Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đổi mới cơ chê hoạt động, thực hiện cơ chê tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở dạy nghề

Đổi mới cơ chê hoạt động, thực hiện cơ chê tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở dạy nghề

Tải bản đầy đủ - 0trang

học nghề, được đăng ký hoạt động, được thu và tự hạch toái, tự

chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo, được cạnh tranh tong

mơi trường đào tạo.

Từng bước xố bỏ chỉ tiêu đào tạo, Nhà nước quản lý 5ằng

việc thực hiện kiểm định các cơ sở dạy nghề, thông báo vé các

khoản đóng góp (học phí và các chi phí học tập) cơng khai trên

các phương tiện thơng tin để cho người học lựa chọn dịcỉ vụ.

Từng bước xoá bỏ chỉ tiêu ngân sách, Nhà nước hỗ trợ các cơ sở

dạy nghề bằng hình thức hỗ trợ một phần kinh phí theo số lvợng

học sinh tốt nghiệp (tốt nghiệp quy đổi giữa dài hạn, ngấn 'lạn,

giữa các cấp đào tạo), đặt hàng hoặc đấu thầu đào tạo đố với

những đối tượng mà Nhà nước bao cấp (sẽ được trình bày CI thể

tại mục 3.2.4 của luận án về đổi mới cấp NSNN).

Tạo cơ chế bình đẳng trong cạnh tranh cho các cơ sở dạy

nghề như: Bình đẳng về chỉ tiêu đào tạo, về văn bằng tốt ngiiệp,

về học liên thông lên cấp cao hơn, về cấp hoặc cho thuê đất đai,

nhà xưởng, về thuế.

Chuyển đổi mơ hình các cơ sở dạy nghề thành “cơ sở dịci vụ

đào tạo” là việc làm khó khăn, tác động đến hệ thống cá: cơ

quan quản lý, đến các cơ sở và tác động đến cả người học Để

thực hiện chuyển đổi mơ hình cần thực hiện từng bước, đồnị bộ,

có sự chuẩn bị cho từng bước đi, từng bước tổng kết rút ánh

nghiệm, thực hiện đại trà và các bước tiếp theo.

Với cách đặt vấn đề như vậy, quá trình chuyển đổi co chế

hoạt động, cơ chế tài chính của các cơ sở dạy nghề, theo tác giả

cần thực hiện các biện pháp sau:

174



Thứ nhất, sắp xếp, quy hoạch các cơ sở dạy nghê làm cơ sở

đầu tư phát triển đào tạo nghề

Việc sắp xếp, quy hoạch các cơ sở dạy nghề phải đảm bảo

các mục tiêu sau:

- Cân đối về cơ cấu ngành, nghề, trình độ đào tạo; cân đối

giữa các vùng, miền, địa phương, ngành, khu vực; cân đối giữa

nhu cầu đào tạo và sử dụng.

- Đảm bảo phát huy lợi thế của các ngành, địa phương, vùng,

lãnh thổ; gắn với chiến lược phát triển kinh tế của từng ngành,

tùng địa phương; khai thác các nguồn lực nhằm thực hiện mục

tiêu tăng quy mô nhưng đảm bảo chất lượng đào tạo của từng cơ

sở dạy nghể và cả hệ thống.

- Qua việc sắp xếp, quy hoạch, đẩy mạnh được các loại hình

đào tạo nghề thuộc mọi thành phần kinh tế, mở ra các hình thức

đào tạo nghề và truyền nghề mới. Nâng cao chất lượng các cơ sở

dạy nghề, hình thành các trường dạy nghề trọng điểm.

- Đảm bảo sự thống nhất quản lý giữa cơ quan chủ quản và

cơ quan quản lý nhà nước về đào tạo nghề. Việc thành lập các cơ

sở dạy nghề phải nằm trong kế hoạch phát triển dạy nghề của địa

phương, của ngành và theo quy hoạch của hệ thống. Các ban,

ngành, đồn thể khơng được đầu tư thành lập cơ sở dạy nghề một

cách tràn lan, manh mún, các cơ quan QLNN về đào tạo nghề

cần tiếp tục thực hiện nghiêm túc cấp phép đào tạo.

Để thực hiện các mục tiêu trên, cần rà soát, đánh giá, phân

loại các cơ sở dạy nghề hiện có, dự kiến nhu cầu các loại hình

đào tạo, cấp đào tạo, số lượng và quy mô, đặc biệt là các dự kiến

đó cần được cụ thể cho từng tỉnh, thành phố, khu vực, vùng,

175



miền, từng giai đoạn. Trên cơ sở đó tiến hành đồng thòi các giải

pháp sắp xếp, quy hoạch các cơ sở dạy nghề như:

- Thành lập mới, sáp nhập, giải thể hoặc chuyển đổi hình

thức đào tạo, chuyển đổi cơ quan quản lý trực tiếp cơ sở dạy

nghề. Thành lập cơ sở mới có nhu cầu lớn về lao động kỹ thuật.

Ưu tiên thành lập mới cho các huyện chưa có cơ sở dạy nghề,

cho các cơ sở dạy nghề liên doanh, liên kết với nước ngoài, cơ sở

dạy nghề trọng điểm, đào tạo nghề chất lượng cao. Việc thành

lập các cơ sở dạy nghề mới cần phải đạt chuẩn, chỉ đạt chuẩn

mới cho thành lập, tránh đầu tư thành lập cơ sở mới nhung không

đạt chuẩn. Sáp nhập các cơ sở dạy nghề trên cùng địa bàn mà

nhu cầu đào tạo, tuyển dụng lao động kỹ thuật hạn chế. Sáp nhập

các cơ sở dạy nghề yếu, nhỏ, manh múm để hình thành cơ sở dạy

nghề đủ năng lực cho đào tạo nghề. Theo tác giả, mỗi huyện chỉ

thành lập một trung tâm dạy nghề nhưng cũng phải đạt chuẩn,

mỗi tỉnh có từ ba đến năm trường dạy nghề đạt chuẩn và giao

nhiệm vụ cho các trung tâm, các trường dạy nghề có trách nhiệm

tư vấn, xúc tiến việc làm cho học sinh, coi nhiệm vụ đào tạo nghề

là nhiệm vụ số một, nhiệm vụ tư vấn việc làm là nhiộm vụ bổ trợ.

Ị£hông mở rộng nhiều trung tâm dịch vụ việc làm có đào tạo

nghề, hoặc các tổ chức không đủ điều kiện nhưng vẫn thành lập

cơ sở dạy nghề dẫn đến lãng phí trong đầu tư. Giải thể các cơ sở

dạy nghề không đảm bảo điều kiện đào tạo nghề, không khắc

phục dược những vi phạm, yếu kềm hoặc do yôu cầu quy hoạch

hộ thống các cơ sở dạy nghề.

- Có cơ chế, chính sách khuyến khích hoặc hạn chế sự phát

triển các cơ sở dạy nghề, ngành nghề đào tạo như: Chính sách

đầu tư cho những cơ sở dạy nghề thuộc diện khuyến khích phát

176



triển; chính sách hỗ trợ các tổng cơng ty lớn chưa có cơ sở dạy

nghề mà nhu cầu đào tạo lớn mở cơ sở dạy nghề. Kiên quyết

không thành lập mới và cấp phép đào tạo cho cơ sở dạy nghề

không nằm trong quy hoạch phát triển, hoặc không đủ điều kiện

đạt chuẩn.

Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện cơ chế tự chủ tài

chính, nhân sự đối với các cơ sở dạy nghê

Các cơ sở dạy nghề được tự-chủ về bộ máy tổ chức, cán bộ,

biên chế, tự chủ hạch toán thu, chi theo nguyên tắc lấy thu bù

chi, thực hiộn tiết kiệm để đầu tư cơ sở vật chất, nghiên cứu, sản

xuất. Tiến tới Nhà nước chỉ đầu tư ngân sách cho trường cơng lập

và ngồi công lập để xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị và

sửa chữa lớn, đào tạo, bồi dưỡng giảng viên, cán bộ quản lý, chi

học bổng, trợ cấp cho đối tượng chính sách. Để đẩy mạnh việc

thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, các loại hình cơ sở dạy nghề

cần thực hiện các nội dung sau:

Đôi với các cơ sở dạy nghề công lập: Tiếp tục đẩy mạnh

thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy

định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm

vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự

nghiệp công lập.

Đối với cơ sở dạy nghề tiết kiệm được từ hoạt động thu - chi,

được tự quyết định tỷ lệ dành cho quỹ phát triển, các khoản khấu

hao tài sản, thanh lý tài sản được trích vào quỹ đầu tư phát triển.

Chuyển các lớp bán công, các trường bán công và một số

trường công lập sang loại hình ngồi cơng lập.

177



Đối với các cơ sở dạy nghề ngồi cơng lập: Được thực hiện

lấy thu bù chi, nạuồn thu từ học phí thơng qua sự thoả thuận giữa

người học và cơ sở dạy nghề bằng hợp đồng đào tạo. Khuyến

khích mở trường ngồi cơng lập nhưng phải đạt chuẩn và nằm

trong quy hoạch chung.

Thứ ba, tiến hành thí điểm cổ phấn hố các cơ sở dạy nghê

Thực hiện cổ phần hố các cơ sở có vốn của Nhà nước, tổ

chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế. c ổ

phần hoá là giải pháp thu hút vốn đầu tư cho cơ sở dạy nghề,

đồng thời là biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài chính của

cơ sở dạy nghề. Khi tiến hành cổ phần hố cần tính đúng, tính đủ

các giá trị tài sản, tránh thất thoát.

Thứ tư, thực hiện chuyển đổi sang mơ hình "cơ sở dịch vụ

đào tạo"

Sang giai đoạn này, các cớ sở dạy nghề, trừ các cơ sở dạy

nghề khơng vì mục đích lợi nhuận được quyền bình đẳng như

nhau về việc hỗ trợ từ Nhà nước như được cấp kinh phí đào tạo

theo số lượng học sinh tốt nghiệp, được thuê hoặc cấp đất theo

chung một mức, được tính thuế đất và các loại thuế khác theo

mức chung. Thực hiện bình đẳng trong đào tạo, hình thành “thị

trường đào tạo cạnh tranh hồn hảo”, tạo điều kiện cho các cơ sở

dạy nghề trong và ngồi cơng lập, kể cả các cơ sở dạy nghề có

vốn đầu tư nước ngồi cạnh tranh binh đảng theo quy định của

pháp luật, nhất là cạnh tranh trong việc tuyển sinh, nâng cao chất

lượng, xúc tiến giới thiệu việc làm cho học sinh tốt nghiệp. Tiếp

tục tạo điều kiện cho các cơ sở dạy nghề cạnh tranh, hình thành

các cơ sở dạy nghề chất lượng cao, quy mô lớn, có “thương hiệu’



trong nước và khu vực. Để thực hiện tốt cơ chế tự chủ, tự chịu

trách nhiệm đối với các cơ sở dạy nghề, các cơ quan QLNN cần

triển khai các nhiệm vụ, giải pháp sau:

- Nghiên cứu, ban hành các văn bản dưới luật quy định cụ

thể về quyền và trách nhiệm của cơ sở dạy nghề trong cơ chế tự

chủ, tự chịu trách nhiệm (mở rộng quyền tự chủ về chỉ tiêu

tuyển sinh, tự chủ về mức thu học phí, thu và chi tiêu nội bộ).

Nghiên cứu quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm áp

dụng cho các cơ sở dạy nghề là các trung tâm, các lớp dạy

nghề. Nghiên cứu, ban hành cơ chế quản lý hệ thống dạy nghề

theo cơ chế tự chủ cung ứng dịch vụ cơng ích, cơ chế hoạt động

của cơ sở dạy nghề vì mục đích lợi nhuận và khơng vì mục đích

lợi nhuận.

- Đổi mới QLNN đối với cơ sở dạy nghề, chủ yếu là giám sát

sự tuân thủ điều lộ nhà trường, các quy định của pháp luật và quy

chế hoạt động của từng trường. Quy chế hoạt động của nhà

trường khi được cấp có thẩm quyền thông qua là văn bản “luật

nội bộ” vể quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của trường đó.

- Quy định công khai một số hoạt động của cơ sở dạy nghề

như: Số lượng tuyển sinh, học phí, trình độ đạt được của khóa

học, tài chính hàng năm của cơ sở dạy nghề để người học và xã

hội lựa chọn dịch vụ đào tạo.

- Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá, quy trình kiểm định

chất lượng để khẳng định sự hoàn thành trách nhiệm của nhà

trường với người học, với xã hội và pháp luật. Việc đánh giá,

kiểm định chất lượng cơ sở dạy nghề phải được cơ sở đánh giá

hàng năm, có sự đánh giá ngồi và thơng tin kết quả đánh giá,

179





kiểm định trên phương tiện thông tin đại chúng để bảo vệ

quyền lợi và nâng cao trách nhiệm của cơ sở dạy nghề vè người

học nghề.

- Thực hiện chế độ kiểm tra, thanh tra định kỳ, đột ?uát và

kiểm toán độc lập; thực hiện tốt quy định về báo cáo, côrg khai

và lưu trữ.

4.

Đổi mới cơ chê cấp ngân sách, chính sách thuế, đất đai,

chính sách đối với người học

V ề đổi mới cơ chế cấp ngân sách đầu tư phát triển Cào tạo



nghề: Ngân sách cấp cho đầu tư phát triển đào tạo nghề những

năm gần đầy đã có sự tiến bộ rõ rệt, tuy nhiên còn một >ố hạn

chế cần phải khắc phục. Để hạn chế những tồn tại cần thic hiện

một số giải pháp sau:

- Tăng chi NSNN cho đào tạo nghể. Thực tế tỷ lộ chi cho

đào tạo nghề năm 2006 chiếm 1,48% tổng chi ngân sáci, hiộn

nay tổng chi ngân sách tính theo giá trị tuyệt đối của iước ta

quá nhỏ, trong khi các nước đầu tư cho đào tạo nghề chiếm 2%

tổng chi ngân sách. Để tăng chi ngân sách, cần táng ch ngân

sách địa phương cho đào tạo nghề, vì chính đào tạo nghề là đào

tạo nhân lực chủ yếu cho địa phương, hơn nữa địa phươnỊ là nơi

sát với cơ sở dạy nghề, có điều kiện nắm chắc hơn trun; ương

vế nhu cầu, hiệu quả đầu tư và có điều kiện thuận lợi hơi trong

việc kiểm tra, quản lý hoạt động đầu tư. Tuy nhiên, cín thực

hiện chế độ báo cáo vể đầu tư ngân sách trung ương, ngín sách

địa phương về cơ quan QLNN (Tổng cục Dạy nghề) cể thực

hiện quản lý và cân đối chung, tránh tình trạng quản lý khơng

thống nhất, khơng tập trung.

180

4



- Nguồn vốn từ ngân sách được chuyển trực tiếp cho các cơ

quan QLNN về đào tạo nghề. Đối với uỷ ban nhân dân các cấp,

thực hiện cấp ngân sách trực tiếp cho cơ quan QLNN về đào tạo*

nghề cùng cấp (Sở hoặc phòng Lao động - Thương binh và Xã

hội) hoặc trực tiếp cho cơ sở dạy nghề. Tách ngân sách chi cho

cơ sở dạy nghề ra khỏi ngân sách chi trực tiếp cho người học

(học bổng chính sách, trợ cấp xã hội).

- Lựa chọn mơ hình phân bổ ngân sách theo tỷ lệ học sinh tốt

nghiệp, thay vì phân bổ ngân sách hiện nay theo chỉ tiêu tuyển

sinh (thực tế có nhiều mơ hình phân bổ ngân sách như: Mơ hình

phần bổ ngân sách theo đầu vào - chỉ tiêu tuyển sinh; mơ hình

phân bổ ngân sách theo đầu ra - học sinh tốt nghiệp; mơ hình

phân bổ ngân sách theo thương lượng; mơ hình phân bổ ngân

sách theo chất lượng đào tạo). Tiến tới Nhà nước đặt hàng trực

tiếp cho các cơ sở dạy nghề, cùng với đặt hàng là cấp kinh phí,

hoặc đấu thầu đào tạo nghề từ vốn NSNN.

- Tăng tỷ lệ chi NSNN cho đầu tư xây dựng cơ bản, chương

trình mục tiêu, giảm chi thường xun, vì chi thường xun còn

giữ ở mức cao là 55% tổng vốn đầu tư. Tăng tỷ lệ chi NSNN cho

dầu tư phát triển là bài tốn khó trong điều kiện nguồn NSNN

hạn hẹp, các chi phí thường xuyên, nhất là chi lương cần tăng để

cải thiện cuộc sống. Trong điều kiện như vậy cần có giải pháp có

tác động trực tiếp như sau: Tiếp tục đẩy mạnh việc tự chủ tài

chính, tự chù nhân sự, thực hiện khốn chi phí hành chính cho cơ

sở dạy nghề; tích cực chuyển đổi mơ hình đào tạo cơng lập, bán

cơng sang loại hình đào tạo ngồi cơng lập để giảm chi ngân

sách; tiến tới NSNN chỉ tập trung chi cho xây dựng cơ sở vật

chất, đào tạo giáo viên, cán bộ quản lý và thực hiện các chính

181



sách xã hội, Nhà nước thực hiện đặt hàng cho cơ sở dạy nghề,

còn các khoản chi khác do cơ sở dạy nghề tự chịu trách nhiệm.

- Thực hiện cơng khai hố các khoản ngân sách được cấp

cho địa phương, cho ngành, cơ sở dạy nghề (công khai cả ngân

sách trung ương và địa phương, tránh tình trạng khơng nắm được

tổng chi ngân sách địa phương và trung ương). Những khoản chi

cho cơ sở dạy nghề được cấp thẳng thông qua việc ghi vốn trực

tiếp, tránh việc cấp qua trung gian.

- Tiến hành xây dựng kế hoạch dự báo về đầu tư NSNN cho

đào tạo nghề và dự kiến mức chi để các cấp, các ngành, các cở sở

dạy nghề chủ động xây dựng kế hoạch đầu tư phát triển, tránh

tình trạng “ăn đong” như hiện nay.

- Hỗ trợ NSNN cho các cơ sở dạy nghề ngồi cơng lập: Hiộn

nay, số lượng học sinh học các cơ sở dạy nghề ngồi cơng lập

chiếm gần 1/3 tổng số học sinh học nghể, những học sinh này

khi tốt nghiệp cũng góp chung vào việc nâng cao chất lượng luo

động của đất nước, giúp cho tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, hỗ trợ

NSNN cho các cơ sở dạy nghề ngồi cơng lập là việc làm mới

nhưng cần thiết và có ý nghĩa to lớn trong thúc đẩy đào tạo nghề,

thực hiện bình đẳng trong cạnh tranh giữa các cơ sở dạy nghề,

phù' hợp với cơ chế thị trường hiện nay.

Tuy nhiên, đối với các cơ sở dạy nghề ngồi cơng lập, NSNN

chỉ nên tập trung đầu tư như: Đặt hàng đào tạo có kèm theo kinh

phí, đầu tư xây dựng trường học, lớp học, trang bị các phương

tiện dạy học, thực tập, nghiên cứu; đầu tư xây dựng thư viện,

phòng thí nghiệm; đầu tư đào tạo đội ngũ giáo viên, cán bộ quản

lý; hỗ trợ người học.

182



Vê đổi mới chính sách thuế: Để cải tiến chính sách thuế,

các cơ quan quản lý nhà nước cần:

- Xây dựng các tiêu chí nhằm phân biệt rõ cơ sở dạy nghề vì

mục đích lợi nhuận và khơng vì mục đích lợi nhuận.

- Xây dựng chính sách thuế cho phù hợp với từng loại hình

cơ sở dạy nghề, nhất là định mức thuế đối với các cơ sở dạy

nghề ngồi cơng lập hoạt động theo cơ chế khơng vì mục đích

lợi nhuận.

Theo tác giả hiện nay đào tạo nghề là loại hình đào tạo chưa

thực sự hấp dẫn người học, người đầu tư, vì vậy cần có giải pháp

cụ thể như: Đến năm 2010 nên miễn các khoản thuế đối với cơ sở

dạy nghề, sau năm 2010 sẽ từng bước thực hiện các khoản thuế.

Riêng đối với các cơ sở dạy nghề mới thành lập thì được miễn

thuế ít nhất 5 năm, các cơ sở dạy nghể hoạt động theo cơ chế

khỏng vì mục đích lợi nhuận thì được miễn thuế.

Vê đổi mới chính sách đất đai: Các địa phương khi điều

chỉnh quy hoạch hoặc quy hoạch mới cần dành quỹ đất để xây

dựng cơ sở dạy nghề. Chỉ duyệt quy hoạch tổng thể huyện, tỉnh,

thành phơ khi trong qủy hoạch có quỹ đất cho xây dựng cơ sở

dạy nghề. Cần thay đổi chính sách cấp đất, nên ưu tiên cấp đất

xây dựng cơ sở dạy nghề có cơ sở hạ tầng tốt, có diện tích ít nhất

là 30.000 m2 trở lên. Thực hiện miễn thuế đất đối với cơ sở dạy

nghề khơng vì mục đích lợi nhuận, thực hiện miễn thuế đất từ 57 năm đối với cơ sở dạy nghề mới thành lập.

Vê đổi mới chính sách đối với người học nghê: Đổi mới

chính sách đối với người học cần đảm bảo các nguyên tắc như:

Đảm bảo thu hút nhiều đối tượng tham gia học nghề, học suốt đời;

183



đảm bảo cơng bằng trong đào tạo; mức thu học phí và các khoản

lệ phí phải từng bước bù đắp chi phí đào tạo.

Nhằm thực hiện mục tiêu và nguyên tắc trên, hiện nay cần

đổi mới một sơ' chính sách sau đối với người học như sau:

- Cải tiến việc thu, chi và quản lý học phí: Việc thực hiện

thu, chi, quản lý học phí đối với các cơ sở dạy nghề công lập

hiện nay là quá thấp, quá cứng, chưa phù hợp với điều kiện nâng

cao chất lượng đào tạo nghề, điều kiện cạnh tranh, đào tạo những

ngành, nghề mũi nhọn, ngành nghề đào tạo với chi phí lớn và

phù hợp với thu nhập của từng địa phương. Để tạo điều kiện cho

các cơ sở dạy nghề chủ động xây dựng kế hoạch phát triển, kế

hoạch đầu tư, Nhà nước nên thực hiện việc nới rộng khoảng cách

mức thu, có thể thực hiện mức thu từ 100.000 đồng - 1.200.000

đồng/1tháng, đồng thời Nhà nước tăng trợ cấp xã hội cho đối

tượng chính sách.

- Đổi mới chính sách miễn giảm học phí, trợ cấp xã hội, học

bổng chính sách: Thực hiện việc miễn, giảm học phí, trợ cấp xã

hội, học bổng chính sách là chủ trương hỗ trợ các đối tượng

chính sách trong quá trình đào tạo, đây cũng là thực hiện cơng

bằng trong đào tạo nghề. Tuy nhiên trong q trình thực hiện có

nhiều bất hợp lý:

+ Cùng là NSNN hỗ trợ đối tượng chính sách nhưng có nhiều

tên gọi (trợ cấp xã hội, học bổng chính sách), thực chất đểu là

NSNN trợ cấp cho đối tượng chính sách. Nhiều kiểu cách hỗ trợ,

như người học là đối tượng chính sách vừa được hỗ trợ trực tiếp là

trợ cấp xã hội hoặc học bổng chính sách từ NSNN, vừa được hỗ

trợ gián tiếp là miễn, giảm học phí từ nhà trường.

184



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đổi mới cơ chê hoạt động, thực hiện cơ chê tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở dạy nghề

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×