Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

11



một vấn đề nào đó.

- Mục đích: nhằm phát hiện những quy luật phân bố, trình độ phát triển, những

đặc điểm về mặt định tính và định lượng của các đối tượng cần nghiên cứu.

- Nội dung: điều tra cơ bản và điều tra xã hội học.

- Cách thức tiến hành:

+ Điều tra cơ bản:

• Xây dựng kế hoạch điều tra gồm: mục đích, đối tượng, địa bàn, nhân lực, kinh

phí,…

• Xây dựng các mẫu phiếu điều tra với các thơng sớ, các chỉ tiêu cần làm sáng tỏ.

• Chọn mẫu điều tra đại diện cho số đông

+ Điều tra xã hội:

Chuẩn bị điều tra gồm các thao tác: chọn mẫu, chọn địa bàn khảo sát, lựa chọn

thời gian khảo sát, thiết kế phiếu hỏi và khảo sát định tính.

Tiến hành điều tra: điều tra viên phải được tập huấn để quán triệt mục đích, yêu

cầu điều tra, thống nhất các biện pháp phù hợp với từng nhóm mẫu và từng địa bàn

điều tra. Trong quá trình điều tra, người nghiên cứu cần tuân thủ những yêu cầu đã

được đề ra. Nếu sử dụng cộng tác viên, điều tra viên, người nghiên cứu cần giám sát

điều tra với mục đích thu được thông tin một cách khách quan, tin cậy.

Xử lý kết quả điều tra: được tiến hành bằng phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

phân tích tư liệu, tổng hợp và phân loại tư liệu và tiến hành xử lý số liệu bằng phương

pháp thống kê, phân tích, so sánh … theo những biến số độc lập để rút ra những thuộc

tính chung của các tập hợp mẫu nhằm hình thành luận cứ cho các giả thuyết nghiên cứu.

5.1.1.2. Phương pháp phỏng vấn

 Khái niệm

Phương pháp phỏng vấn là phương pháp nghiên cứu khoa học thu nhận thông tin qua

hỏi - trả lời giữa nhà nghiên cứu với các cá nhân khác nhau về vấn đề quan tâm.

Phương pháp này thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu trong xã hội học, giáo dục học

và tâm lý học. Khi có số lượng người được hỏi lớn, phương pháp phỏng vấn cho phép

rút ra những kết luận hay, có giá trị về phương diện khoa học.

 Phỏng vấn trực tiếp

Trong phương pháp phỏng vấn trực tiếp, nhà nghiên cứu và đối tượng được hỏi nói



12



chuyện trực tiếp với nhau : Cuộc nói chuyện có chủ định nên nội dung được chuẩn bị

một cách chu đáo, phải có cách hỏi khéo léo và ghi chép ý kiến trả lời vào biên bản.

Có thể ghi âm, quay phim, ghi hình trực tiếp để có tài liệu đầy đủ và chính xác.

Tuy nhiên người ta ít sử dụng trích dẫn trong đề tài, kết quả phỏng vấn trực tiếp

thường mang tính tham khảo.



 Phỏng vấn gián tiếp

- Phương pháp phỏng vấn gián tiếp được sử dụng phổ biến hơn cả so với phỏng vấn

trực tiếp và trao đổi mạn đàm.

- Các bước tiến hành phỏng vấn gián tiếp

* Phỏng vấn gián tiếp được tiến hành theo trình tự sau đây :

- Xây dựng một kế hoạch phỏng vấn bao gồm : mục đích, đối tượng phỏng vấn, địa

điểm, thời gian, kinh phí, người tham gia điều tra.

- Xây dựng mẫu phiếu phỏng vấn, điều tra với các câu hỏi, các thông số, chỉ tiêu, các

cách ghi, điền hợp lý.

- Chọn mẫu phỏng vấn, điều tra, đại diện cho số đông, chú ý đặc điểm của đối tượng.

- Dự kiến chi phí tốn kém ít nhất, thời gian ngắn nhất, người tham gia phỏng vấn hay

điều tra không quá nhiều.

- Có thể dự kiến diễn biến quá trình phỏng vấn , điều tra và kết quả của chúng.

- Dự kiến được phương án xử lý số liệu.

 Phương pháp trao đổi

Đây là phương pháp thu nhận thông tin bằng cách đưa ra những tình huống có

vấn đề, nhằm thu hút các đối tượng nghiên cứu vào các cuộc tranh luận bổ ích, để mọi

người tự bộc lộ được quan điểm, tư tưởng, suy nghĩ.

Điều quan trọng nhất trong kỹ thuật tổ chức trao đổi, tọa đàm hay hội thảo, là

nhà nghiên cứu biết khéo léo đặt câu hỏi, tạo hình huống “xung đột” thu hút sự quan

tâm chú ý của mọi người và xây dựng bầu không khí sôi nổi một cách tự nhiên, vì

chúng ảnh hưởng lớn đến chất lượng vấn đề nghiên cứu.

5.1.2.



Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp.

Khái Niệm: Dữ liệu thứ cấp là dữ liệu do người khác thu thập sử dụng cho các



mục đích có thể là khác với mục đich nghiên cứu của chúng ta. Dữ liệu thứ cấp có thể



13



là dữ liệu chưa được sử lý (còn gọi là dữ liệu thô) hoặc dữ liệu đã sử lý. Như vậ dữ

liệu thứ cấp không phải do người nghiên cứu trực tiếp thu thập.

Bao gồm:

- Các đề tài nghiên cứu của sinh viên các khóa trước của khối ngành kinh tế.

- Các tài liệu, giáo trình có liên quan tới cung ứng dịch vụ nói chung và dịch

vụ thương mại nói riêng, tài liệu giáo trình quản trị tác nghiệp doanh nghiệp thương

mại.

- Các số liệu về thực trạng cũng như kết quả cung ứng dịch vụ thương mại của

Công ty TNHH Công Nghệ và Truyền Thông Tam Nguyên .

- Các báo cáo tài chính của Công ty TNHH Công Nghệ và Truyền Thông Tam

Nguyên .

- Các thông tin về đề tài nghiên cứu trên báo online.

5.2. Phương pháp phân tích dữ liệu.

Để phục vụ cho việc xử lý các dữ liệu thu thập được trong quá tình nghiên cứu

cũng như giúp cho các thông tin có thêm tính hiệu quả em đã sử dụng các phương

pháp xử lý dữ liệu như sau:

5.2.1. Phương pháp thống kê

- Khái niệm: Thống kê là một hệ thống các phương pháp (thu thập, tổng hợp,

trình bày số liệu và tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu) nhằm phục vụ

cho quá trình phân tích, dự đoán và ra quyết định.

Chúng ta có 4 phương pháp thống kê, đó là: Thu thập và xử lý số liệu, điều tra

chọn mẫu, nghiên cứu mối liên hệ giữa các hiện tượng và dự đoán.

+ Thu thập và xử lý số liệu

Số liệu được thu thập thường rất nhiều và hỗn độn, các dữ liệu đó chưa đáp ứng

được cho quá trình nghiên cứu. Để có hình ảnh tổng quát về tổng thể nghiên cứu, số

liệu thu thập phải được xử lý tổng hợp, trình bày, tính toán các số đo; kết quả có được

sẽ giúp khái quát được đặc trưng của tổng thể.

+ Nghiên cứu các hiện tượng trong hoàn cảnh không chắc chắn

Trong thực tế, có nhiều hiện tượng mà thông tin liên quan đến đối tượng nghiên

cứu không đầy đủ mặc dù người nghiên cứu đã có sự cố gắng. Ví dụ như nghiên cứu

về nhu cầu của thị trường về một sản phẩm ở mức độ nào, tình trạng của nền kinh tế ra



14



sao, để nắm được các thông tin này một cách rõ ràng quả là một điều không chắc chắn.

+ Điều tra chọn mẫu

Trong một số trường để nghiên cứu toàn bộ tất cả các quan sát của tổng thể là một

điều không hiệu quả, xét cả về tính kinh tế(chi phí, thời gian) và tính kiệp thời, hoặc

không thực hiện được.chính điều này đã đặc ra cho thống kê xây dựng các phương pháp

chỉ cần nghiên cứu một bộ phận của tổng thể mà có thể suy luận cho hiện tượng tổng quát

mà vẫn đảm bảo độ tin cậy cho phép. đó là phương pháp điều tra chọn mẫu.

+ Nghiên cứu mối liên hệ giữa các hiện tượng:

Giữa các hiện tượng thông thường có mối liên hệ với nhau. ví dụ: mối liên hệ

giữa chi tiêu và thu nhập; mối liên hệ giữa lượng vốn vay và các yếu tố tác động đến

lượng vốn vay như chi tiêu, thu nhập, trình độ học vấn; mối liên hệ tốc độ phát triển

với tốc độ phát triển của các ngành, lạm phát, tốc độ phát triển dân số... sự hiểu biết về

mối liên hệ giữa các hiện tượng rất có ý nghĩa, phục vụ cho quá trình dự đoán

+ Dự đoán:

Dự đoán là công việc cần thiết trong tất cả lĩnh vực hoạt động. trong hoạt động

dự đoán người ta có thể chỉ ra thành nhiều loại:

Dự đoán dựa vào định lượng và dựa vào định tính. Tuy nhiên, trong thống kê

chúng ta chủ yếu xem xét về mặt định lượng với mục đích cung cấp cho những nhà

quản lý có cái nhìn mang tính khoa học hơn và cụ thể hơn trước khi ra quyết định phù

hợp.

Dự đoán dựa vào nội suy và dựa vào ngoại suy: Dự đoán nội suy là chúng ta

dựa vào bản chất của hiện tượng để suy luận. Ví dụ như chúng ta xem xét mối liên hệ

giữa lượng sản phẩm sản xuất ra phụ thuộc các yếu tố đầu vào như vốn, lao động và

trình độ khoa học kỹ thuật.

Dự đoán dựa vào ngoại suy là chúng ta chỉ quan sát sự biến động của hiện

tượng trong thực tế, tổng hợp lại thành quy luật và sử dụng quy luật này để suy luận,

dự đoán sự phát triển của hiện tượng. Ví dụ như để đánh giá kết quả hoạt động của

một công ty người ta xem xét kết quả hoạt động kinh doanh của họ qua nhiều năm.

Ngoài ra, người ta còn có thể phân chia dự báo thống kê ra thành nhiều loại khác.

5.2.2. Phương pháp tổng hợp

Phương pháp này sử dụng để xử lý, tổng hợp và phân tích các số liệu. Qua đó



15



giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể hiện tượng , sự vật từ các góc độ khác nhau để từ đó

đưa ra những giải pháp cần thiết.

+) So sánh số liệu: như kết quả bán hàng, doanh thu, lợi nhuận của các năm với

nhau xem tình hình kinh doanh của Công ty lỗ hay lãi, năm nay tăng hay giảm so với

năm trước.

+) Tổng hợp: dùng phương pháp này để có cái nhìn tổng quát nhất về hiệu quả

tiêu thụ sản phẩm của Công ty. Từ đó đưa ra được những nhận xét về tình hình cung

ứng dịch vụ thương mại của công ty, nguyên nhân của những thành công hay tồn tại,

đề xuất phương hướng giải quyết những vấn đề đó.

- Khái quát hóa: sau khi phân tích, so sánh và tổng hợp các số liệu chúng ta sử

dụng phương pháp này để đưa ra những nhận xét về vấn đề phân tích.

5.2.3.



Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh dùng để so sánh kết quả hoạt động kinh doanh của công ty



ở các năm để thấy được sự tăng trưởng và phát triển của hoạt động sản xuất kinh

doanh của công ty qua các năm. Từ đó đư ra nhân xét toàn diện về hoạt động sản xuất

kinh doanh của công ty

6. Kết cấu đề tài.

Kết cấu đề tài ngoài tóm lược, mục lục, lời cảm ơn, phần mở đầu và Kết luận,

danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục gồm có 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản trị cung ứng dịch vụ

thương mại của doanh nghiệp thương mại.

Chương 2: Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản trị cung ứng dịch vụ

thương mại tại Công ty TNHH Công Nghệ và Truyền Thông Tam Nguyên .

Chương 3: Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản trị

cung ứng dịch vụ thương mại tại Công ty TNHH Công Nghệ và Truyền Thông Tam

Nguyên.



16



CHƯƠNG 1

MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ CUNG ỨNG DỊCH

VỤ THƯƠNG MẠI CỦA DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI.

1.1. Các khái niêm có liên quan đến công tác quản trị cung ứng dịch vụ thương

mại của doanh nghiệp thương mại.

1.1.1. Khái niệm về dịch vu

“Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia

và chủ yếu là vô hình, không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có

thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”_ Philip Kotlel.( Giáo trình quản

trị dịch vụ- ĐH Thương Mại)

Hay “Dịch vụ là một hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết

các mối quan hệ giữu khách hàng hoặc tài sản mà khách hàng sở hữu với người cung

cấp mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu”. (Giáo trình quản trị dịch vụ- ĐH

Thương Mại)

1.1.2. Khái niệm về thương mại

Ban đầu “thương mại” được hiểu là hoạt động mua bán hàng hóa nhắm mục

đích kiếm lời về sau cùng với sự phát triển của các quan hệ kinh tế xã hội khái niệm

thương mại đã được mở rộng hơn

Thật vậy không phải hoạt động mua bán hàng hóa nhưng hoạt động cung ứng

dịch vụ (cung cấp tour du lịch, tư vấn pháp lý, quảng cáo sản phẩm) của các cty du

lịch, cty tư vấn luật, cty quảng cáo điều là nghề nghiệp chính của cty đó, họ làm những

dịch vụ này cũng nhằm mục đích lợi nhuận.

Như vậy hoạt động thương mại không chỉ là mua bán hàng hóa và định nghĩa

hoạt động thương mại theo Luật thương mại 2005 đã được mở rộng hơn “hoạt động

thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi bao gồm mua bán hàng hóa cung ứng

dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi

khác”(điều 3-LTM 2005)

1.1.3. Khái niệm về dịch vu thương mại.

Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 định nghĩa “dịch vụ thương mại bao gồm

những dịch vụ gắn với việc mua bán hàng hóa”. Định nghĩa này được cụ thể hóa trong



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phương pháp nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×