1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Kế toán >
Tải bản đầy đủ - 49 (trang)
2 Kế toán doanh thu bán hàng theo mô hình kế toán nước ngoài.

2 Kế toán doanh thu bán hàng theo mô hình kế toán nước ngoài.

Tải bản đầy đủ - 49trang

+ Bán hàng khi người mua có quyền được trả lại hàng hóa: Trong

trường hợp này FASB đã đưa ra ba phương pháp ghi nhận doanh thu gồm : ghi

nhận doanh thu khi quyền trả lại hàng hết hiệu lực, ghi nhận doanh thu tai thời điểm

giao hàng nhưng đồng thời ghi nhận doanh thu hàng bị trả lại ước tính, ghi nhận

doanh thu tại thời điểm giao hàng và sẽ ghi nhận doanh thu hàng bị trả lại khi bên

mua hàng trả lại hàng.

- Trường hợp 2 : Ghi nhận doanh thu trước khi giao hàng :

Trường hợp này áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, thực

hiện các hợp đồng dài hạn như hợp đồng xây dựng, sản xuất máy bay, tàu thủy

v.v . . .

- Trường hợp 3 : Ghi nhận doanh thu sau khi giao hàng

Trường hợp này áp dụng cho các doanh nghiệp thực hiện bán hàng trả

chậm.do việc bán hàng trả chậm chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro, và lợi nhuận thực tế

chỉ có được khi tiền được thanh toán, nên để đảm bảo tính thận trọng FASB cho

phép người bán áp dụng một trong hai phương pháp để hạch toán đó là :

+ Phương pháp thanh toán nhiều lần hoặc doanh thu chưa thực hiện.

+ Phương pháp thu hồi chi phí (giá vốn)

- Trường hợp 4 : Ghi nhận doanh thu đối với hàng gửi đại lý.

Trường hợp này doanh thu được ghi nhận khi bên nhận đại lý nộp báo cáo

bán hàng và thanh toán tiền cho doanh nghiệp.

* Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu

- Chiết khấu thương mại : Là sự giảm giá so với giá được ghi trên danh mục

giá bán hàng hóa, được dùng để tính giá trên danh đơn hay giá bán loại hàng được

hưởng chiết khấu. Chiết khấu thương mại thường được các nhà sản xuất hay các

nhà bán buôn dùng để tránh tái xuất bản danh mục giá bán hàng hóa khi giá bán

hàng hóa thay đổi. Giá được đưa ra có phần chiết khấu thương mại chỉ sử dụng để

thuận tiện cho việc đạt đến một thỏa thuận giá cả ở trên và không thể hiện trong các

ghi chép của kế toán

- Giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại : Phát sinh khi bán hàng không

đúng quy cách, phẩm chất quy định trong hợp đồng. Khách hàng có thể trả lại hàng

hoặc doanh nghiệp chấp nhận giảm giá cho khách hàng nếu khách hàng đồng ý



mua. Hàng bị trả lại hay giảm giá được phản ánh vào tài khoản “Hàng bán bị trả lại

và giảm giá”. Tài khoản này là tài khoản điều chỉnh cho tài khoản doanh thu.

- Chiết khấu thanh toán : Việc bán chiụ hàng thường kèm theo các điều

khoản về tín dụng để làm tăng khả năng thanh toán cuả khách hàng. Có hai phương

pháp ghi doanh thu được chấp nhận có liên quan đến chiết khấu thanh toán, đó là

những doanh thu gộp và doanh thu ròng.

+ Phương pháp doanh thu gộp : Theo phương pháp này, doanh thu

được ghi nhận theo giá bán.khoản chiết khấu thanh toán dành cho khách hàng trong

thời hạn được hưởng chiết khấu phản ánh vào tài khoản chiết khấu bán hàng. Tài

khoản chiết khấu bán hàng được xem là tài khoản điều chỉnh doanh thu.

+ Phương pháp doanh thu ròng : Theo phương pháp này, khi bán hàng

hoanh thu được ghi sổ theo giá bán đã trừ chiết khấu cho khách hàng. Do đó , nêu

thu tiền của khách hàng ngoài thời hạn được hưởng chiết khấu thì kế toán ghi khoản

chiết khấu đã tính trừ vào tài khoản chiết khấu bán hàng được hoàn trả lại. Tài khoản

này được xem là tài khoản điều chỉnh tăng cho doanh thu.

Nhận xét mô hình kế toán Mỹ :

Ưu điểm:

- Là hệ thống kế toán mở, việc đưa ra những thời điểm để ghi nhận doanh

thu đã đá ứng được thực tế đa dạng của các nghiệp vụ phát sinh doanh thu, nhờ đó,

các doanh nghiệp có thể chủ động trong công tác hạch toán.

- Ở mỗi thời điểm ghi nhận doanh thu, quy định của kế toán lại đưa ra nhiều

phương pháp ghi nhận và hạch toán doanh thu, việc lựa chọn phương pháp nào là

tùy thuộc vào doanh nghiệp, nhưng nhìn chung đều được dựa trên nguyên tắc đảm

bảo tính thận trọng tối đa cho doanh nghiệp.

- Thông tin trình bày trên báo cáo kết quả kinh doanh được công bố rõ ràng,

dễ trình bày, dễ đọc, và dễ sử dụng.

Nhược điẻm :

- Việc đưa ra hai phương pháp ghi nhận doanh thu sau khi bán hàng đã

không đáp ứng được yêu cầu của nguyên tắc “phù hợp” và nguyên tắc “dồn

tích” của kế toán.Đó là hai nguyên tắc cơ bản để hạch toán doanh thu.



- Khoản chiết khấu thanh toán được xử lý ghi giảm trừ doanh thu bán hàng là

không hợp lý, không đúng với bản chất của nghiệp vụ.

- Hạch toán khoản chiết khấu thanh toán theo phương pháp doanh thu ròng là

không hợp lý, vì tại thời điểm bán hàng chưa đủ bằng chứng pháp lý cần thiết để kế

toán khấu trừ luon khoản chiết khấu này trừ vào doanh thu bán hàng của doanh

nghiệp trong khi thực tế khoản chiết khấu này chưa phát sinh.

3.2.2 Kế toán doanh thu bán hàng theo mô hình của kế toán tổng quát

Pháp.

Thứ nhất: nguyên tắc ghi nhận nghiệp vụ bán hàng

- Giá bán hàng hóa được hạch toán là giá thực tế, tức là tổng số tiền ghi trên

hóa đơn trừ đi các khoản giảm giá, bớt giá, hồi khấu chấp thuận cho khách hàng.

- Giá bán không bao gồm các khoản thuế đã thu của người mua và phải nộp

cho nhà nước sau này.

Thứ hai, thời điểm ghi nhận doanh thu

Kế toán tổng quát của Pháp chỉ đề cập là thời điểm khi việc bán hàng đã thực

sự xảy ra và kế toán đã có trong tay kết quả của nghiệp vụ để ghi nhận vào sổ sách.

Thứ ba, kế toán các khoản giảm trừ doanh thu

Các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm giảm giá, hồi khấu. Kế toán các

khoản này được phân chia thành 2 trường hợp:

(1) Nếu các khoản giảm giá, bớt giá, hồi khấu được ghi trên hóa đơn bán

hàng, các khoản này được trừ vào tổng số tiền ghi trên hóa đơn. Kế toán chỉ ghi

nhận doanh thu theo giá bán thực thu.

(2) Nếu các khoản giảm trừ được chấp nhận ngoài hóa đơn, thì người

bán lập hóa đơn báo Có gửi cho khách hàng và khoản giảm trừ này được ghi

giảm doanh thu bán hàng vào cuối kỳ.

Ưu điểm :

- Hệ thống kế toán được quy định rất cụ thể, chặt chẽ nên thuận tiện cho việc

kiểm tra, kểm soát hoạt động kinh tế doanh nghiệp của Nhà nước.

- Quy định chặt chẽ, cụ thể, chi tiết từng phần hành kế toán cụ thể đã tạo được

tính thống nhất trong kế toán nghiệp vụ kinh tế phát sinh, do đó số liệu ghi chép của



kế toán được tổng hợp trên các báo cáo đảm bảo tính so sánh được giữa các thời kỳ,

giữa các doanh nghiệp với nhau.

Nhược điểm :

- Do hệ thống kế toán được quy định quá chi tiết, cụ thể và cứng nhắc nên việc

hạch toán một số nghiệp vụ kinh tế trở nên phức tạp, không cần thiết, làm hạn chế

khả năng của doanh nghiệp

- Trong khi bớt giá và hồi khấu là thể hiện sự ưu đãi cho khách hàng, thì giảm

giá là thể hiện lỗi chủ quan của doanh nghiệp do giao hàng không đúng hợp đồng,

kém phẩm chất. Đây là hai nội dung hoàn toàn khác nhau về bản chất lại được phản

ánh chung trên một tài khoản.

- Không có tài khoản riêng theo dõi hàng bán bị trả lại làm cho nhà quản lý

không biết được mức độ hài lòng của khách hàng, thiếu thông tin cho nhà quản lý.

- Một số nghiệp vụ được ghi nhận khi không có chứng từ đảm bảo cơ sở pháp

lý cho việc ghi sổ.

Tóm lại, cả hai mô hình kế toán doanh thu bán hàng của Mỹ và Pháp đều có

những ưu nhược điểm nhất định, các mô hình này đều thích hợp với cơ chế quản lý

và hệ thống luật pháp của mỗi nước.

3.3 Những nhận xét, đánh giá về kế toán doanh thu bán hàng theo chế độ kế

toán Việt Nam.

3.3.1 Ưu điểm

- Hệ thống kế toán hiện hành đảm bảo tính pháp lý và tính thống nhất ở mức

độ cao, xây dựng phù hợp với đặc điểm kinh tế, yêu cầu và trình độ quản lý của

Việt Nam hiện nay.

- Hệ thống kế toán hiện hành đã có những thay đổi căn bản về phương pháp và

kỹ thuật hạch toán trong hầu hết các phần hành kế toán chủ yếu để đáp ứng nhu cầu

của kế toán là rõ ràng, dễ hiểu, khắc phục được nhược điểm của chế độ kế toán

trước đây.

- Hệ thống kế toán được xây dựng trên cơ sở vận dụng có chọn lọc các chuẩn

mực và thông lệ kế toán quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho kế toán Việt Nam dần

hội nhập với kế toán của cộng đồng quốc tế.



3.3.2 Nhược điểm

• Những tồn tại trong nội dung chuẩn mực và việc áp dụng chuẩn mực

VAS14 vào thực tế công tác kế toán.

Bên cạnh những thành công của việc ban hành chuẩn mực VAS14, trong nội

dung của chuẩn mực này cũng như việc áp dụng chuẩn mực vào thực tiễn công tác

kế toán của doanh nghiệp còn có những tồn tại nhất định. Cụ thể là:

Thứ nhất, trong nội dung của chuẩn mực có những chỗ diễn đạt chưa nhất

quán.

-



Ở phần trình bày báo cáo tài chính, đoạn 34(d) có đề cập trình bày thu



nhập khác trong đó nêu rõ các khoản thu nhập bất thường. Trong toàn bộ định nghĩa

và nội dung của chuẩn mực đều không đề cập đến thế nào là một khoản thu nhập

bất thường.

- Ở đoạn 05 của chuẩn mực quy định “Doanh thu được xác định theo giá trị

hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được”. Đoạn 06 và 08 cùng là các đoạn giải

thích cho đoạn 05 đều đề cập Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý. Trong

khi đó, đoạn 07 lại đề cập Doanh thu được xác định theo giá trị thực tế.

Thứ hai, còn tồn tại những điểm khác biệt căn bản giữa VAS14 và IAS18

Mặc dù trong VAS14 cũng đưa ra quy định giống như IAS18 là “Doanh thu

chỉ bao gồm tổng giá trị lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được.

Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải nguồn lợi kinh tế, không làm tăng vốn chủ

sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu” [Đoạn 04-16, tr192, 193].

Nhưng thực tế trong hạch toán doanh thu của Việt Nam vẫn bao gồm khoản

thu hộ bên thứ ba. Đó là khoản thu hộ Nhà nước ở khâu bán hàng như thuế xuất

khẩu, thuế TTĐB, thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp. Điều này dẫn

đến những bất cập giữa quy định trong chuẩn mực và thực tế hạch toán doanh thu

bán hàng.

Thứ ba, hạn chế trong việc áp dụng chuẩn mực VAS14 vào thực tiễn công

tác kế toán.

Không đưa ra những quy định cụ thể về tỷ lệ lãi suất dùng để quy đổi giá trị

danh nghĩa về giá trị thực tế để ghi nhận doanh thu: Trong chuẩn mực VAS14 chỉ

quy định là tỷ lệ lãi suất hiện hành. Nhiều câu hỏi được đặt ra cho người sử dụng đó



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Kế toán doanh thu bán hàng theo mô hình kế toán nước ngoài.

Tải bản đầy đủ ngay(49 tr)

×