nghề.

Thứ ba, tập trung hoàn thiện quản lý nhà nước về đào tạo

nghề, trong đó có quản lý nhà nước vê đầu tư phát triển đào tạo

nghê: Việc tái lập Tổng cục Dạy nghề, các phòng Dạy nghề giúp

cho hệ thống quản lý đào tạo nghề được củng cố, tăng cường,

đẩy mạnh hoạt động đào tạo nghề, phát triển hệ thống dạy nghể.

Việc ban hành Luật Giáo dục, Luật Dạy nghề và một số văn bản

dưới luật, nhất là những vàn bản quy định riêng cho đào tạo nghé

đã tậo cơ sở pháp lý hết sức quan trọng cho đầu tư phát triển đào

tạo nghé.

Thứ tư, sự tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện thuận lợi cho đầu

tư phát triển đào tạo nghê: Nền kinh tế thị trường, cùng với nó là

những thành tựu hết sức to lớn về kinh tế trong những năm qua

làm tiền đề quan trọng để NSNN ngày càng tãng, có điều kiện để

138



đầu tư cho đào tạo nghề. Đồng thời kinh tế tăng trưởng tạo việc

làm cho người lao động và khuyến khích người lao động nâng cao

tay nghề. Tổng sản phẩm trong nước bình quân hàng năm giai

đoạn 2000 - 2005 tăng 7,51%, dự kiến 2006 - 2010 tang 7,5% 8%, thu ngân sách vượt dự kiến, 5 năm 2000 - 2005 tạo được 7,5

triệu việc làm cho người lao động [46, tr.56,76]. Đây là động lực

trực tiếp thúc đẩy các nguồn vốn đầu tư cho đào tạo nghề.

Thứ năm, sự viện trợ của nước ngoài: Sự viện trợ của các

nước và tổ chức quốc tế cho đào tạo nghề (viện trợ khơng hồn

lại chiếm 9% tổng vốn đầu tư) đã tạo động lực cho đào tạo nghể

phát triển. Các nguồn vốn viện trợ đều có dự án rõ ràng, đầu tư

có trọng tâm, trọng điểm, đồng bộ, nhất là các dự án đầu tư cơ sở

dạy nghề đạt chuẩn, dự án đầu tư cho biên soạn giáo trình, tài

liệu đã đem lại hiệu quả tích cực. Các dự án được đánh giá, thẩm

định, quản lý chặt chẽ, là nguồn vốn đầu tư có hiệu quả cao.

2. Những hạn chê và nguyên nhân

Thứ nhất, cơ cấu đầu tư phát triển đào tạo nghê chưa hợp lý,

thiếu tập trung.

Mặc dù đầu tư phát triển đào tạo nghề những năm gần đây

tăng lên nhanh chóng, thu hút được các thành phần kinh tế và

người học đầu tư phát triển đào tạo nghề, nhưng vốn đầu tư còn

chưa hiệu quả. Đó là: Đầu tư thiếu tập trung, còn dàn trải và cơ

cấu chưa hợp lý; nguồn vốn ngân sách nhà nước còn hạn hẹp,

vẫn áp dụng cơ chế cấp phát; nguồn vốn ngoài ngân sách nhà

nước huy động chưa tương xứng điểu kiện xã hội; cơ cấu đầu tư

còn nhiều bất hợp lý, nhất là đầu tư còn quá chênh lệch giữa các

vùng kinh tế, giữa thành thị và nông thôn; chưa điều chỉnh mạnh

139



phân bổ vốn đầu tư theo hướng cầu, tức là chỉ đầu tư đà( tạo

những nghề xã hội cần.

Thứ hai, về xây diùig chiến lược định hướng, quy hoạct, kê

hoạch đầu tư phát triển đào tạo nghề

Trong điều kiện nước ta chuyển sang nền KTTT có sự ;uản

lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiệi hội

nhập sâu rộng vào khu vực và quốc tế. Nền kinh tế đang tíd cực

chuyển sang nền KTTT, cho đến nay các nước ASEAN đã :ơng

nhận Việt Nam có nền KTTT đầy đủ. Nhưng quá trình đổi mới

QLNN về đầu tư phát triển đào tạo nghề chưa theo kịp xã hộ hóa

đào tạo nghề. Còn một số tồn tại chủ yếu sau:

Chiến lược định hướng chưa xác định rõ mơ hình đà< tạo

nghề trong KTTT làm căn cứ cho định hướng đầu tư, chưa tio sự

cạnh tranh cần thiết, nhất là cạnh tranh về quy mô, chất lrợng

dịch vụ đào tạo, chi phí đào tạo và sự cạnh tranh cần thiết :hác

để tăng đầu tư phát triển đào tạo nghề. Chưa có chiến lược lịnh

hướng đầu tư vào dịch vụ đào tạo nghề vì mục đích lợi nhuậi và

khơng vì mục đích lợi nhuận.

Chưa có những chiến lược, tầm nhìn dài hạn trên 20 lăm.

Trong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các nịành,

địa phương chưa rõ chiến lược đầu tư phát triển đào tạo rghề.

Chiến lược định hướng đầu tư NSNN phát triển đào tạo nghểmới

đề ra ưu tiên đầu tư vào cơng trình trọng điểm, cho vùng khó

khăn v.v..., nhưng chưa định hướng rõ đầu tư trong gian ioạn

nào, ngành nghề gì, đối tượng nào, chiếm tỷ lệ bao nhiêu tong

ngân sách, trong đầu tư cho giáo dục, và ngay trong đầu tưohát

triển đào tạo nghề, bằng ngân sách trung ương hay ngân sáci địa

phương, tỷ lệ giữa ngân sách trung ương hay ngân sách địa phiơng.

140



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Những kết quả đạt được và nguyên nhân

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×