1. Trang chủ >
  2. Kinh Doanh - Tiếp Thị >
  3. Quản trị kinh doanh >

I. Nguồn góc tên gọi và sơ lược về lịch sử “Đông Dương”

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.82 MB, 24 trang )


Tiền Bitcoin – Tiền Đông Dương



GVHD: Th.S Nguyễn Anh Tuấn



nêu trên, Pháp đã cẩn thận đặt tên cho phần đất họ chiếm được là INDOCHINE

FRANCAISE (Đông Dương thuộc Pháp) để tránh sự nhầm lẫn với toàn vùng

Đông Dương là nơi có đến sáu quốc gia gồm: Miến Điện, Thái Lan, Mã lai Á, Việt

Nam, Cam Bốt, Ai Lao. Địa danh Đông Dương thuộc Pháp (gọi tắt là Đông Pháp)

ra đời trong bối cảnh nầy.

Mãi cho đến khi Pháp rời khỏi ba nước Việt-Miên-Lào sau trận Điện biên

Phủ 1954, hai chữ Đông Pháp chính thức được bãi bỏ. Tuy nhiên hai chữ Đông

Dưong vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Nếu được nhắc đến thì chữ Đông Dương

(INDOCHINE) cùng chỉ mang một khái niệm như ban đầu, đó là một miền địa lý

gồm có sáu quốc gia mà xã hội có một phần ảnh hưởng từ hai nền văn hóa khác

nhau là Trung Hoa và Ấn Độ.

Ngày 17 -10-1887, thực dân Tây chính thức lập ra Liên Bang Đông Dương

thuộc Pháp (Union Indochine Francaise)… gồm miền Nam Việt Nam, miền Bắc

Việt nam, Cam Bốt và hai phần ba lãnh thổ Ai Lao (Trung và Hạ Lào) dù trên thực

tế Pháp chưa hoàn toàn kiểm soát hết lãnh thổ của ba nước Việt-Cam-Lào. Ngày

1-10-1888, Pháp cưỡng ép vua Đồng Khánh (còn nhỏ) và triều đình nhà Nguyễn

phải cắt ba thành phố lớn ra cho họ làm nhượng địa là: Hà Nội, Hải Phòng, Đà

Nẳng. Đến năm 1983 sau khi kiểm soát được toàn lành thổ Cam Bốt và Ai Lao

(luôn phần thượng Lào), Pháp mới hợp thức hóa Liên Bang Đông Dương thuộc

Pháp và chia ra 6 phần đất khác nhau là: Lào, Cam Bốt, Tonkin miền bắc Việt

Nam (chữ Tonkin do Tây phát âm từ chữ Đông Kinh, tên củ của Hà Nội), An Nam

miền Trung Việt Nam (trên danh nghĩa do triều đình cai trị nhưng Pháp bảo hộ),

Cochin-China miền Nam Việt Nam (chữ Cochin do Tây phát âm từ địa danh Cửa

Cổ Chiên của sông Tiền Giang). Chữ China được ghép vào vì Pháp tránh sự nhầm

lẫn với một địa danh khác ở Ấn Độ cũng có tên là Kechi mà thực dân Anh gọi là

Cochin India), sau cùng là phần đất Cao Nguyên gồm nhiều sắc dân của đồng bào

thiểu số mà Pháp biết triều đình nhà Nguyễn chưa thật sự kiểm soát hết.

Tóm lại, hai chữ Đông Pháp hoặc Liên Bang Đông Dưong đều do thực dân

Pháp đặt ra và nó không còn có giá trị nào sau năm 1954. Riêng chữ Đông Dương

nó chỉ thuộc phạm trù địa lý, do một người ở xa cả chục ngàn cây số đặt ra và nó

chỉ có giá trị với các học giả, trí thức của thực dân mà thôi. Chúng ta là người dân

của cả ba nước Việt-Cam-Lào, từng bị thực dân cướp đất và cai trị thật tàn bạo gần

một trăm năm.



3



Tiền Bitcoin – Tiền Đông Dương



GVHD: Th.S Nguyễn Anh Tuấn



4



Tiền Bitcoin – Tiền Đông Dương



II.



GVHD: Th.S Nguyễn Anh Tuấn



Hoàn cảnh đồng tiền Đông Dương du nhập vào Việt Nam



Từ thế kỷ 17 (thời Trịnh – Nguyễn Phân tranh) các thương thuyền của Châu

Âu đã đến Việt Nam. Việc buôn bán diễn ra khá tấp nập và bắt đầu xuất hiện

những đồng tiền ngoại thương đầu tiên tại Việt Nam để phục vụ cho việc trao đổi.

Một số nước lớn đã phát hiện ra nguồn tài nguyên vô cùng phong phú và có dã tâm

xâm chiếm hòng vơ vét của cải. Pháp đã làm điều đó, năm 1859 Pháp chiếm Sài

Gòn, ngân hàng Đông Dương ra đời và người Pháp dần thay thế các đồng tiền

thương mại bằng đồng xu Đông Dương tại Nam Kỳ (Cochinchine), Trung Kỳ

(Annam), Bắc Kỳ (Tonkin), Cao Miên và Ai Lao. Đồng Đông Dương (tiếng

Pháp: piastre) đơn vị tiền tệ người Pháp cho phát hành và lưu thông tại Đông

Dương thuộc Pháp trong thời gian từ năm 1885 đến năm 1954.

III.



Đơn vị đếm và tên gọi của chúng:



Tiền Đông Dương được chia thành các đơn vị piastre, cent/centime

và sapèque. Một piastre bằng 100 cent. Một cent lại bằng 2-6 sapèque tùy theo

triều đại. Theo tỷ lệ đó thì một đồng bạc Đông Dương có giá trị từ 200 đền

600 đồng tiền cổ truyền của người Việt. Mặt trước của các tờ tiền giấy hoặc tiền

kim loại ghi bằng tiếng Pháp. Mặt sau ghi bằng chữ Hán,chữ Quốc ngữ, chữ

Lào và chữ Khmer, song cũng có lúc chỉ ghi chữ Pháp.

Piastre phiên dịch sang chữ Hán thành 元 (nguyên); thông dụng gọi là đồng,

hoặc đồng bạc hay thậm chí ngắn gọn là bạc(khi tiền Đông Dương còn theo chế

độ bản vị bạc cho đến tháng 5, 1930),đến ngày 31/5/1930,một sắc lệnh của toàn

quyền Đông Dương quy định,mỗi đồng bạc Đông Dương có mệnh giá tương

đương 655mg vàng,lúc này đồng Đông Dương được chuyển sang chế độ bản vị

vàng. Do đó, đồng Đông Dương theo chế độ song bản vị. Cent tức sou khi phiên

âm sang chữ quốc ngữ thành xu. Người Việt Nam còn có thói quen gọi các tiền

mệnh giá hàng chục xu trở lên là cắc (gọi chệch từ âm giác của chữ Hán 角). Về

sau, người Pháp viết chính thức bằng chữ quốc ngữ là hào và bằng chữ Hán là 毛

(mao). Sapèque tục gọi là đồng kẽm hay đồng điếu là đơn vị có giá trị nhỏ nhất.



5



Tiền Bitcoin – Tiền Đông Dương



IV.



GVHD: Th.S Nguyễn Anh Tuấn



Lịch sử:

1. Tiền kim loại



Tiền kim loại: Đồng bạc Đông Dương được

phát hành để ổn định tình hình tiền tệ tại các xứ

thuộc địa của Pháp. Ban đầu đồng Đông Dương

mang giá trị tương đương với đồng peso Mexico,

thường gọi là đồng hoa xòe, đồng con cò hay đồng

con ó khi đó đang được lưu hành rộng rãi trong khu

vực. Đồng con cò trị giá 600 đồng tiền kẽm (tức

đồng điếu), bằng giá với một quan tiền cổ truyền.

Để có đơn vị nhỏ hơn để tiêu dùng, chỉ vài năm

sau khi chiếm được Nam Kỳ, người Pháp giao cho



(Đồng hoa xòe peso Mexico

đúc năm 1838)



Ngân hàng Đông Dương nhiệm vụ đúc ra đồng

centime, tức đồng 1 xu vào năm 1875, trị giá 5 đồng kẽm. Đồng centime hình tròn

nhưng đục thêm một lỗ bầu dục ở giữa tương tự như loại tiền cũ của người Việt vì

dân bản xứ quen lối xỏ dây xách đi thành một xâu.Năm 1879 thì thay thế đồng

centime cũ bằng đồng cent mới, kích thước lớn hơn nhưng giữ tỷ lệ giá trị 5 đồng

kẽm. Dân Việt gọi đồng cent đó là đồng xu lá bài hay đồng chiêm (gọi trại

centime). Ngoài ra còn có những đồng 10 centimes, 20 centimes (tục gọi là đồng

góc tư), 50 centimes (tục gọi là đồng ru-bi) và giá trị lớn nhất là 1piastre tức

$1.Thay vì đục lỗ ở giữa, những đồng tiền này xóa hẳn biểu tượng của cựu triều và

thay thế bằng dòng chữ République française vàCochinchine française. Mặt kia có

hình biểu tượng nước Pháp: Marianne. Người Việt quen dần gọi đồng bạc 1 piastre

đầu tiên đó của Ngân hàng Đông Dương là bạc hoa xòe giống như đồng peso

Mexico cũ vì phía sau Marianne có vầng hào quang tia sáng tỏa ra như cánh hoa.

Đồng piastre với trọng lượng 27,125 gram này được lưu hành với mục đích dần

loại bỏ tiền đồng con cò.



6



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (24 trang)

×