Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VIỆC ỨNG DỤNG MẠNG XÃ HỘI VÀO HOẠT ĐỘNG MARKETING TRỰC TUYẾN

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VIỆC ỨNG DỤNG MẠNG XÃ HỘI VÀO HOẠT ĐỘNG MARKETING TRỰC TUYẾN

Tải bản đầy đủ - 0trang

đăng tải các bài viết và thiết lập cho nó tính riêng tư, cơng khai cho tồn bộ bạn bè

hoặc công khai trong giới hạn một số thành phần bạn bè của họ.

Tương tác: Một đặc tính khác của các MXH hiện đại là sự tương tác. Người

dùng trên các trang MXH có thể giao tiếp một cách dễ dàng và tham gia các trò chơi

trực tuyến với nhau.

Dựa vào cộng đồng: MXH được xây dựng và duy trì dựa trên các đặc tính của

cộng đồng, các nhóm được thiết lập dựa trên sở thích, niềm tin…

Phát triển mối quan hệ: Cộng đồng trên các trang MXH trực tuyến là một

cộng đồng mở, ở đó người dùng được thoải mái lựa chọn và phát triển các mối quan

hệ của mình. Người dùng càng có nhiều mối quan hệ trong mạng, càng thiết lập

thêm nhiều các mối quan hệ khác dựa trên các mối quan hệ đã có.

Tính cảm xúc vượt nội dung: Một đặc tính độc đáo của các MXH là yếu tố

cảm xúc. Trong khi các trang web trước đây đã tập trung chủ yếu vào việc cung cấp

thông tin cho khách truy cập, MXH thực sự cung cấp cho người dùng với cảm giác

an toàn để chia sẻ thơng tin và ý thức rằng khơng có vấn đề gì là q khó khăn, bế

tắc, bạn bè của họ ln ở bên cạnh họ, lắng nghe họ nói bất kỳ lúc nào.

1.1.1.3. Các loại hình mạng xã hội:

Các mạng xã hội hàng đầu thế giới như MySpace, Facebook, YouTube,

LinkedIn… đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới nói chung và Việt Nam nói

riênng:

MySpace ưu tiên hướng tới các nội dung giải trí như chia sẻ âm nhạc, video

trực tuyến kết hợp với các dịch vụ giải trí offline. Mạng xã hội này phù hợp với các

chiến dịch marketing xây dựng và phát triển các cộng đồng thu hút giới trẻ - những

thế hệ tương lai.

Facebook là đối thủ của MySpace, nhưng có điểm đặc biệt là giành được sự

ưa thích của một nhóm nhờ tập trung vào sự duy trì những mối quan hệ sẵn có.

Facebook giúp thành viên nhóm mở rộng mạng lưới bạn bè với các trường khác,

cũng như kết nối các hoạt động vui chơi, giải trí và tình nguyện.

LinkedIn đặc điểm nổi bật nhất của LinkedIn là phát triển mạng lưới quan hệ

kinh doanh. Với nhiều thương gia, mạng xã hội này tựa như một cuốn danh thiếp

(namecard) trực tuyến, giúp họ dễ dàng kết nối và duy trì với những đối tượng khác,

nhất là với tính năng tự động cập nhật danh sách. Cuốn danh bạ trực tuyến này còn



nói cho các chủ nhân biết được họ đang có bao nhiêu quan hệ và chúng “bền chặt”

đến đâu.

Twitter là một mạng xã hội với thông tin được chia sẻ theo thời gian thực, cho

phép mọi người giao tiếp bằng cách trao đổi những mẩu tin ngắn (chỉ 140 ký tự).

Tuy Twitter chưa quá phổ biến tại Việt Nam nhưng nó được sử dụng rất nhiều trên

thế giới ngang ngửa với Facebook.

1.1.2. Khái niệm và đặc tính marketing trực tuyến

1.1.2.1. Khái niệm marketing:

Theo Philip Kotler thì marketing được hiểu như sau: Marketing là một q

trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì

họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm

có giá trị với những người khác.

Khái niêm này của marketing dựa trên những khái niệm cốt lõi: nhu cầu, mong

muốn và yêu cầu, sản phẩm, giá trị, chi phí và sự hài lòng, trao đổi, giao dịch và các

mối quan hệ, thị trường, marketing và những người làm marketing. Những khái

niệm này được minh hoạ trong hình sau:

1.1.2.2. Khái niệm marketing trực tuyến:

Theo Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ thì marketing trực tuyến (MTT) là lĩnh vực

tiến hành hoạt động kinh doanh gắn liền với dòng vận chuyển sản phẩm từ người

sản xuất đến người tiêu dùng, dựa trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT)

và Internet

Theo Philip Kotler, MTT là quá trình lập kế hoạch về sản phẩm, giá, phân

phối và xúc tiến đối với sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng để đáp ứng nhu cầu của tổ

chức và cá nhân dựa trên phương tiện điện tử và Internet

Bên cạnh đó, Tạp chí Marketing online năm 2011 cũng đã đưa ra định nghĩa

về khái niệm này như sau: MTT là hình thức áp dụng các cơng cụ của CNTT thay

cho các công cụ thông thường để tiến hành các quá trình marketing

Còn theo Bách khoa tồn thư mở Wikipedia: E-marketing (Internet marketing

hay online marketing), hay tiếp thị qua mạng, tiếp thị trực tuyến là hoạt động tiếp

thị cho sản phẩm và dịch vụ thơng qua mạng kết nối tồn cầu Internet. Các dữ liệu

khách hàng kỹ thuật số và các hệ thống quản lý quan hệ khách hàng điện tử

(ECRM) cũng kết hợp với nhau trong việc tiếp thị Internet



1.1.2.3.Các đặc tính của marketing trực tuyến:

- Tốc độ giao dịch cao (được tính bằng phần nghìn giây): Các giao dịch trong

marketing điện tử không phải trải qua các bước trung gian nên tiết kiệm nhiều thời

gian. Doanh nghiệp và khách hàng có thể giao dịch trực tiếp một cách dễ dàng và

nhanh chóng thơng qua các website, gửi email trực tiếp, qua điện thoại, các chương

trình chat online, các diễn đàn thảo luận,… Thơng tin phản hồi từ phía khách hàng

nhanh hơn. Do đó, giao dịch được tiến hành trong một số trường hợp cũng nhanh

hơn, đặc biệt là đối với các hàng hóa số hóa.

- Liên tục: 24/7/365: Marketing điện tử có khả năng hoạt động liên tục tại mọi

thời điểm, khai thác triệt để thời gian 24 giờ trong một ngày, 7 ngày trong một tuần,

365 ngày trong một năm, hồn tồn khơng có khái niệm thời gian chết. Doanh

nghiệp có thể cung cấp dịch vụ hỗ trợ khách hàng trực tuyến mọi lúc, mọi nơi; tiến

hành nghiên cứu thị trường bất cứ khi nào; gửi email quảng cáo…

- Phạm vi tồn cầu, khơng giới hạn: Trong mơi trường Internet, mọi khó khăn

về khoảng cách địa lý đã được xóa bỏ hồn tồn. Điều này cho phép doanh nghiệp

khai thác triệt để thị trường toàn cầu. Nhờ hoạt động tiếp thị trực tuyến mà doanh

nghiệp hồn tồn có thể quảng bá thương hiệu, sản phẩm, dịch vụ của mình đến với tập

khách hàng mục tiêu trên tồn thế giới với chi phí thấp và thời gian nhanh nhất. Khách

hàng của họ có thể là những người đến từ Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Anh… Đặc trưng này

bên cạnh việc đem lại cho doanh nghiệp rất nhiều lợi ích thì cũng chứa đựng những

thách thức đối với doanh nghiệp. Khi khoảng cách được xóa bỏ đồng nghĩa với việc

doanh nghiệp sẽ tham gia vào mơi trường kinh doanh tồn cầu. Khi đó, mơi trường

cạnh trạnh tranh ngày càng gay gắt và khốc liệt. Chính điều này đòi hỏi doanh nghiệp

phải xây dựng được chiến lược kinh doanh, marketing rõ ràng và linh hoạt.

- Đa dạng hóa sản phẩm: Ngày nay việc mua sắm đã trở lên dễ dàng hơn

nhiều, chỉ cần ở nhà, ngồi trước máy vi tính có kết nối internet là khách hàng có thể

thực hiện việc mua sắm như tại các cửa hàng thật. Sản phẩm và dịch vụ được cung

cấp trên các cửa hàng ảo này ngày một phong phú và đa dạng nên thu hút được sự

quan tâm từ phía người tiêu dùng. Khách hàng có thể tiếp cận nhiều sản phẩm, dịch

vụ hơn đồng thời nhà cung cấp cũng có khả năng cá biệt hóa sản phẩm phù hợp với

các nhu cầu khác nhau của khách hàng nhờ khả năng khai thác và chia sẻ thông tin

qua internet.



- Khả năng tương tác thông tin cao: Tính tương tác của mạng internet được

thể hiện rất rõ ràng. Chúng cho phép trao đổi thông tin hai chiều và cung cấp nhiều

tầng thông tin cũng như tạo ra mối quan hệ trực tiếp giữa nhà cung cấp và khách

hàng. Hoạt động marketing trực tuyến cung cấp thông tin theo yêu cầu của người sử

dụng và cho phép người sử dụng xem các thơng tin. Khách hàng có thể cung cấp

thông tin phản hồi về một sản phẩm nào đó, có thể u cầu nhận thêm thơng tin

hoặc yêu cầu không nhận thêm thông tin về sản phẩm đó nữa.

- Một số đặc tính khác: Tự động hóa các giao dịch cơ bản, Giảm sự khác biệt

về văn hóa, luật pháp, kinh tế; Đo lường hiệu quả dễ dàng; ROI (Return on

Investment) hiệu quả trên đầu tư cao

1.1.2.4. Vai trò marketing trực tuyến:

 Đối với doanh nghiệp:

- Giúp chia sẻ thông tin với đối tác, khách hàng, nhà cung ứng: Do internet có

tính tồn cầu hóa cao loại, loại bỏ trở ngại không gian và thời gian. Doanh nghiệp

có thể truy cập bất cứ lúc nào, ở đâu, và việc chia sẻ thông tin với các đối tác, ngân

hàng, nhà cung ứng khơng còn là vấn đề đối với doanh nghiệp nữa.

- Khả năng tự động hóa cao giúp giảm chi phí giao dịch: Marketing điện tử

giúp doanh nghiệp cắt giảm khá lớn chi phí bán hàng, khơng phải tốn kém nhiều

cho việc thuê cửa hàng, mặt bằng, đông đảo nhân viên phục vụ và cũng không cần

phải đầu tư nhiều cho kho chứa,… giảm thời gian, chi phí và cơng sức trong hầu hết

các hoạt động xúc tiến, quảng cáo.

- Tiếp cận thị trường mới dễ dàng: Đối tượng khách hàng của doanh nghiệp

khơng còn bị giới hạn về thời gian và không gian nên cơ hội mở rộng tập khách

hàng cao hơn. Số lượng khách hàng của doanh nghiệp sẽ tăng kéo theo tăng doanh

thu bán hàng.

- Góp phần hỗ trợ cá biệt hóa sản phẩm: Đáp ứng nhu cầu khách hàng, thỏa

mãn khách hàng là mục đích cuối cùng của bất cứ doanh nghiệp nào. Cá biệt hóa

sản phẩm giúp tăng lợi nhuận, tăng doanh thu và thị phần cho doanh nghiệp.



 Đối với khách hàng:

- Khách hàng sẽ có thêm nhiều thơng tin về sản phẩm, dịch vụ hơn: Nhờ ứng

dụng marketing điện tử mà doanh nghiệp ngày càng da dạng hóa sản phẩm hơn. Vì

vậy khách hàng cũng có nhiều sự chọn lựa hơn, khách hàng hồn tồn có thể so

sánh với sản phẩm cùng loại của doanh nghiệp khác từ đó có sự lựa chọn tốt nhất.



- Đánh giá chi phí/ lợi ích chính xác hơn: Chỉ cần một chiếc máy vi tính có kết

nối Internet là có thể mua được tất cả các sản phẩm, dịch vụ mà không cần mất thời

gian và chi phí tới tận cửa hàng để mua. Hơn nữa, người mua có thể tham khảo

được nhiều sản phẩm của các cửa hàng khác nhau, so sánh về giá cả, chất lượng

giữa các gian hàng nên cơ hội mua được hàng giá rẻ nhiều hơn.

- Có thêm nhiều sản phẩm để lựa chọn: Hiện nay khi mà hầu hết các sản phẩm

đều được bán qua internet và các phương tiện điện tử, khách hàng có hàng ngàn sự lựa

chọn. Họ sẽ dễ dàng và nhanh chóng tìm được sản phẩm u thích, phù hợp với mình.

- Thuận tiện hơn trong việc mua sắm: Để mua một sản phẩm hay tìm hiểu

thơng tin về một sản phẩm, khách hàng chỉ cần lên mạng và vào các website là có

thể biết được đầy đủ thông tin, hoặc đặt hàng tại nhà cũng như có thể so sánh giá cả,

chất lượng dịch vụ với sản phẩm của nhiều công ty khác nhau.

1.1.2.5. Điều kiện áp dụng Marketing trực tuyến

- Điều kiện chung:

+ Cơ sở vật chất: cơ sở vật chất của doanh nghiệp như hạ tầng công nghệ

thông tin viễn thông, hệ thống máy chủ, máy trạm… có đầy đủ, có đáp ứng yêu cầu

để áp dụng Marketing điện tử hay không.

+ Điều kiện pháp lý: Luật giao dịch điện tử (2005), Luật sở hữu trí tuệ (2006)

và các thơng tư liên quan đến hoạt động của website TMĐT

- Điều kiện riêng:

+ Thị trường:

Nhận thức của khách hàng: mức độ sẵn sàng của khách hàng khi tham gia vào

môi trường trực tuyến; phần trăm người sử dụng và chấp nhận internet.

Trong B2B: các tổ chức phối hợi với nhau, giai đoạn này mới chỉ xuất hiện ở

các nước phát triển.

Trong B2C: khách hàng có điều kiện tiếp cận internet, thói quen, mức độ phổ

cập, chi phí, doanh nghiệp, phát triển các hoạt động marketing trên internet.

+ Doanh nghiệp: Nhận thức của các tổ chức (internet liệu có là phương tiện

thơng tin chiến lược, lợi ích của internet đối với doanh nghiệp); tầm nhìn của các

nhà lãnh đạo doanh nghiệp.

+ Mơi trường kinh doanh: Sự phát triển của các mơ hình TMĐT (B2B, B2C,

C2C), sự phát triển các ứng dụng marketing trên internet: nghiên cứu thị trường,



phát triển sản phẩm mới, phân phối, xúc tiến thương mại, quảng cáo; mơ hình phối

hợp giữa người kinh doanh và nhà phân phối, vận chuyển.

1.2. Ứng dụng mạng xã hội vào hoạt động marketing trực tuyến

1.2.1. Ứng dụng mạng xã hội trong hoạt động marketing trực tuyến

Theo tác giả, ứng dụng mạng xã hội vào hoạt động marketing là việc tận dụng

lợi ích của các mạng xã hội đang phổ biến hiện nay vào hoạt động marketing của

công ty nhằm quả bá thương hiệu , sản phẩmm dịch vụ đến nhiều người , tiếp cận

được tập khách hàng tiềm năng, mang lại nhiều lợi ích đối với doanh nghiệp.

1.2.2. Các loại hình marketing trực tuyến

Dưới đấy là cây Internet Marketing, đưa ra các nền tảng, và các hình thức của

Marketing trực tuyến :



Hình 1.1. Sơ đồ cây Internet Marketing

(Nguồn: Docstoc.com)



Theo cây internet marketing, dựa trên nền tảng là website, có 6 hình thức

marketing trực tuyến:

- Search Engine Marketing (SEM) : tạm dịch là tiếp thị trên cơng cụ tìm kiếm.

Là tất cả các thủ thuật marketing trực tuyến nhằm nâng cao thứ hạng của một

website, doanh nghiệp hay một chủ thể nào đó trên các cơng cụ tìm kiếm (search

engine) như google, bing, yahoo...

- Directories and Listings : gồm các hình thức đăng ký danh bạ Website và

Rating and Reivews

- Email Marketing : sử dụng email (thư điện tử) mang nội dung về thông

tin/bán hàng/tiếp thị/giới thiệu sản phẩm đến khách hàng .

- Social Media Marketing: tạm dịch là tiếp thị truyền thông xã hội. Là một loại

hình thức marketing được thực hiện thơng qua phương tiện truyền thông xã hội,

hiện nay nổi bật là truyền thông qua các mạng xã hội.

- Public Relations: là việc một cơ chủ động quản lý các quan hệ giao tiếp cộng

đồng để tạo dựng và giữ gìn một hình ảnh tích cực của mình. Các hoạt động quan

hệ công chúng bao gồm các việc quảng bá thành công, giảm nhẹ ảnh hưởng của các

thất bại, công bố các thay đổi, và nhiều hoạt động khác.

- Online Advertising (quảng cáo trực tuyến) : là hình thức quảng bá sử dụng

môi trường internet để đưa thông điệp Marketing đến khách hàng.

Social Media là một kênh quảng cáo, truyền thông chỉ vừa mới bùng nổ trong

những năm gần đây nhưng nó đã chiếm một vị trí rất quan trọng trong các chiến

dịch digital marketing với mức độ phủ sóng của các cộng đồng và các kênh mạng

xã hội và người dùng social media là cầu nối giúp các doanh nghiệp có thể khai thác

tối đa khách hàng tiềm năng của mình. Vì vậy Social Media Marketing, hay cụ thể

là Social Network Marketing (tiếp thị trên mạng xã hội) hiện đang chiếm một vị trí

rất quan trọng, sẽ là một kênh chiến lược giúp doanh nghiệp quảng bá rộng rãi

thương hiệu của mình nhờ cộng đồng xã hội và internet.

1.2.3.Các hoạt động ứng dụng mạng xã hội vào hoạt động marketing trực tuyến

Với việc mạng xã hội được sử dụng vô cùng phổ biến như hiện nay, các hình

thức Marketing qua mạng xã hội cũng trở nên phong phú và ngày càng phát triển

hơn. Tuy vậy, một số hình thức phổ biến nhất có thể kể tới là :



 Tạo kênh của doanh nghiệp trên Mạng xã hội

- Mạng xã hội Facebook:

Doanh nghiệp có thể tạo cho mình một Fanpage để tiến hành các hoạt động

truyền thông và tiếp thị trên mạng xã hội Facebook: Fanpage được hiểu là một hồ

sơ thông tin của một doanh nghiệp hoặc một tổ chức bất kì chứ khơng mang tư cách

là cá nhân cụ thể nào. Ngay cả khi các thành viên khơng có ý định mua bất cứ thứ

gì, thì các mối quan hệ doanh nghiệp thiết lập và cộng đồng mà doanh nghiệp xây

đựng đều có thể đem lại lợi ích cho doanh nghiệp. Ngồi ra, đây còn là nơi giúp

doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận tới khách hàng, đưa ra các tư vấn và hỗ trợ khách

hàng một cách nhanh chóng.

Doanh nghiệp có thể tạo một Fanpage để quảng bá thương hiệu mà ở đó

khách hàng tiềm năng, khách hàng, nhân viên trong tương lai, các nhà cung cấp và

thậm chí truyền thơng cũng có thể tìm thấy thơng tin về cơng ty, sản phẩm và dịch

vụ mà bạn cung cấp. Không giống như hồ sơ cá nhân Facebook, các thành viên của

Fanpage có thể truy cập mọi lúc, khơng cần đăng nhập vào Facebook để xem một

doanh nghiệp hoặc thương hiệu của Fanpage, vì vậy sẽ có rất nhiều người có quyền

truy cập vào các thông tin mà bạn đăng.

Fanpage không hạn chế về lưu lượng truy cập đến website. Trong thực tế,

Facebook còn khuyến khích liên kết giữa website với Fanpage. Thậm chí một phần

nhỏ lưu lượng truy cập hàng ngày của Facebook chuyển hướng đến website của

doanh nghiệp thì nó cũng cải thiện đáng kể lưu lượng truy cập chất lượng trên

website của chính họ.

Fanpage trên Facebook cung cấp sự thay thế cho việc thực hiện cam kết với

khách hàng trên website một cách miễn phí. Trong vài phút, doanh nghiệp có thể có

một Fanpage của thương hiệu, đó sẽ là nơi để khách hàng và những người khác

cùng ủng hộ thương hiệu có thể đăng bài lên tường Facebook, chia sẻ hình ảnh và

video, hỏi và trả lời câu hỏi, tương tác giữa doanh nghiệp với một người khác. Tạo

và quản lý một Fanpage, một tab thảo luận hoàn thiện là việc làm dễ dàng hơn so

với việc tung ra và theo dõi thảo luận trên diễn đàn hoặc bảng thơng báo trên

website của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp có thể tăng cường mối quan hệ với khách hàng một cách đáng

kể, bằng cách kết nối họ với cộng đồng xã hội chứ không phải là một khuôn khổ



kinh doanh nhất định. Thành viên Facebook có thể khơng mua sắm trên Facebook,

nhưng 90% trong số họ mong đợi các doanh nghiệp và tổ chức sẽ giải quyết các vấn

đề liên quan trên Fanpage.

Chỉ có 25% thành viên Facebook muốn bán hàng, nhưng tỉ lệ cao hơn nhiều là

dành những lời khen ngợi cho chất lượng công ty, thương hiệu hay sản phẩm đến

bạn bè Facebook. Thiết lập mối quan hệ mạnh mẽ với nhiều thành viên có nhiều

ảnh hưởng hoặc có nhiều kết nối, thì doanh nghiệp sẽ có được sự quảng bá thương

hiệu có giá trị trong thị trường thực và nó sẽ bán hàng thay cho doanh nghiệp.

- Mạng xã hội Zalo

Doanh nghiệp tạo một tài khoản Oficcial Account (OA) trên Zalo để tiến hành

Marketing trực tuyến trên mạng xã hội này. Trên thực tế, OA cũng gần tương tự như

Fanpage trên Facebook. Vì vậy, nó cách thức marketing qua việc sử dụng OA cũng

không khác Fanpage là mấy.

Doanh nghiệp cũng có thể tạo OA để tạo các mối quan hệ cộng đồng, tư vấn,

chăm sóc khách hàng, chia sẻ các thông tin, quảng bá thương hiệu và quảng cáo

hình ảnh cũng như sản phẩm của mình.

- Mạng xã hội Youtube

Youtube có thể là một trong những cơng cụ marketing và bán hàng hiệu quả

mà doanh nghiệp có thể sở hữu. Nếu doanh nghiệp xây dựng kênh Youtube, nó sẽ

giống như một kênh truyền hình của riêng họ khi những chương trình của doanh

nghiệp được phát 24/7 và điều đặc biệt là nó hồn tồn miễn phí, website của doanh

nghiệp cũng sẽ được quảng cáo rộng rãi hơn.

Tuy nhiên, rào cản đối với hầu hết các doanh nghiệp đơn giản chỉ là khả năng

sản xuất video và rào cản về thời gian để làm ra nó. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp

cần phải dành thời gian để sản xuất video. Nhưng bù lại, với những Video mà doanh

nghiệp làm ra, họ có thể thực hiện marketing trực tuyến rất dễ dàng với các cách

thức sau :

 Chèn video trong email bản tin : Lợi ích của việc tạo nội dung video là giúp

các video này dễ dàng được chèn vào các kênh marketing khác. Doanh nghiệp có

thể sử dụng các video của mình trong các email marketing

 Chèn video vào blog hoặc website: Doanh nghiệp có thể sử dụng video của

mình như là một bài blog và diễn giải nội dung video vào văn bản cho bài blog



 Quảng cáo video thông qua các kênh mạng xã hội khác : Khi có video mới,

doanh nghiệp có thể xem xét việc đăng tải nó lên Facebook, Google Plus, Zalo của

mình. Có thể sử dụng hashtags để biểu thị bất kỳ loại sản phẩm hoặc nhãn hiệu đề

cập trong video.



 Sử dụng các công cụ quảng cáo do các mạng xã hội cung cấp

- Các mạng xã hội đều cung cấp cho người dùng một công cụ quảng cáo

riêng của mình. Đối với mạng xã hơi Facebook, cơng cụ đó được gọi là Facebook

Ads. Nó giúp doanh nghiệp có thể sử dụng Fanpage của mình để đưa những thơng

điệp thơng qua các bài viết, hình ảnh, videos tới đơng đảo người dùng Facebook.

Nó sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc quảng bá Fanpage cũng như hình

ảnh của mình. Đây là cách thức phổ biến nhất trong lĩnh vừa marketing trực tuyến

qua mạng xã hội mà các doanh nghiệp Việt Nam đang triển khai. Sở dĩ như vậy là vì

Facebook có lượt người dùng truy cập thường xun cao và hoạt động marketing

thơng qua nó đem lại hiệu quả tối ưu nhất.

- Đối với mạng xã hội Zalo, OA của nó cũng gần tương tự như Fanpage trên

Facebook. Vì vậy, nó cách thức marketing qua việc sử dụng OA cũng không khác

Fanpage là mấy. Tuy nhiên, sự khác nhau là OA sử dụng hình thức gửi tin nhắn cho

người quan tâm chứ không phải như trang Facebook sẽ hiển thị bài đăng trên trang



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VIỆC ỨNG DỤNG MẠNG XÃ HỘI VÀO HOẠT ĐỘNG MARKETING TRỰC TUYẾN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×