Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Một số lý luận cơ bản về kế toán hàng tồn kho

Một số lý luận cơ bản về kế toán hàng tồn kho

Tải bản đầy đủ - 0trang

trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể”. Như vậy, giá gốc

của HTK được xác định theo giá mua hoặc giá thành sản xuất và các chi phí

thực tế liên quan trực tiếp đến việc hình thành HTK. Giá trị này sẽ được phản

ánh trên BCTC ở mọi thời điểm cho dù có sự biến động lớn về giá cả của

HTK trên thị trường.

VAS 01 – Đoạn 06 quy định nguyên tắc phù hợp “Việc ghi nhận doanh

thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì

phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh

thu đó.” Theo đó, việc ghi nhận giá gốc của HTK đã bán vào chi phí sản xuất

kinh doanh trong kỳ phải luôn luôn đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa chi phí

và doanh thu.

VAS 01 – Đoạn 07 quy định nguyên tắc nhất quán: “Các chính sách và

phương pháp kế tốn doanh nghiệp đã chọn phải được áp dụng thống nhất ít

nhất trong một kỳ kế tốn năm. Trường hợp có thay đổi chính sách và phương

pháp kế tốn đã chọn thì phải giải trình lý do và sự ảnh hưởng của sự thay đổi

đó trong phần thuyết minh BCTC”. Như vậy ta có thể hiểu việc DN áp dụng

các chính sách và phương pháp kế tốn HTK phải được thống nhất ít nhất

trong một kỳ kế toán. Điều này sẽ đảm bảo yêu cầu có thể so sánh được các

số liệu và thơng tin kế toán HTK giữa các kỳ trong một DN. Mặt khác, để có

thể so sánh, tổng hợp và lập BCTC hợp nhất thì đòi hỏi tồn DN phải áp dụng

nhất qn các chính sách và phương pháp kế tốn. Nếu một DN trực thuộc áp

dụng chính sách và phương pháp kế tốn khác với chính sách và phương pháp

kế tốn thống nhất trong tồn DN thì DN đó phải điều chỉnh BCTC trước khi

sử dụng cho việc lập BCTC hợp nhất.

VAS 01 – Đoạn 08 quy định nguyên tắc thận trọng; “Thận trọng là việc

xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế tốn trong các

điều kiện khơng chắc chắn. Ngun tắc thận trọng đòi hỏi phải lập các khoản

dự phòng nhưng khơng lập q lớn; Không đánh giá cao hơn giá trị của các

tài sản và các khoản thu nhập; Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản

12



nợ phải trả và chi phí; Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có các

bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải

được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí.” Như vậy,

khi HTK của DN có khả năng bị giảm giá trên thị trường thì HTK sẽ phải ghi

nhận ngay khoản lỗ có thể xảy ra ngay cả khi chưa có bằng chứng pháp lý

chắc chắn.

2.1.2. Sự chi phối của VAS02 đến kế toán hàng tồn kho

Theo VAS số 02, hàng tồn kho được tính theo giá gốc. Trường hợp giá trị

thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần có

thể thực hiện được.Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: Chi phí mua, chi phí chế

biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho

ở địa điểm và trạng thái hiện tại.

Chi phí mua của hàng tồn kho bao gồm giá mua, các loại thuế khơng

được hồn lại, chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản trong quá trình mua

hàng và các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến việc mua hàng tồn kho.

Các khoản chiết khấu thương mại và giảm giá hàng mua do hàng mua không

đúng quy cách, phẩm chất được trừ (-) khỏi chi phí mua.

Chi phí chế biến hàng tồn kho bao gồm những chi phí có liên quan trực

tiếp đến sản phẩm sản xuất, như chi phí nhân cơng trực tiếp, chi phí sản xuất

chung cố định và chi phí sản xuất chung biến đổi phát sinh trong q trình

chuyển hóa ngun liệu, vật liệu thành thành phẩm.

Chi phí sản xuất chung cố định là những chi phí sản xuất gián tiếp,

thường khơng thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất, như chi phí khấu

hao, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị, nhà xưởng,... và chi phí quản lý

hành chính ở các phân xưởng sản xuất.

Chi phí sản xuất chung biến đổi là những chi phí sản xuất gián tiếp,

thường thay đổi trực tiếp hoặc gần như trực tiếp theo số lượng sản phẩm sản

xuất, như chi phí nguyên liệu, vật liệu gián tiếp, chi phí nhân cơng gián tiếp.

Chi phí sản xuất chung cố định phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi

13



đơn vị sản phẩm được dựa trên công suất bình thường của máy móc sản xuất.

Cơng suất bình thường là số lượng sản phẩm đạt được ở mức trung bình trong

các điều kiện sản xuất bình thường.

Chi phí sản xuất chung biến đổi được phân bổ hết vào chi phí chế biến

cho mỗi đơn vị sản phẩm theo chi phí thực tế phát sinh.

Trường hợp một quy trình sản xuất ra nhiều loại sản phẩm trong cùng

một khoảng thời gian mà chi phí chế biến của mỗi loại sản phẩm khơng được

phản ánh một cách tách biệt, thì chi phí chế biến được phân bổ cho các loại

sản phẩm theo tiêu thức phù hợp và nhất quán giữa các kỳ kế tốn.

Trường hợp có sản phẩm phụ, thì giá trị sản phẩm phụ được tính theo giá

trị thuần có thể thực hiện được và giá trị này được trừ (-) khỏi chi phí chế biến

đã tập hợp chung cho sản phẩm chính.

Chi phí liên quan trực tiếp khác tính vào giá gốc hàng tồn kho bao gồm

các khoản chi phí khác ngồi chi phí mua và chi phí chế biến hàng tồn kho. Ví

dụ, trong giá gốc thành phẩm có thể bao gồm chi phí thiết kế sản phẩm cho

một đơn đặt hàng cụ thể.

Chi phí khơng được tính vào giá gốc hàng tồn kho, gồm:

+ Chi phí nguyên liệu, vật liệu, chi phí nhân cơng và các chi phí sản

xuất, kinh doanh khác phát sinh trên mức bình thường;

+ Chi phí bảo quản hàng tồn kho trừ các khoản chi phí bảo quản hàng

tồn kho cần thiết cho q trình sản xuất tiếp theo và chi phí bảo quản quy định

ở đoạn 06;

+ Chi phí bán hàng;

+ Chi phí quản lý doanh nghiệp.

* Phương pháp tính trị giá hàng tồn kho

Việc tính giá trị hàng tồn kho được áp dụng theo một trong các phương

pháp sau:

+ Phương pháp tính theo giá đích danh được áp dụng đối với doanh

nghiệp có ít loại mặt hàng hoặc mặt hàng ổn định và nhận diện được.

14



+ Phương pháp bình quân gia quyền giá trị của từng loại hàng tồn kho

được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho tương tự đầu kỳ

và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Giá trị

trung bình có thể được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lô hàng

về, phụ thuộc vào tình hình của doanh nghiệp.

+ Phương pháp nhập trước, xuất trước áp dụng dựa trên giả định là hàng

tồn kho được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước, và hàng tồn

kho còn lại cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần thời điểm

cuối kỳ. Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá

của lơ hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn

kho được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối

kỳ còn tồn kho.

* Giá trị thuần có thể thực hiện được và lập dự phòng giảm giá hàng tồn

Giá trị hàng tồn kho không thu hồi đủ khi hàng tồn kho bị hư hỏng, lỗi

thời, giá bán bị giảm, hoặc chi phí hồn thiện, chi phí để bán hàng tăng lên.

Việc ghi giảm giá gốc hàng tồn kho cho bằng với giá trị thuần có thể thực

hiện được là phù hợp với nguyên tắc tài sản không được phản ánh lớn hơn giá

trị thực hiện ước tính từ việc bán hay sử dụng chúng. Cuối kỳ kế toán năm,

khi giá trị thuần có thể thực hiện được của hàng tồn kho nhỏ hơn giá gốc thì

phải lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho. Số dự phòng giảm giá hàng tồn kho

được lập là số chênh lệch giữa giá gốc của hàng tồn kho lớn hơn giá trị thuần

có thể thực hiện được của chúng. Việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho

được thực hiện trên cơ sở từng mặt hàng tồn kho.

2.2. Nội dung kế toán hàng tồn kho

2.2.1. Kế toán chi tiết hàng hoá:

Kế toán chi tiết hàng hoá được thực hiện chi tiết đối với các loại hàng

hoá lưu chuyển qua kho cả về chỉ tiêu giá trị lẫn hiện vật. Đây là công tác

quản lý hàng hố cần có ở các doanh nghiệp. Hạch tốn nhập- xuất- tồn hàng

15



hoá phải được phản ánh theo giá thực tế.

Việc hạch toán chi tiết hàng tồn kho phải được thực hiện hàng ngày ở

từng kho và từng loại vật tư, hàng hoá. Cuối tháng, phải tổng hợp số liệu để

xác định giá vốn của hàng tiêu thụ.

Hiện nay các doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong ba phương pháp

ghi chi tiết hàng hố đó là: phương pháp thẻ song song, phương pháp sổ đối

chiếu luân chuyển, phương pháp sổ số dư.





* Phương pháp thẻ song song.



- Nguyên tắc hạch tốn:

+ Ở kho: việc ghi chép tình hình nhập xuất tồn kho hàng ngày do thủ kho

tiến hành trên thẻ kho và chỉ ghi theo chỉ tiêu số lượng.

+ Ở phòng kế tốn: kế tốn sử dụng sổ kế tốn chi tiết vật tư để ghi chép

tình hình nhập xuất kho theo cả hai chỉ tiêu số lượng và giá trị. Về cơ bản sổ

kế toán chi tiết vật tư, hàng hóa có kết cấu giống như thẻ kho nhưng có thêm

cột giá trị.

- Trình tự ghi chép:

+ Ở kho: khi nhận được các chứng từ nhập xuất hàng hóa, thủ kho phải

kiểm tra tính hợp lý hợp pháp của chứng từ rồi tiến hành ghi chép sổ thực

nhập, thực xuất vào chứng từ và vào thẻ kho. Cuối ngày thủ kho tính ra số tồn

kho ghi ln vào thẻ kho. Định kỳ thủ kho gửi về phòng kế toán hoặc kế toán

xuống tận kho nhận chứng từ (các chứng từ nhập xuất vật tư đã được phân

loại).

Thủ kho phải thường xuyên đối chiếu số tồn kho với số hàng hóa thực tế

tồn kho, cung cấp tình hình này cho bộ phận quản lý hàng hóa được biết để

có quyết định xử lý.

+ Ở phòng kế tốn: phòng kế tốn mở sổ (thẻ) chi tiết hàng hóa có kết

cấu giống như thẻ kho nhưng thêm các cột để theo dõi cả chỉ tiêu giá trị. Khi

nhận được chứng từ nhập xuất do thủ kho gửi lên, kế toán phải kiểm tra

chứng từ, ghi đơn giá và tính thành tiền trên các chứng từ nhập xuất kho hàng

16



hóa sau đó ghi vào sổ (thẻ) hoặc sổ chi tiết vật liệu liên quan.

Cuối tháng kế toán vật liệu cộng sổ (thẻ) chi tiết để tính ra tổng số nhập

xuất tồn kho của từng thứ vật liệu đối chiếu với sổ (thẻ) kho của thủ kho.

Ngồi ra để có số liệu đối chiếu với kế tốn tổng hợp thì cần phải tổng hợp số

liệu kế toán chi tiết từ các sổ chi tiết vào bảng tổng hợp nhập xuất tồn theo

từng nhóm, từng loại vật tư.

Phương pháp này có ưu điểm là ghi chép đơn giản dễ kiểm tra đối chiếu.

Tuy nhiên, nó có nhược điểm là có sự ghi chép trùng lặp giữa thẻ kho và kế

toán. Phương pháp này phù hợp với các doanh nghiệp kinh doanh ít chủng

loại, mặt hàng, số lượng nghiệp vụ nhập xuất kho ít.

* Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển

- Nguyên tắc hạch toán:

+Ở kho: việc ghi chép ở kho của thủ kho cũng được thực hiện trên thẻ

kho và chỉ ghi chép về tình hình biến động của vật liệu về mặt số lượng.

+ Ở phòng kế tốn: sử dụng sổ đối chiếu luân chuyển để ghi tổng hợp về

số lượng và giá trị của từng loại vật liệu nhập xuất tồn kho trong tháng.

- Trình tự ghi chép:

+ Ở kho: theo phương pháp đối chiếu luân chuyển thì việc ghi chép của

thủ kho cũng được tiến hành trên thẻ kho như phương pháp thẻ song song.

+ Ở phòng kế tốn: kế tốn mở sổ đối chiếu luân chuyển để ghi chép tình

hình nhập xuất tồn kho của từng loại vật tư ở từng kho. Sổ được mở cho cả

năm nhưng mỗi tháng chỉ ghi một lần vào cuối tháng. Để có số liệu ghi vào sổ

đối chiếu luân chuyển, kế toán phải lập bảng kê nhập, bảng kê xuất trên cơ sở

các chứng từ nhập xuất thủ kho gửi lên. Sổ đối chiếu luân chuyển cũng được

theo dõi cả về chỉ tiêu khối lượng và chỉ tiêu giá trị. Cuối tháng tiến hành

kiểm tra đối chiếu số liệu giữa sổ đối chiếu luân chuyển với thẻ kho và với số

liệu của sổ kế toán tổng hợp.

* Phương pháp sổ số dư

- Nguyên tắc hạch tốn:

+Ở kho: thủ kho chỉ theo dõi tình hình nhập xuất nguyên vật liệu theo

17



chỉ tiêu hiện vật.

+ Ở phòng kế tốn: theo dõi tình hình nhập xuất nguyên vật liệu theo

từng nhóm, từng loại nguyên vật liệu theo chỉ tiêu giá trị.

- Trình tự ghi chép:

+ Ở kho: thủ kho ghi thẻ kho giống như các trường hợp trên. Nhưng cuối

tháng phải tính ra số tồn kho rồi ghi vào cột số lượng của sổ số dư.

+ Ở phòng kế tốn: kế tốn mở sổ số dư theo từng kho. Sổ dùng cho cả

năm để ghi chép tình hình nhập xuất. Từ các bảng kê nhập, bảng kê xuất kế

toán lập bảng luỹ kế nhập, luỹ kế xuất, rồi từ các bảng luỹ kế lập bảng tổng

hợp nhập xuất tồn theo từng nhóm từng loại vật tư theo chỉ tiêu giá trị.

Cuối tháng, khi nhận sổ số dư do thủ kho gửi lên kế toán căn cứ vào số

tồn cuối tháng, áp giá hạch tốn tính ra giá trị tồn kho để ghi vào cột số tiền

trên sổ số dư.

Việc kiểm tra đối chiếu được căn cứ vào cột số tiền tồn kho trên sổ số dư

và bảng kê tổng hợp nhập xuất tồn (cột số tiền) và đối chiếu vối sổ kế tốn

tổng hợp.

Nội dung, trình tự kế toán chi tiết vật tư theo phương pháp số dư được

khái quát bằng sơ đồ:

Kế toán tổng hợp hàng tồn kho:

Trong một doanh nghiệp (một đơn vị kế toán) chỉ được áp dụng một

trong hai phương pháp kế toán hàng tồn kho: Phương pháp kê khai thường

xuyên, hoặc phương pháp kiểm kê định kỳ. Việc lựa chọn phương pháp kế

toán hàng tồn kho áp dụng tại doanh nghiệp phải căn cứ vào đặc điểm, tính

chất, số lượng, chủng loại vật tư, hàng hóa và yêu cầu quản lý để có sự vận

dụng thích hợp và phải được thực hiện nhất quán trong niên độ kế toán.

a) Phương pháp kê khai thường xuyên:

Phương pháp kê khai thường xuyên là phương pháp theo dõi và phản ánh

thường xuyên, liên tục, có hệ thống tình hình nhập, xuất, tồn vật tư, hàng hóa

trên sổ kế tốn. Trong trường hợp áp dụng phương pháp kê khai thường

18



xuyên, các tài khoản kế toán hàng tồn kho được dùng để phản ánh số hiện có,

tình hình biến động tăng, giảm của vật tư, hàng hóa. Vì vậy, giá trị hàng tồn

kho trên sổ kế tốn có thể được xác định ở bất kỳ thời điểm nào trong kỳ kế

toán.

Cuối kỳ kế toán, căn cứ vào số liệu kiểm kê thực tế hàng tồn kho, so

sánh, đối chiếu với số liệu hàng tồn kho trên sổ kế toán. Về nguyên tắc số tồn

kho thực tế phải luôn phù hợp với số tồn kho trên sổ kế tốn. Nếu có chênh

lệch phải truy tìm ngun nhân và có giải pháp xử lý kịp thời. Phương pháp

kê khai thường xuyên thường áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất (công

nghiệp, xây lắp...) và các doanh nghiệp thương nghiệp kinh doanh các mặt

hàng có giá trị lớn như máy móc, thiết bị, hàng có kỹ thuật, chất lượng cao...

b) Phương pháp kiểm kê định kỳ:

- Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp hạch toán căn cứ vào kết

quả kiểm kê thực tế để phản ánh giá trị tồn kho cuối kỳ vật tư, hàng hóa trên

sổ kế tốn tổng hợp và từ đó tính giá trị của hàng hóa, vật tư đã xuất trong kỳ

theo cơng thức:

Trị giá hàng

xuất kho



=



Trị giá



Tổng trị giá



Trị giá



hàng

tồn kho đầu +



hàng

nhập kho



hàng

tồn kho



-



trong kỳ

kỳ

trong kỳ

cuối kỳ

- Theo phương pháp kiểm kê định kỳ, mọi biến động của vật tư, hàng

hóa (nhập kho, xuất kho) không theo dõi, phản ánh trên các tài khoản kế toán

hàng tồn kho. Giá trị của vật tư, hàng hóa mua và nhập kho trong kỳ được

theo dõi, phản ánh trên một tài khoản kế toán riêng (tài khoản “Mua hàng”).

- Công tác kiểm kê vật tư, hàng hóa được tiến hành cuối mỗi kỳ kế tốn

để xác định trị giá vật tư, hàng hóa tồn kho thực tế, trị giá vật tư, hàng hóa

xuất kho trong kỳ (tiêu dùng cho sản xuất hoặc xuất bán) làm căn cứ ghi sổ kế

toán của tài khoản “Mua hàng”. Như vậy, khi áp dụng phương pháp kiểm kê

định kỳ, các tài khoản kế toán hàng tồn kho chỉ sử dụng ở đầu kỳ kế toán (để

19



kết chuyển số dư đầu kỳ) và cuối kỳ kế toán (để phản ánh giá trị thực tế hàng

tồn kho cuối kỳ).

- Phương pháp kiểm kê định kỳ thường áp dụng ở các doanh nghiệp có

nhiều chủng loại hàng hóa, vật tư với quy cách, mẫu mã rất khác nhau, giá trị

thấp, hàng hóa, vật tư xuất dùng hoặc xuất bán thường xuyên (cửa hàng bán

lẻ...). Phương pháp kiểm kê định kỳ hàng tồn kho có ưu điểm là đơn giản,

giảm nhẹ khối lượng cơng việc hạch tốn. Nhưng độ chính xác về giá trị vật

tư, hàng hóa xuất dùng, xuất bán bị ảnh hưởng của chất lượng công tác quản

lý tại kho, quầy, bến bãi.

* Kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên:

Hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên là

phương pháp theo dõi ghi chép và phản ánh thường xuyên liên tục, có hệ

thống tình hình tăng giảm hàng hóa sổ sách sau mỗi lần phát sinh nghiệp vụ

nhập, xuất.

Khi áp dụng phương pháp này kế toán sử dụng các tài khoản hàng tồn

kho để phản ánh tình hình và sự biến động của vật tư, hàng hóa. Như vậy, giá

trị hàng tồn kho trên sổ kế tốn có thể xác định được ở bất cứ thời điểm nào

trong kỳ kế tốn còn kết quả kiểm kê thực tế cuối kỳ là cơ sở để so sánh đối

chiếu với số liệu trên sổ kế tốn. Nếu có chênh lệch giữa số liệu kiểm kê thực

tế và số liệu trên sổ sách, kế toán phải tìm ngun nhân để xử lý kịp thời. Do

đó phương pháp này tạo khả năng giám sát vật tư, hàng hóa trong doanh

nghiệp một cách liên tục. Điều này giúp các nhà quản lý lập kế hoạch trong

tương lai.

Phương pháp này thích hợp với các doanh nghiệp có quy mô lớn, tiến

hành đồng thời nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh, kinh doanh mặt hàng có

giá trị cao. Phương pháp này có ưu điểm là cung cấp thơng tin về hàng tồn

kho một cách kịp thời, quản lý chặt chẽ đảm bảo an toàn cho tài khoản tồn

kho. Tuy nhiên phương pháp này cũng có nhược điểm khối lượng ghi chép

của kế toán nhiều.

20



21



Kế toán sử dụng các chứng từ sau:

- Hóa đơn giá trị gia tăng mua vật tư, hàng hóa

- Các chứng từ thanh tốn tiền mua vật tư, hàng hóa

- Biên bản kiêm nhận vật tư, hàng hóa

- Phiếu nhập kho

- Biên bản kiểm kê hàng tồn kho

- Hóa đơn giá trị gia tăng khi bán hàng hóa

- Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ

Tài khoản sử dụng

- Tài khoản “ Hàng mua đang đi đường”: Tài khoản này dùng để phản

ánh giá trị của các loại hàng hóa, vật tư mua vào đã xác định là hàng mua

nhưng chưa về nhập kho hoặc đã về đến doanh nghiệp nhưng đang chờ kiểm

nhận nhập kho

 Bên Nợ: Phản ánh giá trị hàng hóa, vật tư đang đi đường

 Bên Có: Phản ánh giá trị hàng hóa, vật tư đang đi đường đã về nhập

kho hoặc đã chuyển bán thẳng cho khách hàng.

 Số dư Nợ: Phản ánh giá trị hàng hóa, vật tư đã mua nhưng còn đang đi

đường.

- Tài khoản “ Nguyên liệu, vật liệu”: Tài khoản này dùng để phản ánh

giá trị hiện có và tình hình biến động của ngun vật liệu theo giá gốc.

 Bên Nợ: Phản ánh giá trị gốc của nguyên vật liệu nhập kho và chi phí

thu mua nguyên vật liệu phát sinh trong kỳ.

 Bên Có: Phản ánh giá trị nguyên vật liệu xuất kho bao gồm cả chi phí

thu mua nguyên vật liệu đã phân bổ.

 Số dư bên Nợ:Trị giá thực tế của nguyên vật liệu tồn kho cuối kỳ.

- Tài khoản “ Công cụ, dụng cụ”: Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá

hiện có và tình hình biến động tăng, giảm các loại công cụ, dụng cụ của doanh

nghiệp.

22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Một số lý luận cơ bản về kế toán hàng tồn kho

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×