1. Trang chủ >
  2. Kinh Doanh - Tiếp Thị >
  3. Quản trị kinh doanh >

Thời kỳ sau cách mạng tháng 8:

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.82 MB, 24 trang )


Tiền Bitcoin – Tiền Đông Dương



Tờ giấy bạc tài chính 100 đồng với chữ

Hán ngay bên dưới ảnh Bác Hồ.



GVHD: Th.S Nguyễn Anh Tuấn



Tờ giấy bạc tài chính 5 đồng.



Ngày 5/6/1951, Ngân hàng Quốc gia Việt nam thành lập và phát hành giấy bạc

ngân hàng. 1 đồng ngân hàng đổi lấy 10 đồng tài chính. Giấy bạc ngân hàng có các

loại mệnh giá: 1, 10, 20, 50, 100, 200, 500, 1.000 và 5.000 đồng. Một mặt in chữ

“Việt nam Dân chủ Cộng hoà” và hình Hồ Chí Minh, một mặt in hình Công –

Nông – Binh và bộ đội ở chiến trường. Trên giấy bạc có số hiệu, mệnh giá ghi

bằng số Ả Rập, chữ quốc ngữ và chữ Hán.



Tờ giấy bạc ngân hàng 20 đồng có màu tím khá đẹp.



Tờ giấy bạc ngân hàng 100 đồng.



Và tờ 5.000 đồng, tờ giấy bạc có giá trị nhất lúc bấy giờ.



18



Tiền Bitcoin – Tiền Đông Dương



GVHD: Th.S Nguyễn Anh Tuấn



Sau đó, do có nhiều khó khăn trong liên lạc, Trung Bộ và Nam Bộ được phát hành

tiền riêng. Tiền này có mệnh giá 1, 5, 20, 50 và 100 đồng. Hình ảnh trang trí tương

tự nhưng có thêm chữ kí của Chủ tịch Uỷ Ban kháng chiến Nam Bộ, đại diện Bộ

trưởng Tài chính và Giám đốc Ngân khố Nam Bộ.

Từ 1954 – 1975, sau khi Pháp rời khỏi Việt Nam, miền Bắc và miền Nam có 2 chế

độ khác nhau, mỗi chế độ in tiền riêng, đều gọi là đồng. Ở miền Nam, từ 1953, lưu

hành Đồng (tiền Việt Nam Cộng hoà). Năm 1953, tiền kim loại 10, 20, 50 xu được

đưa vào lưu thông. 1960, có thêm tiền kim loại 1 đồng, và 10 đồng năm 1964, 5

đồng năm 1966 và 20 đồng năm 1968. 50 đồng đúc năm 1975 nhưng chưa kịp lưu

hành thì Việt Nam Cộng hoà sụp đổ. Vì thế rất hiếm đồng xu này còn tồn tại.



Tờ 1.000 đồng.



Tờ 500 đồng.



Tờ 200 đồng. Dòng chữ “Hình phạt khổ- sai những kẻ nào giả mạo giấy bạc do

ngân-hàng quốc gia Việt-Nam phát ra” nhằm răn đe những kẻ làm tiền giả đã bắt

đầu nhen nhóm trong thời kì này.

Sau 30/4/1975, tiền miền Nam phải đổi thành tiền giải phóng. Từ Quảng Nam –

Đà Nẵng trở vào, 500 đồng miền Nam đổi lấy1 đồng giải phóng. Từ Huế trở ra,

1000 đồng miền Nam đổi 3 đồng giải phóng.

Tờ 2 đồng.



Tờ 10 xu.

Tờ 10 đồng.



19



Vào năm 1978, sau khi đất nước thống nhất về mặt hành chính, đã có một cuộc đổi tiền

nữa. Ở miền bắc 1 đồng giải phóng đổi 1 đồng thống nhất, ở miền Nam 1 đồng giải

phóng đổi 8 hào thống nhất. Có phát hành thêm các loại tiền 5 hào, 1 đồng, 5 đồng, 10

đồng, 20 đồng, 30 đồng, 50 đồng, 100 đồng.



Tờ 5 hào với ảnh cây dừa ở Bến Tre.



Tờ 1 đồng với ảnh nhà máy Gang thép Thái Nguyên.



Lần đổi tiền thứ 3 vào năm 1985, khi 10 đồng thống nhất đổi 1 đồng tiền mới. Phát hành

các loại tiền 10, 20, 50 đồng.



Mặt trước của tờ 50 đồng.



Tờ 10 đồng với hình ảnh cầu Thê Húc và đền Ngọc Sơn.

Cho đến nay

Tiền giấy cotton 10.000 và 20.000 đồng in vào năm 1990, loại 50.000 đồng được phát

hành từ 15/10/1994, 100.000 đồng cotton phát hành ngày 1/9/2000.



Tờ 100.000.



Tờ 50.000.



Và tờ 10.000 đỏ chói!

Trong những năm gần đây, Việt Nam cho in tiền kim loại mệnh giá nhỏ (nhưngđã

ngừng lưu hành vì tính bất tiện),kết hợp với việc in tiền giấy làm từ polymer thay

cho giấy cotton. Tiền polymer có nhiều ưu điểm hơn tiền cotton, như khó làm giả,

độ bền cao hơn 3 – 4 lần, khó rách… Loại tiền này không thấm nước, phù hợp khí

hậu của Việt Nam mà vẫn thích ứng với các máy xử lí tiền như máy ATM, máy

đếm tiền… Chi phí tính toán để in tiền polymer cao gấp đôi tiền cotton.



Tờ 20.000.



Tờ 100.000.



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (24 trang)

×