1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Kế toán >
Tải bản đầy đủ - 49 (trang)
3 Những nhận xét, đánh giá về kế toán doanh thu bán hàng theo chế độ kế toán Việt Nam.

3 Những nhận xét, đánh giá về kế toán doanh thu bán hàng theo chế độ kế toán Việt Nam.

Tải bản đầy đủ - 49trang

3.3.2 Nhược điểm

• Những tồn tại trong nội dung chuẩn mực và việc áp dụng chuẩn mực

VAS14 vào thực tế công tác kế toán.

Bên cạnh những thành công của việc ban hành chuẩn mực VAS14, trong nội

dung của chuẩn mực này cũng như việc áp dụng chuẩn mực vào thực tiễn công tác

kế toán của doanh nghiệp còn có những tồn tại nhất định. Cụ thể là:

Thứ nhất, trong nội dung của chuẩn mực có những chỗ diễn đạt chưa nhất

quán.

-



Ở phần trình bày báo cáo tài chính, đoạn 34(d) có đề cập trình bày thu



nhập khác trong đó nêu rõ các khoản thu nhập bất thường. Trong toàn bộ định nghĩa

và nội dung của chuẩn mực đều không đề cập đến thế nào là một khoản thu nhập

bất thường.

- Ở đoạn 05 của chuẩn mực quy định “Doanh thu được xác định theo giá trị

hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được”. Đoạn 06 và 08 cùng là các đoạn giải

thích cho đoạn 05 đều đề cập Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý. Trong

khi đó, đoạn 07 lại đề cập Doanh thu được xác định theo giá trị thực tế.

Thứ hai, còn tồn tại những điểm khác biệt căn bản giữa VAS14 và IAS18

Mặc dù trong VAS14 cũng đưa ra quy định giống như IAS18 là “Doanh thu

chỉ bao gồm tổng giá trị lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được.

Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải nguồn lợi kinh tế, không làm tăng vốn chủ

sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu” [Đoạn 04-16, tr192, 193].

Nhưng thực tế trong hạch toán doanh thu của Việt Nam vẫn bao gồm khoản

thu hộ bên thứ ba. Đó là khoản thu hộ Nhà nước ở khâu bán hàng như thuế xuất

khẩu, thuế TTĐB, thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực tiếp. Điều này dẫn

đến những bất cập giữa quy định trong chuẩn mực và thực tế hạch toán doanh thu

bán hàng.

Thứ ba, hạn chế trong việc áp dụng chuẩn mực VAS14 vào thực tiễn công

tác kế toán.

Không đưa ra những quy định cụ thể về tỷ lệ lãi suất dùng để quy đổi giá trị

danh nghĩa về giá trị thực tế để ghi nhận doanh thu: Trong chuẩn mực VAS14 chỉ

quy định là tỷ lệ lãi suất hiện hành. Nhiều câu hỏi được đặt ra cho người sử dụng đó



là tỷ suất hiện hành nào? Tỷ lệ lãi suất tiền vay? Tiền gửi? Hay tỷ lệ lãi suất bình

quân liên ngân hàng?... Đây là quy định thể hiện tính không rõ ràng sẽ dẫn đến cách

vận dụng khác nhau trong tính toán, xác định doanh thu của doanh nghiệp.





Những tồn tại của chế độ kế toán doanh thu bán hàng



Bên cạnh những ưu điểm của chế độ kế toán hiện hành, kế toán về doanh thu

vẫn còn những tồn tại cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện. Cụ thể là:

Thứ nhất, về thời điểm ghi nhận doanh thu trong lĩnh vực xuất khẩu.

Đã có nhiều tài liệu kế toán viết về thời điểm xác nhận hàng hóa xuất khẩu là

thời điểm mà hải quan (cảng, cửa khẩu, sân bay) ký xác nhận hoàn thành thủ tục hải

quan. Thực ra đây chỉ là thời điểm hàng hóa đã được vận chuyển ra khỏi biên giới

của một nước chứ chưa hoàn toàn khẳng định rằng hàng hóa đó đã được chuyển

quyền sở hữu hay chưa, do đó chưa đủ cơ sở pháp lý để ghi nhận doanh thu bán

hàng.

Thứ hai, về hóa đơn chứng từ

Chưa có quy định cụ thể về chế độ hóa đơn chứng từ đối với hàng hóa trao

đổi tương tự về bản chất và giá trị.

Chứng từ sử dụng trong hạch toán nghiệp vụ chiết khấu thương mại chưa

được ban hành để phản ánh mối quan hệ kinh tế của các pháp nhân độc lập.

Thứ ba, tài khoản sử dụng

Không đồng bộ trong việc mở tài khoản cấp II của các tài khoản phản ánh

giảm trừ doanh thu. Để phục vụ cho công tác quản lý, TK521 được mở chi tiết

thành các TK cấp II để theo dõi riêng cho hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ; trong khi đó

các TK 531, 532 lại không được mở chi tiết, dẫn đến vửa thiếu tính đồng bộ, vừa

khó khăn cho việc thu thập thông tin về giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại là của

hàng hóa, thành phẩm hay dịch vụ.

Thiếu tài khoản phản ánh giá vốn bán hàng nội bộ: trong khi doanh thu bán

hàng thì được hạch toán riêng vào TK511 “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch

vụ” và TK512 “Doanh thu bán hàng nội bộ” thì toàn bộ giá vốn được hạch toán vào

TK632 không phân biệt bán hàng bên ngoài hay nội bộ.

Thứ tư, về phương pháp hạch toán



Các khoản giảm trừ doanh thu bán hàng khi phát sinh đều được xử lý ghi

giảm trừ vào doanh thu của kỳ hiện hành mà không phân biệt khoản giảm trừ đó

liên quan đến doanh thu được ghi nhận ở kỳ kế toán nào, điều này chưa phù hợp với

chuẩn mực IAS10 “Các sự kiện phát sinh sau ngày lập BCĐKT”.

Hạch toán vào doanh thu bán hàng bao gồm cả các khoản thu hộ bên thứ ba

(như thuế xuất khẩu, thuế TTĐB, thuế GTGT nộp theo phương pháp trực tiếp) chưa

phù hợp với quy định về doanh thu trong chuẩn mực VAS14 và IAS18.

Thứ năm, về báo cáo kế toán

Hệ thống báo cáo kế toán hiện hàng về cơ bản đã đảm bảo được yêu cầu đơn

giản, dễ hiểu, dễ so sánh và dễ phân tích, đáp ứng được yêu cầu thông tin cho

những người quan tâm. Tuy nhiên, các chỉ tiêu trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp chưa phù hợp với nội dung quy định của chuẩn mực Doanh

thu quốc tế và của Việt Nam thể hiện:

- Trong chuẩn mực Doanh thu không có định nghĩa về Doanh thu thuần.

- Trong đoạn 06 của chuẩn mực đã quy định, doanh thu được xác định bằng

giá trị hợp lý của khoản đã thu hoặc sẽ thu được sau khi trừ các khoản chiết khấu

thương mại, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại. Như vậy xét về bản chất của

chỉ tiêu Doanh thu thuần trên báo cáo hiện nay chính là Doanh thu. Còn chỉ tiêu

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thực chất chỉ là tổng số tiền bán hàng mà

doanh nghiệp thu được. Mặt khác trong chuẩn mực không đề cập đến các khoản

thuế thu hộ Nhà nước ở khâu bán hàng là khoản giảm trừ doanh thu, nhưng chỉ tiêu

này lại được báo cáo là khoản giảm trừ doanh thu trên báo cáo kết quả.

3.4 Nội dung hoàn thiện chuẩn mực kế toán doanh thu bán hàng tại các doanh

nghiệp Việt Nam

3.4.1 Hoàn thiện nội dung chuẩn mực kế toán VAS14 “Doanh thu và thu

nhập khác”

Để các chuẩn mực kế toán Việt Nam được công nhận trên trường quốc tế, và

giúp các doanh nghiệp có thể áp dụng một hệ thống kế toán thống nhất trong phạm

vi cả nước, thì các chuẩn mực kế toán Việt Nam nói chung và chuẩn mực “Doanh

thu và thu nhập khác” nói riêng vẫn cần thiết phải có bước phát triển và hoàn thiện



hơn nữa. Qua nghiên cứu chuẩn mực VAS14 với phạm vi nghiên cứu về doanh thu

bán hàng, em có một số đề xuất bổ sung cho chuẩn mực như sau:

(1)



Thống nhất thuật ngữ sử dụng trong chuẩn mực:



-



Để đảm bảo tính thống nhất trong quy định về xác định doanh thu,



tính nhất quán trong sử dụng thuật ngữ, tính dễ hiểu cho người đọc chuẩn mực và

người làm công tác kế toán thì nên thay đổi cụm từ “giá trị thực tế” ở đoạn 07 thành

“giá trị hợp lý” để thống nhất với đoạn 05, 06 và 08.

-



Để đảm bảo tính rõ ràng, ở đoạn 34(d) của chuẩn mực có đề cập đến



cụm từ “thu nhập bất thường”, nên nói rõ thu nhập bất thường ở đây chính là các

khoản thu nhập khác trong định nghĩa của đoạn 30.

(2)



Tất cả các khoản thu hộ bên thứ ba không được coi là doanh thu và



hạch toán vào doanh thu bán hàng.

Để chuẩn mực VAS14 thực sự phù hợp với IAS18, để đảm bảo tính loogic

giữa định nghĩa doanh thu, quy định về doanh thu với thực tế hạch toán doanh thu

theo chuẩn mực thì các khoản thuế thu hộ Nhà nước (thuế xuất khẩu, thuế TTĐB,

thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp) phải được loại trừ khỏi doanh thu bán

hàng. Nghĩa là sẽ không hạch toán các khoản thuế thu hộ Nhà nước ở khâu bán vào

TK511 nữa.

(3)



Cần có quy định cụ thể về tỷ lệ lãi suất dùng để quy đổi giá trị danh



nghĩa về giá trị hợp lý.

3.4.2 Xác định đúng đắn thời điểm ghi nhận doanh thu bán hàng xuất

khẩu.

Trên cơ sở nghiên cứu 5 điều kiện ghi nhận doanh thu được quy định trong

chuẩn mực VAS14, áp dụng vào trong lĩnh vực xuất khẩu thì chỉ có điều kiện (a)

“Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro, lợi ích gắn liền với quyền sở hữu

sàn phẩm, hàng hóa cho người mua” là điều kiện cần phải nghiên cứu, xem xét. Còn

4 điều kiện sau thường được thỏa mãn khi điều kiện (a) đã thỏa mãn. Vậy khi nào

thì điều kiện (a) được thỏa mãn? Thời điểm chuyển giao rủi ro, lợi ích gắn liền với

hàng hóa trong giao dịch xuất khẩu khi người bán đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng

của mình. Thời điểm này được xác định tùy thuộc vào từng điều kiện cơ sở giao



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Những nhận xét, đánh giá về kế toán doanh thu bán hàng theo chế độ kế toán Việt Nam.

Tải bản đầy đủ ngay(49 tr)

×