1. Trang chủ >
  2. Kinh Doanh - Tiếp Thị >
  3. Quản trị kinh doanh >

Tiền giấy đầu tiên:

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.82 MB, 24 trang )


Tiền Bitcoin – Tiền Đông Dương



GVHD: Th.S Nguyễn Anh Tuấn



3. Giá trị:



Đồng bạc Đông Dương giữ bản vị bạc nhưng vì giá bạc

giao động nên năm 1895 đồng $1 được đúc lại với trọng

lượng giảm từ 27,215 gr xuống còn 27 gr chẵn.Năm 1920 giá

trị của đồng bạc Đông Dương dựa vào đồng

Franc Pháp. Bản vị bạc lại được phục hồi vào năm 1921 và

giữ đến tháng 5

năm 1930 thì trở lại ràng buộc vào đồng Franc Pháp theo tỷ

giá 1 đồng

Đông Dương = 10 franc. Từ tháng 5 năm 1930 đến năm 1939,

nó theo bản vị

vàng. Trong thời kì Nhật chiếm đóng trong

(Mặt trước của đồng 5 piastre)

Chiến tranh thế giới lần thứ 2, tỷ giá với

đồng yen Nhật là 0,976 đồng = 1 yen. Sau

chiến tranh, tỷ giá với đồng franc Pháp lại được khôi phục. Tuy nhiên, tháng 12

năm 1945, để tránh sự mất giá của đồng franc, tỷ giá hối đoái đã bị thay đổi thành

1 đồng = 17 franc.

Năm 1946, tiền Việt Nam dân chủ cộng hòa được phát hành và được sử dụng

ở vùng do Việt Minh kiểm soát song song với đồng bạc Đông Dương. Trong khi

đó Viện Phát hành Việt, Miên, Lào (Institut d'Emission des Etats du Cambodge,

du Laos et du Viet-Nam) thành lập năm 1951 bắt đầu cho lưu hành loại tiền tệ mới

trong thời kỳ chuyển tiếp từ Liên bang Đông Dương sang ba nước riêng với

đồng kip của Lào (1952), riel của Campuchia (1953), và đồng Quốc gia Việt

Nam (1953) lần lượt phát hành và sử dụng song song với đồng bạc cũ. Tiền giấy

thì có hai dạng: một kiểu chung cho cả ba nước Việt, Miên, Lào; kiểu kia là riêng

cho mỗi nước. Tiền kim loại thì ngay từ khởi đầu đã đúc riêng cho mỗi xứ. Tỷ giá

1 đồng = 10 franc được khôi phục vào năm 1953. Tờ tiền giấy ghi 2 mệnh giá tiếp

tục lưu hành cho đến năm 1955 tạiViệt Nam Cộng hòa và Campuchia, và mãi đến

năm 1957 tại Lào.



8



Tiền Bitcoin – Tiền Đông Dương



GVHD: Th.S Nguyễn Anh Tuấn



4. Tiền giấy:



Theo nghị định ngày 21 Tháng

Giêng, 1875 thì Ngân hàng Đông

Dương cho lưu hành những tờ giấy

bạc đầu tiên với ba mệnh giá: $5, $20,

và $100. Loại này mặt trước ghi bằng

hai thứ tiếng Pháp và Anh. Mặt sau

ghi chữ Nho: Đông phương hối lý



(Đồng bạc Đông Dương tờ $100 ghi



ngân hàng (東方滙理銀行).



chữ Nho: Đông phương hối lý ngân



Kỳ thứ nhì năm 1893-6 thêm tờ

$1; kỳ thứ ba 1903-7 thì bỏ phần tiếng

Anh nhưng ghi thêm xuất xứ: Cao



hàng tức Ngân hàng Đông Dương)



Miên (高綿), Lục Tỉnh (六省) cho khu vực miền nam và Đông Kinh (東京), An

Nam ( 安 南 ) cho khu vực miền bắc vì lúc đó đã hình thành Liên bang Đông

Dương. Tổng cộng có nhiều thay đổi ít nhiều về hình thức, màu sắc. Tờ $20 được

người Việt gọi là tờ "hoảnh", đọc trại âm "vingt" của Pháp.

Bắt đầu từ năm 1919 thì in thêm những tờ với mệnh giá: 10 cents, 20 cents,

50 cents. Sau cuộc Đại khủng hoảng kinh tế, đồng tiền mất giá nên đợt phát hành

1936-9, Nhà nước phải cho phát hành tờ $500. Năm 1940 với biến động chính trị ở

chính quốc, Đệ tam Cộng hòa Pháp sụp đổ, bị thay thế bới chính phủ Vichy chủ

trương hợp tác với Nhật Bản thì bên Đông Dương cho phát một loạt tiền giấy mới.

Loại tiền này in thêm dòng chữ Phủ Toàn quyền Đông Dương (Gouvernement

General de l'Indochine) thay vì Banque de l'Indochine như những tờ giấy bạc trước

kia. Những tờ 10 cents, 20 cents, và 50 cents rồi tiếp theo là tờ 5 cents xuất hiện từ

năm 1942 đến 1944. Tuy nhiên cũng trong khoảng thời gian đó thì những tờ giấy

bạc mệnh giá $1 đến $500 vẫn giữ dòng chữ Banque de l'Indochine.

Sau Đệ nhị Thế chiến người Pháp tái chiếm Đông Dương. Tình hình xáo trộn

nên mãi đến năm 1947 mới phát hành những mẫu tiền mới, trong đó xuất hiện tờ

$50 lần đầu tiên.

Năm 1952, Institut d'Emission des Etats du Cambodge, du Laos et du

Vietnam (Viện Phát hành Quốc gia Việt, Miên, Lào) đảm nhận việc phát hành

mẫu tiền giấy riêng cho mỗi nước nhưng có giá trị khắp ba nước. Chân dung Quốc

trưởng Bảo Đại, quốc vương Sihanouk, và quốc vương Sisavang Vong xuất hiện

trên tờ $1. Danh xưng piastre được dùng song hành với những tên bản xứ: riel cho

Campuchia, kip của Lào, và đồng của Quốc gia Việt Nam. Tại Campuchia, các tờ

9



Tiền Bitcoin – Tiền Đông Dương



GVHD: Th.S Nguyễn Anh Tuấn



bạc có mệnh giá 1, 5, 10, 100, và 200 đồng/riel được phát hành. Tại Lào là các tờ

bạc 1, 5, 10 và 100 đồng/kip.Còn ở Nam Việt Nam là các tờ bạc 1, 5, 10, 100 và

200 đồng/đồng Việt Nam. Loại tiền này đến năm 1954 thì bị thu hồi, nhường chỗ

cho tiền tệ của bốn quốc gia độc lập trên bán đảo Đông Dương.



Một số đồng Đông Dương qua các thời kì



V.



1. Đồng tiền thuộc địa xứ Nam Kỳ (COCHINCHINE)



Năm 1875, Pháp mang đồng 1 centieme từ “mẫu quốc” sang sở đúc tiền Ba

Son để đục lỗ gọi là đồng sapèque, với hy vọng thay thế đồng xu kẽm ở xứ ta.

Nhưng vì hối suất không rõ ràng và không lợi nên không được dân ta ưa dùng.

Năm 1879, Pháp đúc một loại tiền mới tiêu dùng tại Nam Kỳ, trên mặt của

đồng tiền có dòng chữ Cochinchine Francaise, gồm có:

Đồng 10 cents, 20 cents, 50 cents bằng bạc có hình tượng nữ thần tự do

ngồi – biểu tượng cho nền cộng hòa của Pháp.

• Đồng 1 centieme bằng đồng đỏ (Bronze) có hình chữ nhật ở giữa, bên trong

hình chữ nhật có dòng chữ viết bằng tiếng Hán: “Bách phân chi nhất”. Dân

gian vẫn gọi là đồng “lá bài”.

• Đồng sapèque được đúc lại theo mẫu mới, kích thước to hơn đồng 1

centieme đục lỗ vuông, trên mặt tiền có dòng chữ Hán “Đại Pháp quốc chi

An Nam” . Đồng này có giá trị bằng 1/5cent

• Năm 1885, lần đầu tiên Pháp cho đúc đồng 1 piastre với độ bạc ròng

0.9000, trọng lượng 27.2156 Gram, với kiểu mẫu tượng nữ thần tự do ngồi

(1piastre = 100 cent).





2. Đồng tiền bảo hộ xứ Bắc Kỳ(TONKIN)



Nhằm thay thế những đồng tiền kẽm, năm 1905 Pháp đúc một mẫu sapèque

khác ở xứ bảo hộ Bắc Kỳ, trên một mặt xu đúc dòng chữ PROTECTORAT DU

TONKIN và mặt còn lại ghi chữ Hán LỤC BÁCH PHÂN NHẤT CHI THÔNG

BẢO. Đồng xu này có giá trị bằng 1/600 của 1 piastre. Tuy nhiên cũng như ở Nam

Kỳ đồng xu này cũng không được hưởng

3. Tiền xu Đông Dương(INDOCHINE)



Cuối năm 1885, trên tất cả các đồng xu đều thay dòng chữ Cochinchine bằng

Indochine để sử dụng trên toàn Đông Dương (Tonkin, Annam, Cochinchine, Cao

Miên, Ai Lao). Từ sau năm 1903, đồng sapèque không được đúc nữa. Từ sau thế

chiến thứ nhất, đồng tiền Đông Dương ngày càng mất giá, độ bạc và trọng lượng

của các đồng xu được giảm dần. Đồng bạc đầu tiên có độ bạc ròng là 0.9000 sau

10



Tiền Bitcoin – Tiền Đông Dương



GVHD: Th.S Nguyễn Anh Tuấn



đó giảm xuống 0.8350 và 0.6800 (cá biệt năm 1920, đồng 20 cents chỉ có độ bạc là

0.4000). Một số kiểu mẫu mới được đúc thay thế:





Năm 1896, đồng 1 cent bằng đồng đỏ, hình biểu tượng Pháp với chữ “Bách

phân chi nhất”, đục lỗ tròn.







Năm

1923

(đến

1938), đồng 5 cents

bằng kền – đồng



(Nikel – Ae), hình biểu tượng Phấp đội cành ô liu, đục lỗ tròn.







Năm 1931, đồng 1 piastre (độ bạc 0.9000) với biểu tượng Pháp đội cành ô

liu, kiểu mẫu này chỉ được đúc vào năm 1931.



11



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (24 trang)

×