1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY TNHH MTV MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ THANH HÓA

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.01 MB, 68 trang )


Báo cáo thực tập tốt nghiệp

GVHD: TH.S. Lê Đức Thiện



- Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

- Bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ

- Bảng thuyết minh báo cáo tài chính



Mẫu số B 02-DN

Mẫu số B 03-DN

Mẫu số B 09-DN



2.1.1.2.Ý nghĩa của việc phân tích báo cáo tài chính

Cung cấp đầy đủ, kịp thời và trung thực các thông tin về tài chính cho chủ

sở hữu, người cho vay, nhà đầu tư, ban lănh đạo công ty. Để họ có những quyết

định đúng đắn trong tương lai để đạt được hiệu quả cao nhất về tìnhhình thực tế

của doanh nghiệp.

Đánh giá đúng thực trạng của công ty trong kỳ báo cáo về vốn, tài sản,

mật độ, hiệu quả của việc sử dụng vốn và tài sản hiện có tìm ra sự tồn tại và

nguyên nhân của sự tồn tại đó để có biện pháp phù hợp trong kỳ dự đoán.Để có

những chính sách điều chỉnh thích hợp nhằm đạt dược mục tiêu mà công ty đă

đặt ra

Cung cấp thông tin về tìnhhình huy động vốn, chính sách vay nợ, mật độ

sử dụng đòn bẩy kinh doanh, đòn bẩy tài chính với mục đích làm gia tăng lợi

nuận trong tương lai. Kết quả phân tích tài chính phục vụ cho những mục đích

khác nhau, của nhiều đối tượng sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính.

2.1.1.3.Mục đích của việc phân tích báo cáo tài chính

Đối với chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp: mối quan

tâm hàng đầu của họ là tìm kiếm lợi nhuận và khả năng trả nợ để đảm bảo sự tồn

tại và phát triển doanh nghiệp. Ngoài ra, các nhà quản trị doanh nghiệp còn quan

tâm đến các mục tiêu khác như tạo công ăn việc làm nâng cao chất lượng sản

phẩm, đóng góp phúc lợi xă hội, bảo vệ môi trường v.v... Điều đó chỉ thực hiện

được khi kinh doanh có lãi và thanh toán được nợ nần.

Đối với các chủ ngân hàng, những người cho vay, mối quan tâm của họ

chủ yếu hướng vào khả năng trả nợ của doanh nghiệp. VÌ vậy, quan tâm đến báo

cáo tài chính của doanh nghiệp họ đặc biệt chú ư đến số lượng tiền tạo ra và các

tài sản có thể chuyển đối nhanh thành tiền. Ngoài ra, họ còn quan tâm đến số

lượng vốn của chủ sở hữu để đảm bảo chắc chắn rằng các khoản vay có thể và

sẽ được thanh toán khi đến hạng.

Đối với các nhà đầu tư, sự quan tâm của họ hướng vào các yếu tố như rủi

SV Thực hiện: Nguyễn Thị Phương – MSSV: 10014843



Trang 12



Báo cáo thực tập tốt nghiệp

GVHD: TH.S. Lê Đức Thiện



ro, thời gian hoàn vốn, mức tăng trưởng, khả năng thanh toán vốn v.v... Vì vậy

họ đều đến báo cáo tài chính là để tìm hiểu những thông tin về điều kiện tài

chính, tìnhhình hoạt động, kết quả kinh doanh, khả năng sinh lời hiện tại và

tương lai…

Đối với nhà cung cấp họ phải quyết định xem có cho phép doanh nghiệp

sắp tới có được mua hàng chịu hay không. VÌ vậy họ phải biết được khả năng

thanh toán của doanh nghiệp hiện tại và thời gian sắp tới.

Đối với các cơ quan quản lý chức năng của nhà nước, các cổ đông, người

lao động v.v... mối quan tâm cũng giống như các đối tượng kể trên ở góc độ này

hay góc độ khác.

Mối quan tâm của các đối tượng cũng như các quyết định của từng đối

tượng chỉ phù hợp và được đáp ứng khi tiến hành phân tích báo cáo tài chính.

2.1.2. Nhiệm vụ, mục tiêu của phân tích báo cáo tài chính

2.1.2.1.Nhiệm vụ của phân tích báo cáo tài chính

Phân tích báo cáo tài chính không chỉ là trách nhiệm nghĩa vụ đối với các

nhà quản trị, nhà đầu tư, cơ quan nhà nước mà còn là mang một nhiệm vụ quan

trọng đối với chính phủ nước nhà.Trong xu thế cạnh tranh ngày nay đòi hỏi các

doanh nghiệp, các nhà quản trị, các nhà lănh đạo cần phải quan tâm nhiều hơn

tới cộng đồng xă hội nó còn là một sự thể hiện quan tâm tới cộng đồng xă hội,

thể hiện sự minh bạch công khai trong kinh doanh tạo ra một thị trường kinh

doanh lành mạnh công bằng.

2.1.2.2.Mục tiêu của phân tích báo cáo tài chính

Thứ nhất, mục tiêu ban đầu của việc phân tích báo cáo tài chính là nhằm

để "hiểu được các con số" hoặc để "nắm chắc các con số", tức là sử dụng các

công cụ phân tích tài chính như là một phương tiện hỗ trợ để hiểu rõ các số liệu

tài chính trong báo cáo. Như vậy, người ta có thể đưa ra nhiều biện pháp phân

tích khác nhau nhằm để miêu tả những quan hệ có nhiều ý nghĩa và chắt lọc

thông tin từ các dữ liệu ban đầu.

Thứ hai, do sự định hướng của công tác phân tích tài chính nhằm vào việc ra

quyết định, một mục tiêu quan trọng khác là nhằm đưa ra một cơ sở hợp lý cho việc

SV Thực hiện: Nguyễn Thị Phương – MSSV: 10014843



Trang 13



Báo cáo thực tập tốt nghiệp

GVHD: TH.S. Lê Đức Thiện



dự đoán tương lai. Trên thực tế, tất cả các công việc ra quyết định, phân tích tài

chính hay tất cả những việc tương tự đều nhằm hướng vào tương lai. Do đó, người

ta sử dụng các công cụ và kĩ thuật phân tích báo cáo tài chính nhằm cố gắng đưa ra

đánh giá có căn cứ về tìnhhình tài chính tương lai của công ty, dựa trên phân tích

tìnhhình tài chính trong quá khứ và hiện tại, và đưa ra ước tính tốt nhất về khả năng

của những sự cố kinh tế trong tương lai.

2.1.3. Tài liệu và phương pháp phân tích báo cáo tài chính.

2.1.3.1.Tài liệu phân tích

Tài liệu được sử dụng phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp là:

- Bảng cân đối kế toán

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

- Thuyết minh báo cáo tài chính

+ Bảng cân đối kế toán:

Bảng cân đối kế toán (BCĐKT) là một phương pháp kế toán, là một báo

cáo tài chính chủ yếu phản ánh tổng quát toàn bộ tài sản và nguồn hình thành

nên tài sản hiện có của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định.

+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (BCKQHĐKD) là báo cáo tài

chính phản ánh tổng quát tìnhhình và kết quả kinh doanh cũng như tìnhhình thực

hiện trách nhiệm, nghĩa vụ như doanh nghiệp đối với nhà nước về các khoản

thuế, phí, lệ phí v.v... trong một kỳ báo cáo.

+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ:

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT) là báo cáo tài chính phản ánh việc

hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp.

Thông tin phản ánh trong bảng cung cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin có

cơ sở để đánh giá khả năng tạo ra tiền và việc sử dụng những khoản tiền đă tạo

ra trong các hoạt động của doanh nghiệp.

+ Thuyết minh báo cáo tài chính:

Thuyết minh báo cáo tài chính (TMBCTC) là một báo cáo tổng hợp được

sử dụng để giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh

doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các báo cáo tài

chính khác chưa trình bày rõ ràng, chi tiết và cụ thể được.

SV Thực hiện: Nguyễn Thị Phương – MSSV: 10014843



Trang 14



Báo cáo thực tập tốt nghiệp

GVHD: TH.S. Lê Đức Thiện



2.1.3.2.Phương pháp phân tích báo cáo tài chính

Đối với công ty khi áp dụng các phương pháp phân tích báo cáo tài chính

chủ yếu tập trung vào các chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính. Để thực hiện

đuợc điều này, thì việc phân tích báo cáo tài chính một cách cụ thể và rõ nét theo

những phương pháp sau:

Thiết lập các báo cáo tài chính khi phân tích theo dạng so sánh theo chiều

ngang, theo chiều dọc để có thể đánh giá một cách tổng quan về sự tăng giảm

hay tốc độ thay đổi của các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính công ty cần phân tich.

Đánh giá, so sánh các tỷ lệ tài chính khi đă phân tích, chỉ ra sự bién động

của các tỷ số theo thời gian, so sánh sự thay đổi giữa các kỳ khác nhau như thế

nào, tốc độ biến động cao hay thấp.

Thiết lập các dăy số theo thời gian tuỳ theo quy mô phân tích, kế quả

phân tích có thể minh hoạ trên đồ thị để đưa ra được các dự báo cần thiết giúp

cho việc đưa ra các quyết định quản trị.

Thiết lập các mối quan hệ dự báo về các chỉ số tài chính, chỉ ra mối liên

quan giữa chỉ tiêu trên báo cáo tài chính và các báo cáo tài chính dự toán để có

quyết định phù hợp nhằm đạt được mục đích kinh doanh của công ty.

Tóm lại, phương pháp báo cáo tài chính sẽ giúp cho các nhà quản trị đưa

ra các quyết định phù hợp hơn trong tiến trình quản lý của mình và cũng hoàn

toàn tương tự với việc quản trị các công ty.

Các chỉ tiêu dùng trong phân tích báo cáo tài chính:

-Phân tích tìnhhình tài sản và nguồn vốn:

- Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

- Phân tích các chỉ số tài chính

2.1.4. Phân tích khái quát báo cáo tài chính

2.1.4.1. Phân tích khái quát bảng cân đối kế toán

Phân tích bảng cân đối kế toán là phân tích sự biến động của tài sản và

nguồn vốn. Bên cạnh đó phân tích các nhân tố tác động đến ảnh hưởng tài sản

và nguồn vốn. Từ đó đưa ra những biện pháp để cân đối tài sản và nguồn vốn,

đảm bảo kinh doanh hiệu quả.

2.1.4.2. Phân tích khái quát báo cáo kết quả hoạt hoạt động kinh doanh

Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là phân tích các nhân tố

SV Thực hiện: Nguyễn Thị Phương – MSSV: 10014843



Trang 15



Báo cáo thực tập tốt nghiệp

GVHD: TH.S. Lê Đức Thiện



như: doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vu, giá vốn hàng bán, doanh thu

thuần về bán hàng và cungc ấp dịch vu, doanh thu hoạt động tài chính, lợi nhuận

gộp, lợi nhuận thuần, lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế qua các năm.

Từ đó đưa ra những nhận xét chung đồng thời tìm ra phương pháp hoạt động

hiệu quả.

2.1.4.3. Phân tích báo cáo tài chính thông qua các tỷ số

PHÂN TÍCH KHẢ NĂNG THANH TOÁN



Phân tích các khoản phải thu

Khái Niệm: Phân tích khoản phải thu của công ty là một quá trình so

sánh các khoản mục đầu năm và các khoản mục cuối năm, tư đó đánh giá

tìnhhình tài chính của công ty.

Công thức:

Tỷ lệ giữa các khoản



=



Các khoản phải thu

Tổng nguồn vốn



phải thu và nguồn vốn

Phân tích các khoản phải trả

Khái Niệm: Phân tích các Khoản phải trả là quá trình so sánh các khoản

nợ phải trả với Tổng nguồn vốn của công ty, so sánh các khoản đầu năm và cuối

năm, để thấy được mức độ ảnh hưởng đến tìnhhình tài chính của công ty.

Công thức:

Tỷ số nợ



=



Tổng nợ phải trả

Tổng nguồn vốn



Phân tích khả năng thanh toán bằng tiền

Khái Niệm: Tỷ số thanh toán bằng tiền của công ty là tỷ số đo lường số

tiền mặt hiên tại của công ty có đủ để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn phải trả

của công ty. Số tiền này còn cho thấy lượnglưu trữ tiền mặt của công ty tới đâu.

Công thức:

Tỷ số thanh toán nhanh

bằng tiền mặt



=



Tiền + các khoản tương đương tiền

Nợ phải trả ngắn hạn



Phân tích khả năng thanh toán hiện thời

Khái Niệm: Phân tích khả năng thanh toán là xem xét tài sản của công ty có đủ

trang trải cho các khoản nợ ngắn hạn.

Công thức:

Khả năng thanh toán



=



SV Thực hiện: Nguyễn Thị Phương – MSSV: 10014843



Tài sản lưu động

Trang 16



Báo cáo thực tập tốt nghiệp

GVHD: TH.S. Lê Đức Thiện



hiện thời



Nợ ngắn hạn



Phân tích khả năng thanh toán nhanh

Khái niệm: Khả năng thanh toán nhanh cho thấy khả năng thanh toán

thực sự của công ty trước những khoản nợ ngắn hạn.

Công thức:

Tỷ số khả năng thanh

toán nhanh



Tiền + khoản phải thu

Nợ ngắn hạn



PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG

Vòng quay hàng tồn kho

Khái niệm:Vòng quay hàng tồn kho phản ánh mỗi quan hệ giữa hàng tồn

kho và giá vốn hàng bán.trong một năm.và qua đây cũng biết được số ngày

hàng tồn kho.

Công thức:

Vòng quay hàng tồn

kho



=



Giá vốn hàng bán

Hàng tồn kho trung

bình



Trong đó: Hàng tồn kho trung bình= (hàng tồn kho trong báo cáo năm

trước+ hàng tồn kho năm nay)/2

Vòng quay các khoản phải thu

Khái Niệm:Vòng quay khoản phải thu dùng để do lường tính thanh

khoản ngắn hạn cũng như hiệu quả hoạt động của công ty.

Công thức:

Vòng quay các

khoản phải thu



=



Doanh số thuần hàng năm

Các khoản phải thu trung bình



Trong đó: Các khoản phải thu trung bình= (các khoản phải thu còn lại

trong báo cáo của năm trước và các khoản phải thu năm nay)/2

Kỳ thu tiền bình quân DSO ( Day Sale of Outtanding) là số ngày của một

vòng quay khoản phải thu.

Công thức:

Kỳ thu tiền bình



=



360

vòng quay các khoản phải



SV Thực hiện: Nguyễn Thị Phương – MSSV: 10014843



Trang 17



Báo cáo thực tập tốt nghiệp

GVHD: TH.S. Lê Đức Thiện



thu

quân

Vòng quay tài sản cố định

Khái Niệm:Vòng quay tài sản cố định đo lường mức vốn cần thiết phải

đầu tư vào tài sản cố định để có được một đồng doanh thu

Công thức:

Vòng quay tài

sản cố định



Doanh thu thuần



=



Bình quân giá trị tài sản cố định



Trong đó: Bình quân giá trị tài sản cố định = ( tài sản cố định năm trước +

tài sản cố định năm nay)/2

Vòng quay tổng tài sản

Khái Niêm:Vòng quay tổng tài sản là nhằm đánh giá chung giữa tài sản

ngắn hạn vàn tài sản dài hạn.

Công Thức:

Doanh thu thuần

Bình quân giá trị tổng tài sản

Trong đó: Bình quân giá trị tổng tài sản = ( tổng tài sản năm trước + tổng



Vòng quay tổng tài

sản



=



tài sản năm nay)/2

Vòng quay vốn chủ sở hữu là chỉ tiêu hữu ích để phân tích khía cạnh tài

chính của doanh nghiệp, phản ánh hiệu qảu sử dụng vốn chủ sở hữu để tạo ra

doanh thu.

Công thức:

Vòng quay vốn

chủ sở hữu



=



Doanh thu thuần

Vốn chủ sở hữu



T

PHÂN TÍCH TT NH HNH SỬ DỤNG ĐÒN BẨY TÀI CHÍNH

Tỷ số nợ trên tổng tài sản

Khái Niệm: Tỷ số nợ trên tổng tài sản là nhằm đo lường mức độ sử dụng

nợ của công ty để tài trợ cho tổng tài sản.

Công thức:

Tỷ số nợ trên

tổng tài sản



=



Tổng nợ

Tổng tài sản



Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu

Khái Niệm: Tỷ số nợ so với vốn chủ sở hữu đo lường mức độ sử dụng

SV Thực hiện: Nguyễn Thị Phương – MSSV: 10014843



Trang 18



Báo cáo thực tập tốt nghiệp

GVHD: TH.S. Lê Đức Thiện



vốn chủ sở hữu.

Công Thức:

Tỷ số nợ so với

vốn chủ sở hữu



=



Tổng nợ

Vốn chủ sở hữu



Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu

Khái Niệm: Tỷ số này phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận và doanh thu

nhằm cho biết đồng doanh thu tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận để đạt được

chiến lược kinh doanh của mình.

Công Thức:

Tỷ số lợi nhuận

trên doanh thu



=



Lợi nhuận ròng

Doanh thu



Lợi nhuận trước thuế và lãi vay so với tổng tài sản

Khái Niệm: Tỷ số lợi nhuận trước thuế và lãi vay so với tổng tài sản của

công ty hay còn gọi là tỷ suất sinh lợi căn bản là nhằm đánh giá khả năng sinh

lợi căn bản của công ty.

Công Thức:

Tỷ số lợi nhuận trước

thuế và lãi vay



=



Lợi nhuận trước thuế và lãi

so với tổng tài sản



Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản

Khái Niệm: Tỷ số lợi nhuận ròng trên tổng tài sản dùng để đo lường khả

năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của công ty.

Công thức:

Tỷ số lợi nhuận ròng

trên tổng tài sản



=



Lợi nhuận ròng

Tổng tài sản



2.2. PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÔNG TY TNHH MTV MÔI

TRƯỜNG VÀ CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ THANH HÓA

2.2.1. Phân tích tình hình tài sản và nguồn vốn của công ty

2.2.1.1.Đánh giá về mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn

Đối với một doanh nghiệp khi lên bảng báo cáo tài chính phải đảm bảo

nguyên tắc chung là: Tổng tài sản= Tổng nguồn vốn.

SV Thực hiện: Nguyễn Thị Phương – MSSV: 10014843



Trang 19



Báo cáo thực tập tốt nghiệp

GVHD: TH.S. Lê Đức Thiện



Trong bảng cân đối kế toán theo tài sản thì tài sản nào có tính thanh khoản

cao, thì sẽ được báo cáo trước, hay nói cách khác là tài sản được xếp theo thứ tự

thanh khoản giảm dần. Còn về phần nguồn vốn thì nguồn vốn nào đến hạn trước

sẽ được báo cáo trước. Như khi ta nhìn trên bảng báo cân đối kế toán ta thấy

phần nguồn vốn thì phần Nợ phải trả sẽ được báo cáo trước sau đó mới tới

nguồn vốn chủ sở hữu. Nhìn vào bảng cân đối kế toán của Công ty TNHH MTV

Môi trường và Công trình đô thị Thanh Hóa ta thấy rằng:

Tổng tài sản = tổng nguồn vốn

Năm 2010

102.940.435.712



Năm 2011

123.836.606.181



Năm 2012

134.120.374.220



Biểu đồ 2.1: Tổng tài sản và tổng nguồn vốn của công ty qua 3 năm

Dựa vào đồ thị ta nhận thấy tồng tài sản và tổng nguồn vố có nhiều sự

biến động. Tổng tài sản và nguồn vốn năm 2011 tăng hơn so với năm 2010 là

208.961.704 đồng tương ứng với 16%. Qua năm 2012, tình hình tài sản và nguồn

vốn của công ty tăng lên 102.837.681 đồng, tương ứng với 8,3%. Năm 2012

công ty đă đi vào hoạt động bền vững hơn. Do đó tình hình tài sản và nguồn vốn

của công ty tăng hơn so với năm 2011. Đến năm 2012, tình hình kinh tế của

công ty tăng lên hơn so với năm 2011.

SV Thực hiện: Nguyễn Thị Phương – MSSV: 10014843



Trang 20



Báo cáo thực tập tốt nghiệp

GVHD: TH.S. Lê Đức Thiện



2.2.1.2.Phân tích các chỉ tiêu tác động đến tổng tài sản

Nhìn vào bảng cân đối kế toán phần Tổng tài sản thì gồm có 2 phần tác

động đến Tổng tài sản:



Phần 1- Tài sản ngắn hạn

Phần 2 – Tài sản dài hạn

Đây là 2 phần chính quyết định đến sự tăng giảm của Tổng tài sản.

Phân tích sự biến động của tài sản ngắn hạn

Tài sản ngắn hạn là tài sản có tính thanh khoản nhanh và được ưu tiên



trước trong bảng cân đối kế toán trong phần tài sản.

Tài sản ngắn hạn

Năm 2010

82.234.582.069



Tài sản ngắn hạn

Năm 2011

99.711.117.958



Năm 2012

97.347.952.019



Biểu đồ 2.2: Tài sản ngắn hạn qua 3 năm

Tài sản ngắn hạn của công ty năm 2011 tăng so với năm 2010 là

1.747.653.589 đồng, tương ứng 17%. Qua năm 2012 tài sản ngắn hạn đă giảm

đi 2.363.165.940 đồng, tương ứng với 2.4%. Tài sản ngắn hạn thay đổi do các

yếu tố sau:

Vốn bằng tiền.

Năm 2010

1.850.304.317



Vốn bằng tiền

Năm 2011

1.609.490.874



SV Thực hiện: Nguyễn Thị Phương – MSSV: 10014843



Năm 2012

513.232.282

Trang 21



Báo cáo thực tập tốt nghiệp

GVHD: TH.S. Lê Đức Thiện



Biểu đồ 2.3: Vốn bằng tiền qua 3 năm

Dựa vào đồ thị thì đễ dàng nhận thấy được vốn bằng tiền của công ty

giảm dần qua các năm. Đặc biệt năm 2012 vốn bằng tiền đă giảm mạnh, giảm

1.096.258.592 đồng, tương ứng 68%. Sự giảm xuống như vậy là xấu bởi vì nó sẽ

làm cho khả năng thanh toán nhanh bằng tiền của công ty giảm xuống, làm giảm

tính hiệu quả vốn. Bên cạnh đó sự giảm xuống như vậy làm cho lượng tiền mặt

và tiền gửi ngân hàng giảm. Vì thế công ty cần phải tăng lượng tiền mặt dự trữ

lên và điều tiết một cách hợp lí.



SV Thực hiện: Nguyễn Thị Phương – MSSV: 10014843



Trang 22



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (68 trang)

×