1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Báo cáo khoa học >

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI NGÂN HÀNG TMCP BẢN VIỆT GIAI ĐOẠN 2009 – 2012

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (543.31 KB, 72 trang )


Khóa luận tốt nghiệp

-



Th.S Hoàng Thị Minh Ngọc



Khi đánh giá chất lượng của một sản phẩm, ta phải xét đến mọi đặc tính của đối

tượng có liên quan đến sự thỏa mãn của một nhu cầu cụ thể. Các nhu cầu này

không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên có liên quan, ví dụ như nhu cầu

mang tính pháp chế, nhu cầu của cả cộng đồng...



-



Nhu cầu có thể được công bố rõ ràng dưới dạng quy định, tiêu chuẩn nhưng cũng có

những nhu cầu không thể miêu tả rõ ràng, người sử dụng chỉ có thể cảm nhận

chúng, hoặc có khi chỉ phát hiện ra chúng trong quá trình sử dụng.



-



Chất lượng không phải chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa như ta hiểu hàng

ngày, mà còn có thể áp dụng cho cả hệ thống, quá trình.



-



Chất lượng không tự sinh ra, chất lượng không phải là một kết quả ngẫu nhiên mà

nó là kết quả của sự tác động của hàng loạt các yếu tố có liên quan chặt chẽ với

nhau. Nó là một khái niệm đa diện.

Như phân tích ở trên, bất kỳ một sản phẩm hàng hóa nào đều được khách hàng

đánh giá trên một số tiêu chí nhất định, nhưng quan trọng nhất, vẫn là tiêu chí chất

lượng. Thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán bằng phương thức tín dụng

chứng từ nói riêng là một dịch vụ do ngân hàng cung cấp tới những khách hàng là

các cá nhân, tổ chức...Dịch vụ do ngân hàng cung cấp là khá hạn chế tại thời điểm

hiện nay, do đó, các ngân hàng không thể thu hút khách hàng bằng cách tạo ra càng

nhiều sản phẩm dịch vụ, mà điều quan trọng là tạo ra điểm nhấn của riêng mình

thông qua chất lượng sản phẩm cung cấp. Cùng một sản phẩm giống nhau, nhưng

mỗi ngân hàng sẽ tạo ra bản sắc riêng khác nhau, tạo ra chất lượng khác nhau.

Như vậy, có thể hiểu rằng, chất lượng dịch vụ thanh toán bằng phương thức

tín dụng chứng từ là khả năng tập hợp tất cả các đặc tính của phương thức tín dụng

chứng từ mà đáp ứng được yêu cầu của các bên tham gia trong phương thức thanh

toán này. Các đặc tính đó là độ an toàn cao, thời gian thanh toán ngắn, phí thanh

toán hợp lý, thủ tục đơn giản, nhanh chóng, sự giúp đỡ tận tình chu đáo của các cán

bộ nhân viên ngân hàng.... Hay nói cách khác, chất lượng thanh toán là chất lượng

một hoạt động của Ngân hàng, nhằm đáp ứng ba tiêu chí: Thỏa mãn nhu cầu của

khách hàng, đáp ứng được yêu cầu của hệ thống, và mang lại thu nhập cho Ngân

hàng.

24



Khóa luận tốt nghiệp

2.1.2.



Th.S Hoàng Thị Minh Ngọc



Các tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ thanh toán bằng phương thức



tín dụng chứng từ

2.1.2.1.



Mức độ thỏa mãn của khách hàng



Như ta đã biết, khách hàng là đối tượng vô cùng quan trọng đối với bất kỳ một

ngân hàng nào. Chất lượng của dịch vụ thanh toán ngày càng hoàn hảo thì khách

hàng sẽ gắn bó lâu dài với ngân hàng, thậm chí còn tác động đến một bộ phận

không nhỏ những khách hàng mới có nhu cầu TTQT tìm đến ngân hàng giao dịch.

Mức độ thỏa mãn của khách hàng được thể hiện qua số lượng gia tăng các chỉ

tiêu: Số lượng L/C mở, Số lượng khách hàng mở L/C, và số món thanh toán L/C,

điều kiện thanh toán cũng như thái độ cách thức phục vụ của nhân viên Ngân hàng.

-



Số lượng L/C mở, số lượng khách hàng

Số lượng khách hàng tham gia thanh toán bằng phương thức thanh toán tín

dụng chứng từ phản ánh phạm vi ảnh hưởng của Ngân hàng đối với khách hàng. Số

lượng khách hàng tiến hành giao dịch với Ngân hàng càng nhiều, chứng tỏ Ngân

hàng có phạm vi ảnh hưởng càng cao đến khách hàng.

Việc gia tăng số lượng khách hàng xin mở L/C luôn gắn liền với việc gia tăng

số lượng hồ sơ xin mở L/C, tức là gia tăng mức độ quan hệ thương mại.

Số lượng hồ sơ mở L/C được hiểu là số lượng những hợp đồng thanh toán

XNK được thực hiện thông qua ngân hàng.

Một khía cạnh khác cần đề cập đến, không chỉ mang lại khoản thu nhập cho

ngân hàng thông qua việc thu phí dịch vụ, đó là còn liên quan đến mối quan hệ

thương mại. Một ngân hàng có số lượng L/C xin mở càng nhiều, chứng tỏ ngân

hàng này có mối liên hệ khá rộng đối với các doanh nghiệp XNK, có uy tín đối với

khách hàng cả trong nước và quốc tế.

Doanh số thanh toán từ hoạt động TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ

tăng lên là cơ sở gia tăng số lượng hồ sơ mở L/C tại ngân hàng. Thực tế cho thấy,

khách hàng luôn tìm đến ngân hàng nào có kết quả kinh doanh cao, hoạt động hiệu

quả và có uy tín. Do đó, ngân hàng có số lượng lớn khách hàng tham gia thanh toán

L/C càng lớn, thì chất lượng của quá trình thanh toán này càng cao.



-



Điều kiện thanh toán

25



Khóa luận tốt nghiệp



Th.S Hoàng Thị Minh Ngọc



Điều kiện thanh toán cũng là một tiêu chí để đánh giá mức độ thỏa mãn của

khách hàng. Đó là một tập hợp của nhiều các yếu tố như: mức phí hợp lý, thời gian

thanh toán ngắn, thủ tục đơn giản, chính sách tỷ giá hợp lý, lãi suất phù hợp, gọn

nhẹ.

Thời gian thanh toán là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng TTQT

theo phương thức tín dụng chứng từ. Xuất phát từ tính chất TTQT, thanh toán tiền

hàng ở các nước khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa... cách xa về mặt địa lý nên việc

thanh toán thường chậm trễ, thời gian thanh toán bị kéo dài. Ngoài ra còn xuất phát

từ bản thân ngân hàng, đó là các thủ tục pháp lý. Nếu thủ tục rườm rà, phức tạp,

nhiều điều kiện sẽ dẫn đến tình trạng đọng vốn, kinh doanh kém hiệu quả đối với

các nhà xuất khẩu. Do đó, thời gian thanh toán ngắn là căn cứ để các doanh nghiệp

XNK lựa chọn ngân hàng phục vụ trong quá trình thanh toán.

Mức phí hợp lý được đề cập ở đây gồm có phí dịch vụ thanh toán và các

khoản phí khác có liên quan. Mức phí hợp lý luôn là mối quan tâm lớn của khách

hàng. Một mức phí hợp lý có thể chấp nhận được là căn cứ để khách hàng lựa chọn

ngân hàng cho mình.

Một số khách hàng khi ký kết hợp đồng không đủ nguồn tài chính, phải đi vay

ngân hàng, có thể là nội tệ hay đồng ngoại tệ. Thông thường Ngân hàng chỉ đồng ý

cho vay khi có tài sản đảm bảo, nhưng có trường hợp cho vay đối với khách hàng

truyền thống. Một mức lãi suất vay phù hợp, luôn khiến cho khách hàng tin tưởng

và ủng hộ ngân hàng nhiều hơn. Hơn nữa, cũng do chính sách tỷ giá mà sẽ khuyến

khích nhập khẩu hay xuất khẩu.

-



Thái độ phục vụ của nhân viên Ngân hàng, dịch vụ trợ giúp, tư vấn khách hàng

Rất nhiều khách hàng băn khoăn không biết lựa chọn ngân hàng đại lý,

phương thức thanh toán cũng như là trình tự thực hiện giao dịch khi tiến hành một

thương vụ kinh doanh của mình. Phát triển, hoàn thiện dịch vụ tư vấn khách hàng

thông qua các khóa đào tạo bài bản các nhân viên cán bộ ngân hàng, song song phải

tiến hành nâng cao ý thức trách nhiệm, thái độ phục vụ của nhân viên, đó là điều

cần phải thực hiện nhằm nâng cao chất lượng thanh toán bằng phương thức tín dụng

chúng từ của bất cứ một ngân hàng nào.

26



Khóa luận tốt nghiệp



Th.S Hoàng Thị Minh Ngọc



Các nhà nhập khẩu có thể gặp khó khăn về vốn, sự lựa chọn L/C phù hợp cũng

như là hoàn thiện các loại giấy tờ kèm theo. Để hỗ trợ cho khách hàng, ngân hàng

đưa ra các hình thức sau: cho vay ký quỹ L/C, chiết khấu bộ chứng từ gửi hàng, bảo

lãnh nhận hàng hay bảo lãnh trả chậm... Hay cung cấp các dịch vụ tư vấn cho

khách hàng. Do đó, các dịch vụ hỗ trợ khách hàng một phần thu hút khách hàng,

đáp ứng nhu cầu của họ, đồng thời giảm thiểu mức độ rủi ro, rút ngắn thời gian

thanh toán từ đó góp phần nâng cao chất lượng thanh toán bằng phương thức tín

dụng chứng từ.

Tất cả những yếu tố trên, về điều kiện thanh toán cũng như thái độ phục vụ,

dịch vụ tư vấn, hỗ trợ khách hàng, là những yếu tố quan trọng quyết định sự gia

tăng số lượng khách hàng, số lượng L/C và trị giá của mỗi L/C, do xuất phát từ

nguyên nhân đơn giản: số lượng khách hàng và số lượng L/C có thể là do chính

sách của nhà nước, nhằm khuyến khích xuất nhập khẩu tăng, hay do số lượng khách

hàng tham gia kinh doanh tăng, không phải từ nguyên nhân chất lượng thanh toán

tăng nhanh. Hiểu được điều này, sẽ giúp cho mỗi Ngân hàng có cái nhìn, đánh giá,

và xây dựng chiến lược nhằm nâng cao chất lượng thanh toán hơn nữa.

Như vậy, sự thỏa mãn hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ TTQT bằng

phương thức tín dụng chứng từ của ngân hàng là chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất

lượng của phương thức.

2.1.2.2.



Tính an toàn trong quá trình thực hiện thanh toán



bằng phương thức tín dụng chứng từ

Rủi ro trong quá trình thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ như đã

phân tích ở trên là khá lớn. Hơn nữa, mục tiêu hoạt động của bất kỳ một ngân hàng

là độ an toàn cao và khả năng sinh lời lớn. Do đó, ngân hàng nào kiểm soát được

những rủi ro thường gặp, tăng cường mức độ an toàn thì luôn thu hút được sự quan

tâm chú ý của khách hàng.

Tính an toàn ở đây được hiểu không chỉ là sự hoàn hảo trong việc cung cấp

phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, đó là sự giảm thiểu sai sót trong giao

dịch và rủi ro trong việc cung cấp dịch vụ, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, giảm thiểu

tỷ lệ nợ quá hạn hay việc hạn chế có quá nhiều L/C trả chậm.

27



Khóa luận tốt nghiệp

2.1.2.3.



Th.S Hoàng Thị Minh Ngọc

Thu nhập từ hoạt động thanh toán bằng phương



thức tín dụng chứng từ

NHTM là một đơn vị kinh tế kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với mục tiêu an

toàn và sinh lợi. Vì thế, mọi hoạt động của ngân hàng đều hướng mục tiêu cuối

cùng là tạo thu nhập. Và đối với việc thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng

từ thì số lượng bộ hồ sơ L/C phát sinh và thực hiện thanh toán là cơ sở giúp ngân

hàng gia tăng doanh số, thu nhập của mình.

Ta có công thức tính doanh số thanh toán và phí thu từ hoạt động thanh toán

quốc tế:

Doanh số thanh toán = Phí thu từ hoạt động thanh toán * Số hồ sơ thanh toán



Phí thu từ hoạt động thanh toán = Phí suất * Trị giá bộ hồ sơ thanh toán

Với mỗi ngân hàng khác nhau sẽ có biểu phí khác nhau cho hoạt động thanh

toán quốc tế nói chung và bằng phương thức tín dụng chứng từ nói riêng. Đồng

thời, các ngân hàng còn quy định mức phí cao nhất và thấp nhất có thể nhằm tăng

năng lực cạnh tranh với các ngân hàng đối thủ (Tham khảo Biểu phí dịch vụ Thanh

toán quốc tế của Ngân hàng TMCP Bản Việt tại Phụ lục)

Doanh số cho biết ngân hàng đó hoạt động có hiệu quả hay không, từ đó tạo

điều kiện mở rộng mối quan hệ trong các lĩnh vực: tín dụng, thanh toán quốc

tê....Nó cũng là chỉ tiêu phản ánh chất lượng thanh toán như thế nào, tốt hay không

tốt. Thực tế cho thấy rằng, những ngân hàng nào hoạt động hiệu quả, có uy tín luôn

là lựa chọn của các nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu lớn trong hoạt động ngoại

thương. Và tương ứng, những ngân hàng quy mô nhỏ, chưa gây dựng được uy tín

về lĩnh vực thanh toán quốc tế, thì thường được các nhà xuất, nhập khẩu nhỏ lựa

chọn. Do đó, doanh số thanh toán nhập khẩu, xuất khẩu luôn tương đương với quy

mô của ngân hàng.

Mặt khác, sự tăng lên trong doanh số thanh toán có sự tác động đến việc mở

rộng thị trường hoạt động thanh toán quốc tế, nảy sinh nhiều quan hệ với số lượng

lớn khách hàng, với nhiều ngân hàng. Đây là điều kiện giúp ngân hàng nâng cao,

mở rộng hoạt động thanh toán, đặc biệt là qua phương thức tín dụng chứng từ.

28



Khóa luận tốt nghiệp

2.2.



Th.S Hoàng Thị Minh Ngọc



Thực trạng hoạt động thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ



tại Ngân hàng TMCP Bản Việt giai đoạn 2009 – 2012

2.2.1.

2.2.1.1.



Thực trạng hoạt động thanh toán L/C Nhập khẩu

Số lượng



29



Khóa luận tốt nghiệp



Th.S Hoàng Thị Minh Ngọc



Bảng 2.1: Số món thanh toán L/C nhập khẩu

Đơn vị tính: Món

Chỉ tiêu



Năm 2009



Năm 2010



Năm 2011



Năm 2012



Số lượng L/C phát hành



10



16



45



69



Số lượng L/C thanh toán



8



12



43



66



Nguồn: Phòng TTQT Ngân hàng TMCP Bản Việt

Biểu đồ 2.1: Số món thanh toán L/C nhập khẩu

Đơn vị tính: Món

Nguồn: Phòng TTQT Ngân hàng TMCP Bản Việt

Nhìn biểu đồ kết hợp với bảng số liệu, ta thấy số lượng L/C phát hành và L/C

thanh toán đều có xu hướng tăng qua các năm từ 2009 đến 2012. Điều này chứng tỏ

hoạt động thanh toán L/C nhập khẩu của Ngân hàng TMCP Bản Việt đang tăng

trưởng mạnh, mở dần thị phần hoạt động trên thị trường thanh toán nhập khẩu. Số

lượng L/C mở năm 2012 tăng 59 món (590%) so với năm 2009 và tăng 24 món

(53,3%) so với một năm trước đó, tức năm 2011. Số món thanh toán L/C năm 2012

tăng 58 món (725%) so với năm 2009, tăng 54 món (450%) so với năm 2010 và

tăng 23 món (53,5%) so với năm 2011. Sự gia tăng về số lượng chứng tỏ chất lượng

thanh toán tín dụng chứng từ của Ngân hàng TMCP Bản Việt đang ngày càng được

củng cố và nâng cao, mối quan hệ giữa khách hàng và Ngân hàng ngày càng được

duy trì và phát triển

2.2.1.2.



Doanh số

Bảng 2.2: Doanh số thanh toán L/C nhập khẩu

Đơn vị tính: Nghìn USD

Năm

2009



Chỉ tiêu



Tỉ



g



trọn



số

1. Trả ngay



Tổn



g



197



72,2

%



Năm 2010

Tổn

g số

203



Tỉ

trọn

g

58%

30



Năm 2011

Tổn

g số



Tỉ

trọn

g



Năm 2012

Tổn

g số



1.46



63,7



21.0



3



%



56



Tỉ

trọn

g

55%



Khóa luận tốt nghiệp

2. Trả chậm



76



Th.S Hoàng Thị Minh Ngọc

27,8



147



42%



834



L/C nhập

khẩu



273



100

%



350



17.2



%



%



36,3



45%



32



100



2.29



100



38.2



100



%



7



%



88



%



Nguồn: Phòng TTQT Ngân hàng TMCP Bản Việt

Qua bảng số liêu có thể thấy doanh số thanh toán L/C nhập khẩu của Ngân

hàng TMCP Bản Việt có xu hướng tăng rất nhanh qua các năm, đặc biệt là từ năm

2011 đến nay. Trong thời gian gần đây, đối với những khách hàng truyền thống,

Ngân hàng có chế độ ưu đãi với tỷ lệ ký quỹ dưới 10% với mức phí linh hoạt, hấp

dẫn nên đã thúc đẩy doanh số thanh toán L/C tăng cao. Cụ thể, doanh số thanh toán

L/C năm 2010 tăng 28,2% so với năm 2009, trong đó doanh số thanh toán L/C trả

ngay tăng 3% và L/C trả chậm tăng 93,4%. Năm 2011, doanh số L/C nhập khẩu

tăng đột biến, đạt 2.297 nghìn USD, tăng 556,3% so với một năm trước đó. Điều

này có thể lý giải là do Ngân hàng đã có tài khoản NOSTRO tại Deutsche Bank và

trực tiếp tham gia mạng SWIFT làm cho tốc độ thanh toán trở nên nhanh chóng,

việc truyền tin, dữ liệu cũng chính xác hơn. Với đà tăng trưởng này, đến năm 2012

doanh số thanh toán L/C nhập khẩu tiếp tục tăng 1.566,9% so với năm 2011, đạt

38.288 nghìn USD. Trong đó doanh số thanh toán L/C trả ngay tăng 1.339,2% và

L/C trả chậm tăng 1.966,2%. Việc đạt được những kết quả trên đã cho thấy những

nỗ lực của Ngân hàng TMCP Bản Việt trong việc áp dụng đổi mới về quy trình và

công nghệ phục vụ công tác thanh toán quốc tế, tăng cường quảng bá giới thiệu về

các sản phẩm hấp dẫn kèm theo, nâng cao trình độ thanh toán viên,… từ đó nâng

cao chất lượng thanh toán, thu hút khách hàng nhiều hơn.

Biểu đồ 2.2: Tỉ trọng L/C trả chậm

Nguồn: Phòng TTQT Ngân hàng TMCP Bản Việt

Tuy nhiên nhìn vào bảng biểu đồ trên ta có thể thấy tỷ trọng L/C trả chậm

đang có xu hướng tăng và không ổn định qua các năm. Điều này cho thấy rủi ro của

Ngân hàng cũng ngày càng tăng vì khách hàng có thể không trả tiền cho Ngân hàng

khi đến hạn thanh toán. Thông thường ở Ngân hàng TMCP Bản Việt, để mở L/C trả

chậm thì khách hàng thường chỉ phải ký quỹ một khoản nhỏ và số còn lại sẽ được

31



Khóa luận tốt nghiệp



Th.S Hoàng Thị Minh Ngọc



bảo lãnh bởi Ngân hàng để tạo điều kiện vốn cho khách hàng. Nhưng khi đã chấp

nhận thanh toán thì khi đến hạn Ngân hàng phải thanh toán cho phía đối tác mà có

thể là khách hàng của Ngân hàng chưa kịp chuyển tiền hoặc không đủ khả năng

chuyển nốt tiền vào tài khoản để thanh toán cho Ngân hàng. Điều này sẽ làm cho

Ngân hàng gặp rủi ro trong thanh toán.

2.2.1.3.



Phí thanh toán dịch vụ

Việc thu phí dịch vụ được thực hiện theo quy định của NHNN và tùy thuộc



chính sách thanh toán của từng NHTM. Hiện nay, mức phí áp dụng cho thanh toán

L/C xuất nhập khẩu không chỉ tạo thu nhập cho Ngân hàng, mà còn mang tính cạnh

tranh cao, lành mạnh giữa các ngân hàng đang hoạt động trên thị trường, đồng thời

phải phù hợp để bù đắp chi phí và đem lại phần thu nhập cho Ngân hàng.

Biểu đồ 2.3: Phí thu từ L/C nhập khẩu

Đơn vị tính: triệu đồng

Nguồn: Phòng TTQT Ngân hàng TMCP Bản Việt

Phí thanh toán dịch vụ chính là một trong những nguồn mang lại thu nhập cho

hoạt động thanh toán L/C nhập khẩu của Ngân hàng TMCP Bản Việt. Cùng với sự

gia tăng số món thanh toán L/C nhập khẩu, sự tăng trưởng mạnh của doanh số thanh

toán cùng với việc áp dụng biểu phí thích hợp đã làm cho thu nhập từ hoạt động

thanh toán L/C nhập khẩu của Ngân hàng tăng mạnh: Năm 2009 và 2010, mức thu

nhập này khá khiêm tốn, chỉ đạt 473,3 triệu đồng (năm 2009) và 737,2 triệu đồng

(năm 2010); đến năm 2011 mức thu nhập này tăng nhanh, đạt 4125,6 triệu đồng

(tăng 459,6% so với năm 2010) và tiếp tục tăng 70,4% trong năm 2012, đạt mức

7031,1 triệu đồng.

2.2.1.4.



Nhận xét

Như vậy, chất lượng thanh toán L/C nhập khẩu đã được phân tích qua các khía



cạnh nêu trên. Qua đó, phần nào khẳng định được rằng, chất lượng thanh toán L/C

nhập khẩu tại Ngân hàng TMCP Bản Việt đang ngày càng được nâng cao, quy trình

nghiệp vụ ngày càng được hoàn thiện. Tuy nhiên, cần đòi hỏi Ngân hàng TMCP

Bản Việt cần cố gắng, nỗ lực hơn nữa trong việc hạn chế rủi ro, xây dựng quy trình



32



Khóa luận tốt nghiệp



Th.S Hoàng Thị Minh Ngọc



thanh toán hoàn hảo hơn, áp dụng công nghệ tiên tiến... nhằm nâng cao vị thế trên

thị trường, đặc biệt là thị trường thanh toán quốc tế.

2.2.2.

2.2.2.1.



Thực trạng hoạt động thanh toán L/C xuất khẩu

Số lượng

Bảng 2.3: Số món L/C xuất khẩu

Đơn vị tính: Món

Chỉ tiêu



Năm 2009



Năm 2010



Năm 2011



Năm 2012



Số món thông báo L/C



0



0



28



24



Số món thanh toán L/C



0



0



6



7



Tổng số món



0



0



34



31



Nguồn: Phòng TTQT Ngân hàng TMCP Bản Việt

Năm 2011 Ngân hàng TMCP Bản Việt trực tiếp tham gia mạng SWIFT, bắt

đầu thực hiện nghiệp vụ thông báo và thanh toán L/C xuất khẩu cho khách hàng. Do

vậy, số món L/C xuất khẩu của Ngân hàng TMCP Bản Việt còn khá ít so với các

Ngân hàng cùng địa bàn. Trong năm 2011 tổng số món là 34, trong đó có 28 món

thông báo L/C nhập khẩu và 6 món thanh toán L/C nhập khẩu. Năm 2012, số món

L/C xuất khẩu đã giảm xuống còn 31 món, trong đó số món thông báo L/C xuất

khẩu là 24 món (giảm 14,3% so với năm 2011) và số món thanh toán L/C xuất khẩu

là 7 món (tăng 16,7% so với năm 2011). Mặc dù trong những năm gần đây, tình

hình xuất khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều chuyển biến rõ rệt nhưng số

lượng thanh toán L/C xuất tại Ngân hàng TMCP Bản Việt vẫn ở mức độ thấp, chủ

yếu là L/C thông báo là do những nguyên nhân sau:

Thứ nhất: Hàng hóa xuất khẩu chủ yếu là những mặt hàng nhận gia công cho

nước ngoài nên hình thức thanh toán áp dụng chủ yếu là phương thức chuyển tiền

TT.

Thứ hai: Những doanh nghiệp xuất khẩu lớn tại thành phố Hồ Chí Minh là

khách hàng truyền thống của các Ngân hàng lớn như: Vietcombank, ACB,… Vì

vậy, khách hàng hiện tại của VCCB là khá ít.

2.2.2.2.



Doanh số

Biểu đồ 2.4: Doanh số thông báo và thanh toán L/C xuất khẩu

33



Khóa luận tốt nghiệp



Th.S Hoàng Thị Minh Ngọc

Đơn vị tính: nghìn USD

Nguồn: Phòng TTQT Ngân hàng TMCP Bản Việt



Tuy mới chỉ thực hiện thông báo và thanh toán L/C xuất khẩu trong vòng 2

năm, nhưng nhờ những cố gắng không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ và công

tác quảng bá sản phẩm, hoạt động thanh toán tín dụng đối với hàng xuất khẩu tại

Ngân hàng TMCP Bản Việt bước đầu đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.

Năm 2011, tổng doanh số L/C xuất khẩu đạt 546 nghìn USD, trong đó doanh số

thông báo L/C chiếm tỷ trọng cao hơn ( 72,2%) đạt 394 nghìn USD. Doanh số

thanh toán L/C xuất khẩu cũng đạt 152 nghìn USD với 6 món thanh toán. Chỉ một

năm sau đó, năm 2012 tổng doanh số do L/C xuất khẩu mang lại đã tăng gấp 5,4

lần, đạt 2.957 nghìn USD. Trong đó doanh số thông báo L/C đạt 1.930 nghìn USD

(tăng 389,8% so với 2011) và doanh số thanh toán L/C là 1.027 nghìn USD (tăng

575,7% so với 2011). Một điều đáng nói là số món thanh toán L/C trong năm 2012

chỉ là 7 món. Điều này có nghĩa là giá trị mỗi món thanh toán L/C xuất khẩu đã tăng

lên rất nhiều – cho thấy triển vọng tăng trưởng doanh số thanh toán L/C xuất khẩu

trong tương lai.

2.2.2.3.



Phí thanh toán dịch vụ

Cũng giống như L/C nhập khẩu, Ngân hàng tiến hành thu phí đối với các hoạt



động dịch vụ liên quan đến L/C xuất khẩu. Mức phí cho từng loại nghiệp vụ được

tính theo biểu phí quy định của Ngân hàng TMCP Bản Việt.

Biểu đồ 2.5: Phí thu từ L/C xuất khẩu

Đơn vị tính: triệu đồng

Nguồn: Phòng TTQT Ngân hàng TMCP Bản Việt

Có thể thấy rằng phí thu từ L/C xuất khẩu của Ngân hàng TMCP Bản Việt sau

hai năm thực hiện vẫn còn khá thấp. Mức thu này đạt 34,02 triệu đồng trong năm

2011 và tăng nhẹ 8,6% trong năm 2012, đạt 36,96 triệu đồng. Điều này đòi hỏi

Ngân hàng cần phải tích cực nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng cường các hoạt động

Marketing nhằm gia tăng doanh số thanh toán L/C xuất khẩu, từ đó tăng thu nhập từ

thu phí dịch vu cho Ngân hàng.



34



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (72 trang)

×