Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ XÂY DỰNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ XÂY DỰNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

Tải bản đầy đủ - 0trang

động vật hố, lao động sống và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp cần bỏ

ra trong quá trình thực hiện hợp đồng xây dựng.( GT- Kế tốn tài chính Đại học

Thương Mại – TS Nguyễn Tuấn Duy, TS Đặng Thị Hoà- NXB Thống kê- 2010).

Hoạt động xây dựng cơ bản cũng là một dạng của hoạt động sản xuất, trong

đó cũng sử dụng các yếu tố trên để câu thành nên sản phẩm xây lắp. Do đó, chi

phí sản xuất của doanh nghiệp xây dựng là tồn bộ hao phí về lao động sống và

lao động vật hóa phát sinh trong q trình xây dựng và cấu thành nên giá thành

sản phẩm xây dựng.

Chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây dựng cũng mang đầy đủ các yếu tố của

chi phí sản xuất, bao gồm chi phí ngun vật liệu, nhân cơng, chi phí sử dụng máy

móc thi cơng và chi phí sản xuất chung: các chi phí dịch vụ mua ngồi và các chi

phí bằng tiền khác….

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là các chi phí về nguyên liệu, vật liệu sử dụng

trực tiếp cho hoạt động cho quá trình xây lắp hoặc sử dụng cho sản xuất sản phẩm,

thực hiện dịch vụ, lao vụ của doanh nghiệp xây lắp.

Chi phí nhân cơng trực tiếp (NCTT) là các chi phí lao động trực tiếp tham gia

vào quá trình hợp đồng xây dựng bao gồm cả khoản phải trả cho người lao động

trong biên chế của doanh nghiệp và cho người lao động th ngồi (khơng bao gồm

các khoản tính trích theo lương).

Chi phí sản xuất chung là tồn bộ những khoản chi phí cần thiết phục vụ cho

quá trình sản xuất sản phẩm, xây lắp của doanh nghiệp, phát sinh ở các phân xưởng

hay bộ phận sản xuất.

Chi phí sử dụng máy thi cơng là tồn bộ các chi phí về vật liệu, nhân cơng và

có chi phí khác có liên quan đến sử dụng máy thi công.

Doanh nghiệp xây lắp là một doanh nghiệp sản xuất trong đó q trình hoạt

động sản xuất cũng là sự kết hợp của các yếu tố, sức lao động của con người, tư liệu

lao đông và đối tượng lao động. Quá trình sử dụng các yếu tố cơ bản trong sản xuất

cũng đồng thời là quá trình doanh nghiệp phải chi ra những chi phí sản xuất tương

ứng chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí NVL, và trong nền kinh tế thị trường các yếu

tố chi phí được biểu hiện bằng tiền.

Vậy chi phí xây lắp là biểu hiện bằng tiền tồn bộ hao phí về lao động sống và



9



lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành các hoạt động sản xuất và

xây lắp trong một thời kỳ nhất định.

Tuy nhiên trong quá trình xây lắp doanh nghiệp phát sinh rất nhiều khoản chi

phí ngồi hoạt động sản xuất xây lắp. Theo chế độ kế tốn hiện hành, chỉ những chi

phí phát sinh liên quan đến quá trình sản xuất xây lắp nhằm tạo ra sản phẩm xây lắp

mới được coi là chi phí sản xuất xây lắp.

1.1.2. Đặc điểm và phân loại chi phí xây lắp.

 Đặc điểm của ngành xây lắp

So với các ngành sản xuất khác, ngành XDCB có những đặc điểm về kinh tế kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rất rõ nét ở sản phẩm xây lắp và quá trình tạo ra sản

phẩm của ngành. Điều này đã chi phối đến cơng tác kế tốn chi phí sản xuất và tính

giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây dựng.

Xây lắp là một ngành sản xuất mang tính công nghiệp nhằm tạo ra cơ sở vật

chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân, góp phần hồn thiện cơ cấu kinh tế, tạo tiền

đề để thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên ngành xây lắp có

những đặc điểm riêng biệt khác với các ngành sản xuất khác ảnh hưởng đến công

tác quản lý và hạch tốn.

Sản phẩm xây lắp là những cơng trình xây dựng, vật kiến trúc có quy mơ lớn,

kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian thi cơng lâu dài. Mỗi sản phẩm

được xây lắp theo thiết kế kỹ thuật và giá dự tốn riêng. Do đó, đòi hỏi mỗi sản

phẩm trước khi tiến hành sản xuất phải lập dự tốn về thiết kế thi cơng và trong quá

trình sản xuất sản phẩm xây lắp phải tiến hành so sánh với dự toán, lấy dự toán làm

thước đo.

Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thỏa thuận với chủ

đầu tư (giá đấu thầu), giá này thường được xác định trước khi tiến hành sản xuất

thông qua hợp đồng giao nhận thầu. Mặt khác sản phẩm xây lắp không thuộc đối

tượng lưu thông, nơi sản xuất đồng thời là nơi tiêu thụ sản phẩm vì vậy sản phẩm

xây lắp là loại hàng hóa đặc biệt.

Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất (xe máy,

thiết bị thi công, người lao động) phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm. Đặc

điểm này làm cho công tác quản lý sử dụng, hạch toán tài sản, vật tư rất phức tạp.



10



Sản phẩm xây lắp từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành bàn giao đưa vào

sử dụng thường kéo dài. Q trình thi cơng được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi

giai đoạn lại chia thành nhiều công việc khác nhau, các cơng việc thường diễn ra

ngồi trời chịu tác động rất lớn của các nhân tố môi trường. Đặc điểm này khiến cho

kế tốn chi phí trở nên khó khăn, đồng thời đòi hỏi việc tổ chức quản lý, giám sát

phải chặt chẽ sao cho bảo đảm chất lượng cơng trình đúng như thiết kế, dự tốn.

Những đặc điểm trên đã ảnh hưởng rất lớn tới oông tác tổ chức hạch toán kế

toán làm cho phương pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây

lắp có những đặc điểm riêng. Để phát huy đầy đủ vai trò là cơng cụ quản lý kinh tế,

cơng tác kế tốn trong các doanh nghiệp xây lắp phải được tổ chức phù hợp với đặc

điểm sản xuất kinh doanh, quy trình cơng nghệ sản xuất sản phẩm trong xây dựng

cơ bản và thực hiện nghiêm túc các chế độ của kế toán do Nhà nước ban hành.

 Đặc điểm của chi phí xây lắp

Chi phí xây lắp mang đầy đủ đặc điểm của chi phí nói chung và chi phí sản

xuất nói riêng. Do đặc thù của ngành nghề, nên chúng cũng mang những đặc điểm

đặc trưng riêng biệt sau:

- Phát sinh tại các công trường, kế tốn khó quản lý về mặt số lượng;

- Có độ hao hụt thất thường do tác động của các yếu tố mơi trường;

- Thời gian thi cơng cơng trình thường kéo dài, do đó, chi phí xây dựng chịu

tác động trực tiếp từ sự biến động giá cả của các loại vật tư như sắt thép, xi măng,

 Phân loại chi phí xây lắp:

Đối với doanh nghiệp xây dựng thì việc quản lý chi phí sản xuất khơng chỉ

dựa vào các số liệu tổng hợp về chi phí mà còn căn cứ vào số liệu cụ thể của từng

loại chi phí theo từng CT, HMCT ở từng thời điểm nhất định. Do vậy, phân loại chi

phí phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả quản lý chi phí sản xuất. Tùy

theo nhu cầu quản lý của nhà quản trị mà các loại chi phí được sắp xếp, phân

loại theo các cách thức khác nhau.

Phân loại chi phí xây dựng theo nội dung kinh tế của chi phí:

Theo cách phân loại này, mỗi loại chi phí sản xuất mang một nội dung kinh tế

riêng, ngồi ra khơng phân biệt chi phí đó phát sinh ở lĩnh vực hoạt động sản xuất

nào, ở đâu và mục đích hoặc tác dụng của chi phí như thế nào. Ta có thể phân loại

như sau:

11



- Chi phí nguyên vật liệu: là giá trị của các loại nguyên vật liệu chính, vật liệu

phụ, phụ tùng thay thế, vật liệu thiết bị xây dựng cơ bản mà doanh nghiệp đã sử

dụng trong quá trình sản xuất sản phẩm.

- Chi phí nhân cơng: là các khoản tiền lương, tiền cơng tác các khoản trích

BHXH, BHYT, KPCĐ của cơng nhân sản xuất trong doanh nghiệp.

- Chi phí cơng cụ dụng cụ là phần giá trị hao mòn của các loại cơng cụ dụng

cụ trong q trình xây lắp.

- Chi phí khấu hao TSCĐ: là tồn bộ số tiền tính khấu hao TSCĐ sử dụng vào

hoạt động xây lắp của doanh nghiệp.

- Chi phí dịch vụ mua ngồi: là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp phải trả về

các dịch vụ bên ngồi sử dụng vào q trình xây lắp của doanh nghiệp như tiền

điện, tiền nước, tiền điện thoại.

- Chi phí khác bẳng tiền: là tồn bộ các khoản chi phí phát sinh trong q trình

sản xuất xây lắp ở doanh nghiệp ngoài các yếu tố trên và được thanh tốn bằng tiền.

Việc phân loại chi phí theo nội dung kinh tế chỉ rõ quá trình hoạt động xây lắp

doanh nghiệp phải phân bố ra các loại chi phí gì, nó là cơ sở để kế tốn tập hợp chi

phí sản xuất theo yếu tố, phục vụ lập bảng thuyết minh, báo cáo tài chính, là cơ sở

để phân tích kiểm tra dự tốn chi phí sản xuất và lập kế hoạch cung ứng vật tư, là cơ

sở để tính mức tiêu hao vật chất thu nhập quốc dân.

Phân loại chi phí xây lắp theo mục đích cơng dụng của chi phí:

Khơng xét đến nội dung kinh tế của chi phí, tiêu thức phân loại này chỉ rõ chi

phí doanh nghiệp bỏ ra cho từng lĩnh vực hoạt động, từng địa điểm phát sinh chi

phí, làm cơ sở cho việc tính giá thành sản phẩm xây lắp theo khoản mục và phân

tích tình hình thực hiện giá thành. Trong doanh nghiệp xây lắp, chi phí sản xuất

được chi thành các khoản mục:

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là chi phí vật liệu chính, vật liệu phụ, vật

liệu kết cấu, vật liệu luân chuyển cần thiết để tạo nên sản phẩm xây lắp, không bao

gồm chi phí vật liệu đã tính vào chi phí sản xuất chung, chi phí máy thi cơng.

- Chi phí nhân cơng trực tiếp: Là chi phí về tiền lương, tiền cơng, các khoản

phụ cấp có tính chất lượng của nhân cơng trực tiếp xây lắp để hoàn chỉnh sản phẩm

xây lắp, khoản mục này khơng bao gồm các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ tính

12



trên tiền lương của cơng nhân trực tiếp sản phẩm xây lắp và chi phí tiền lương nhân

viên quản lý đội, nhân viên điều khiển máy thi công.

- Chi phí sử dụng máy thi cơng: Là tồn bộ chi phí sử dụng xe, máy thi cơng

phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất xây lắp cơng trình bao gồm: chi phí khấu

hao máy thi cơng, chi phí sửa chữa lớn sửa chữa thường xuyên máy thi công, chi

phí nhiên liệu và động lực dùng cho máy thi cơng và các khồn chi phí liên quan

đến việc sử dụng máy thi cơng chi phí di chuyển, tháo, lắp máy thi cơng. Khoản

mục chi phí máy thi cơng khơng bao gồm khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ tính

trên tiền lương cơng nhân điều khiển máy.

- Chi phí sản xuất chung: Là các chi phí trực tiếp khai thác ngồi các khoản

chi phí phát sinh ở tổ đội, cơng trường xây dựng bao gồm: lương nhân viên quản lý

đội, các khoản BHYT, BHXH, KPCĐ tính trên tiền lương phải trả cơng nhân trực

tiếp sản xuất xây lắp, nhân viên quản lý đội, công nhân điều khiển máy thi công,

khấu hao TSCĐ dùng chung cho hoạt động của tổ, đội và chi phí liên quan đến hoạt

động của tổ đội.

Ngồi hai cách phân loại trên còn có cách phân loại khác như:

- Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và mức độ hoạt

động thì chi phí gồm: chi phí cố định, chi phí biến đổi và chi phí hỗn hợp.

- Phân loại chi phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chi phí thì chi phí gồm:

chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp.

- Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với quy trình cơng nghệ sản xuất

sản phẩm thì chi phí gồm: chi phí cơ bản và chi phí chung.

Như vậy mỗi cách phân loại chi phí sản xuất có ý nghĩa riêng phục vụ cho

từng đối tượng quản lý và từng đối tượng cung cấp thông tin cụ thể nhưng chúng

ln bổ sung cho nhau nhằm quản lý có hiệu quả nhất về tồn bộ chi phí phát sinh

trong phạm vi từng doanh nghiệp.

1.1.3. Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ của kế tốn chi phí

1.1.3.1. u cầu quản lý chi phí

Việc tiết kiệm chi phí là mục tiêu của tất cả DN chứ không chỉ riêng DN xây

lắp. Trong các DN xây lắp để đảm bảo mỗi cơng trình, khối lượng cơng việc hồn

thành phải mang lại một mức lãi tối thiểu, do đó yêu cầu quản lý đặt ra với cơng tác

quản lý chi phí sản xuất là phải:

13



- Phân loại chi phí theo từng tiêu thức hợp lý như phân loại chi phí kết hợp với

phân loại theo khoản mục trong giá thành để nắm được nguyên nhân tăng giảm của

từng yếu tố trong từng khoản mục để có kế hoạch điều chỉnh.

- Mỗi cơng trình đều phải lập dự tốn chi phí theo từng khoản mục, từng yếu

tố chi phí, theo từng loại vật tư, tài sản.

- Thường xuyên đối chiếu chi phí thực tế với dự tốn để tìm ngun nhân vượt

chi so với dự tốn và có hướng khắc phục.

1.1.3.2. Nhiệm vụ của kế tốn chi phí

Để đáp ứng u cầu ngày càng cao của thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp

xây lắp phải tăng cường cơng tác quản lý kinh tế nói chung, quản lý giá thành nói

riêng. Kế tốn chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp cần thực hiện tốt

các nhiệm vụ cơ bản sau:

- Xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, đối tượng tính giá thành sản

phẩm cho phù hợp.

- Phản ánh đầy đủ, kịp thời, chính xác các chi phí sản xuất phát sinh; tích cực

kiểm tra tình hình thực hiện các định mức chi phí để có thể phát hiện các khoản chi

phí phát sinh ngồi kế hoạch, các khoản thiệt hại, mất mát…và có biện pháp điều

chỉnh cho hợp lý.

- Tính tốn giá thành các cơng trình xây lắp một cách chính xác, hợp lý.

- Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch giá thành theo từng cơng trình, từ đó đề ra

các biện pháp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm.

- Đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị trong

từng công trình, từng thời kỳ nhất định…, nhằm cung cấp một cách kịp thời, chính

xác các thơng tin về chi phí giá thành cho các nhà quản lý.

1.1.4. Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí xây lắp

1.1.4.1. Đối tượng tập hợp chi phí:

Đối tượng tập hợp chi phí là phạm vi giới hạn mà các chi phí sản xuất phát

sinh được tập hợp theo phạm vi giới hạn đó. Trong q trình xây dựng cơng trình,

các chi phí thường được phát sinh ở những tổ đội thi công khác nhau. Do đó để xác

định đúng đối tượng tập hợp chi phí cần phải căn cứ vào các yếu tố sau:

- Tính chất tổ chức sản xuất, loại hình sản xuất và đặc điểm kinh doanh cũng

như đặc điểm tổ chức sản xuất.



14



- Căn cứ vào yêu cầu tính giá thành, u cầu quản lí và khả năng, trình độ

quản lí của doanh nghiệp, trình độ càng cao thì đối tượng tập hợp chi phí càng cụ

thể và chi tiết.

- Căn cứ vào u cầu kiểm tra,kiểm sốt chi phí và yêu cầu hạch toán kinh tế

nội bộ doanh nghiệp.

Trong sản xuất xây lắp, với tính chất phức tạp của quy trình cơng nghệ, loại

hình sản xuất đơn chiếc, sản phẩm xây lắp có giá trị kinh tế lớn, thường được phân

chia thành nhiều khu vực, nhiều bộ phận thi cơng. Mỗi cơng trình, hạng mục cơng

trình đều có dự toán, thiết kế riêng, cấu tạo vật chất khác nhau nên tuỳ thuộc vào

cơng việc cụ thể, trình độ quản lí của mỗi doanh nghiệp xây lắp mà đối tượng hạch

tốn chi phí có thể là từng cơng trình, hạng mục cơng trình hay từng đơn đặt hàng.

Việc xác định đối tượng hạch tốn chi phí là khâu đầu tiên, cần thiết của cơng

tác hạch tốn chi phí xây lắp. Chỉ có xác định đúng đắn đối tượng hạch tốn chi phí

mới có thể tổ chức tốt cơng tác hạch tốn.Trên cơ sở đối tượng hạch tốn chi phí, kế

tốn lựa chọn phương pháp hạch tốn chi phí thích ứng.

1.1.4.2. Phương pháp tập hợp chi phí:

 Phương pháp tập hợp trực tiếp:

Phương pháp này áp dụng trong trường hợp chi phí sản xuất phát sinh chỉ liên

quan đến từng đối tượng kế tốn tập hợp chi phí riêng biệt. Do đó ngay từ khâu

hạch tốn ban đầu, chứng từ gốc phải ghi chép riêng rẽ chi phí cho từng đối tượng

cụ thể tập hợp chi phí. Căn cứ vào các chứng từ đó,kế tốn quy nạp trực tiếp các chi

phí cho từng đối tượng. Trong doanh nghiệp xây lắp, kế toán thường sử dụng

phương pháp này để tập hợp chi phí NVL trực tiếp, chi phí nhân cơng trực tiếp.

 Phương pháp phân bổ gián tiếp chi phí sản xuất:

Phương pháp này áp dụng đối với những chi phí gián tiếp liên quan đến nhiều

đối tượng kế toán tập hợp chi phí khác nhau mà khơng tổ chức ghi chép ban đầu

riêng cho từng đối tượng được, trong trường hợp đó, chi phí phát sinh chung cho

nhiều đối tượng được tập hợp theo từng nơi phát sinh chi phí. Sau đó lựa chọn tiêu

chuẩn phân bổ thích hợp để phân bổ khoản chi phí này cho từng đối tượng kế tốn.

Việc phân bổ chi phí sản xuất gián tiếp được tiến hành theo trình tự sau:

- Lựa chọn tiêu thức phân bổ hợp lí và tính hệ số phân bổ chi phí.

Tiêu thức phân bổ chi phí là tiêu thức đảm bảo được mối quan hệ tỷ lệ thuận

15



giữa tổng chi phí cần đươc phân bổ với tiêu thức phân bổ của đối tượng.

Hệ số phân bổ được xác định như sau:

H=

Trong đó H: Hệ số phân bổ chi phí

C: Tổng chi phí cần phân bổ

Ti: Tổng đại lượng của tiêu thức phân bổ các đối tượng i

Tính mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng (i):

Ci= Ti x H

Tiêu chuẩn phân bổ thường được sử dụng là: Chi phí sản xuất, chi phí kế

hoạch, chi phí định mức, chi phí NVL chính… trong các DNXL phương pháp này ít

được sử dụng.

1.2. Nội dung nghiên cứuchi phí sản xuất xây lắp trong doanh nghiệp

1.2.1. Kế tốn chi phí xây lắp theo chuẩn mực kế toán Việt Nam

1.2.1.1. Kế toán chi phí xây lắp trong doanh nghiệp theo quy định của VAS

01- Chuẩn mực chung:

Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và yêu

cầu kế toán cơ bản, các yếu tố và ghi nhận các yếu tố của báo cáo tài chính của

doanh nghiệp, nhằm:

a/ Làm cơ sở xây dựng và hoàn thiện các chuẩn mực kế toán và chế độ kế

toán cụ thể theo khuôn mẫu thống nhất;

b/ Giúp cho doanh nghiệp ghi chép kế tốn và lập báo cáo tài chính theo các

chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán đã ban hành một cách thống nhất và xử lý các

vấn đề chưa được quy định cụ thể nhằm đảm bảo cho các thơng tin trên báo cáo tài

chính phản ánh trung thực và hợp lý;

c/ Giúp cho kiểm toán viên và người kiểm tra kế toán đưa ra ý kiến về sự phù

hợp của báo cáo tài chính với chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán;

d/ Giúp cho người sử dụng báo cáo tài chính hiểu và đánh giá thơng tin tài

chính được lập phù hợp với các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán.

Các nguyên tắc, yêu cầu kế toán cơ bản và các yếu tố của báo cáo tài chính

quy định trong chuẩn mực này được quy định cụ thể trong từng chuẩn mực kế toán,



16



phải được áp dụng đối với mọi doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong

phạm vi cả nước. Chuẩn mực này không thay thế các chuẩn mực kế tốn cụ thể. Khi

thực hiện thì căn cứ vào chuẩn mực kế toán cụ thể. Trường hợp chuẩn mực kế tốn

cụ thể chưa quy định thì thực hiện theo Chuẩn mực chung.

Như chúng ta đã biết, chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí khác được ghi

nhận trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh khi các khoản chi phí này làm

giảm bớt các lợi ích kinh tế trong tương lai có liên quan đến việc giảm bớt tài sản

hoặc tăng nợ phải trả và chi phí này phải xác định được một cách đáng tin cậy.

Các chi phí được ghi nhận trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phải

tuân thủ nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí. Khi lợi ích kinh tế dự kiến

thu được trong nhiều kỳ kế tốn có liên quan đến doanh thu và thu nhập khác được

xác định một cách gián tiếp thì các chi phí liên quan được ghi nhận trong Báo cáo

kết quả hoạt động kinh doanh trên cơ sở phân bổ theo hệ thống hoặc theo tỷ lệ. Một

khoản chi phí được ghi nhận ngay vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong

kỳ khi chi phí đó khơng đem lại lợi ích kinh tế trong các kỳ sau.

Trong chuẩn mực này có 7 ngun tắc kế tốn và có sự tác động chi phối đến

kế tốn chi phí xây lắp.

Cơ sở dồn tích (Đoạn 03)

Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ

phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế tốn vào thời

điểm phát sinh, khơng căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc

tương đương tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình hình tài

chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai.

Ngun tắc này có ảnh hưởng khơng nhỏ đến cơng tác kế tốn chi phí xây lắp.

Khi hồn thành xong một cơng trình xây lắp,lúc có quyết tốn cơng trình, kế

toán phải tiến hành xuất hoá đơn. Sau khi xuất hoá đơn cho chủ đầu tư, dù rằng

chưa nhận được tiền họ trả nhưng kế toán vẫn phải ghi nhận doanh thu. Nó tn thủ

ngun tắc cơ sở dồn tích: phản ánh các nghiệp vụ kinh tế vào thời điểm phát sinh,

không căn cứ vào thời điểm thực tế.

Hoạt động Liên tục (Đoạn 04)

Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt



17



động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần,

nghĩa là doanh nghiệp khơng có ý định cũng như khơng buộc phải ngừng hoạt động

hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình. Trường hợp thực tế khác

với giả định hoạt động liên tục thì báo cáo tài chính phải lập trên một cơ sở khác và

phải giải thích cơ sở đã sử dụng để lập báo cáo tài chính.

Áp dụng nguyên tắc này đối với bộ phận kế toán chi phí xây lắp thì các báo

cáo về chi phí của đơn vị phải được lập dựa trên giả định doanh nghiệp đang hoạt

động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động liên tục (hay chính là hoạt động xây lắp

của đơn vị đang và sẽ tiếp tục diễn ra liên tục) trong tương lai gần mà khơng có ý

định ngừng hoạt động sản xuất. Trừ trường hợp khác với giả định này thì các báo

cáo liên quan đến chi phí xây lắp sẽ được lập trên cơ sở khác và u cầu phải có

giải trình cụ thể cơ sở mới này.

Giá gốc (Đoạn 05)

Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc của tài sản được tính theo số

tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài

sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận. Giá gốc của tài sản khơng được thay

đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể.

Nguyên tắc này có ảnh hưởng rất lớn đến nguyên giá của TSCĐ của đơn vị

xây lắp, tiêu biểu đó là ảnh hưởng đến nguyên giá của các loại máy cẩu tháp, máy

xúc khi đơn vị mua về. Giá gốc cuả các loại máy móc này phải được tính theo số

tiền hoặc khoản tương đương tiền đó trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của

máy móc đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận và giá gốc của các loại máy móc

này khơng được thay đổi trừ khi có quy định mới.

Phù hợp (Đoạn 06)

Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một

khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến

việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra

doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến

doanh thu của kỳ đó.

Khi tiến hành xây dựng hạng mục cơng trình, lúc tiến hành xuất hoá đơn cho

từng lần thanh toán, kế toán cũng phải căn cứ vào khối lượng cơng việc hồn thành(

căn cứ vào các chi phí đã tập hợp). Khi tiến hành ghi nhận doanh thu, kế toán phải



18



hạch toán cả chi phí tương ứng với phần doanh thu đó.

Nhất qn (Đoạn 07)

Các chính sách và phương pháp kế tốn doanh nghiệp đã chọn phải được áp

dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế tốn năm. Trường hợp có thay đổi chính

sách và phương pháp kế tốn đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự

thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.

Trong bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng thế, nguyên tắc nhất quán thực sự rất

quan trọng, đặc biệt là doanh nghiệp xây lắp. Doanh nghiệp xây lắp phát sinh nhiều

vật tư xuất nhập kho, do đó cần phải có sự nhất qn trong kỳ kế tốn ví dụ như

về phương pháp đánh giá hàng tồn kho… để tránh sự sai sót, nhầm lẫn trong

BCTC của năm.

Thận trọng (Đoạn 08)

Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính

kế tốn trong các điều kiện khơng chắc chắn. Ngun tắc thận trọng đòi hỏi:

a/ Phải lập các khoản dự phòng nhưng khơng lập q lớn;

b/ Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập;

c/ Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí;

d/ Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về

khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng

về khả năng phát sinh chi phí.

Doanh nghiệp xây lắp có các hạng mục cơng trính lớn, giá trị tương đối cao.

Trong khi tình hình kinh tế khó khăn, chúng ta khơng thể chắc chắn xây dựng xong,

chủ đầu tư trả tièn ngay, mà phải tính đến phương án họ sẽ nợ lại và rất khó đòi. Do

đó, kế tốn cần phải cân nhắc để trích lập các khoản dự phòng để tránh trường hợp

mình khơng đòi được nợ và tương lai xa phải xố nợ.

Kế toán phải tuân thủ nguyên tắc Thận trọng một cách tuyết đối , khi phát sinh

các khoản nợ phải trả hay phát sinh chi phí, kế tốn khơng được đánh giá thấp hơn

giá trị của nó vì còn phải đề phòng đơn giá tăng do thay đổi thời gian. Còn khi phát

sinh các khoản thu nhập hay ghi nhận giá trị tài sản, kế tốn khơng được ghi giá cao

hơn vì đối với khoản thu nhập thì chưa chắc thu được tồn bộ giá trị. Và kế tốn chỉ

được ghi nhận doanh thu khi có đủ tài liệu liên quan đến hạng mục cơng trình như



19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ XÂY DỰNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×