1. Trang chủ >
  2. Tài Chính - Ngân Hàng >
  3. Ngân hàng - Tín dụng >

TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (622.78 KB, 76 trang )


Nguyễn Thị Minh Hạnh – CQ500795



GVHD: Th.S Trần Minh Tuấn



và cá nhân vay vốn góp phần mở rộng sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử

dụng vốn, góp phần mở rộng sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Tín dụng ngân hàng chính là công cụ để giải quyết mâu thuẫn giữa người thừa vốn và

người thiếu vốn, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát

triển nhanh chóng.

Tuy vậy, trong cơ chế thị trường hiện nay, huy động và cho vay bao nhiêu, có

đáp ứng được hay không nhu cầu của nền kinh tế, thu hồi vốn có đúng hạn không là

vấn đề được đặt lên hàng đầu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Do vây, mỗi

ngân hàng trong môi trường cạnh tranh cần phải có những chiến lược trong kinh

doanh, cần phải tìm những giải pháp hiệu quả nhằm thu hút tối đa nguồn vốn tiềm tàng

với chi phí rẻ trong nền kinh tế để hoạt động tín dụng có hiệu quả. Có thể nói, trong

nền kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng góp phần vào quá trình vận động liên tục

của nguồn vốn, làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ trong xã hội và góp phần thúc đẩy

quá trình tăng trưởng của nền kinh tế.

- Tín dụng Ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao

lưu kinh tế quốc tế. Trong điều kiện hiện nay, việc phát triển kinh tế của một nước

luôn phải gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Sự hợp tác hóa bình đẳng

cùng có lợi giữa các nước trên thế giới và trong khu vực đang được phát triển mạnh

mẽ. Trong đó, đầu tư vốn ra nước ngoài, kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa là hai

lĩnh vực hợp tác quốc tế phổ biến nhất giữa các nước. Vốn là nhân tố quyết định đầu

tiên cho việc thực hiện quá trình này. Nhưng trên thực tế không phải một tổ chức kinh

tế nào có đủ vốn để hoạt động. Ngân hàng với tư cách là một tổ chức kinh doanh tiền

tệ, thông qua hoạt động tín dụng sẽ là công cụ đắc lực để giải quyết vấn đề về vốn cho

các nhà đầu tư và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa.

- Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn giữa các chủ

thể trong nền kinh tế góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Trong mọi lĩnh vực sản

xuất kinh doanh và dịch vụ tái mở rộng hoạt động, mọi chu kỳ đều phải bắt đầu từ tiền

Chuyên đề tốt nghiệp



11



Nguyễn Thị Minh Hạnh – CQ500795



GVHD: Th.S Trần Minh Tuấn



và kết thúc bằng tiền. Để tăng nhanh vòng quay vốn, mỗi chủ thể kinh doanh phải tìm

kiếm và thực hiện nhiều biện pháp như cải tiến kỹ thuật, tìm kiếm thị trường mới. Tất

cả các công việc đó đòi hỏi phải có nhiều vốn và phải kịp thời. Tín dụng Ngân hàng là

nguồn cung ứng vốn cho các nhu cầu đó. Mặt khác, vốn Ngân hàng cung ứng cho các

nhà kinh doanh bằng việc cho vay với điều kiện hoàn trả gốc và lãi theo thời hạn quy

định. Do đó, các nhà doanh nghiệp phải tìm nhiều biện pháp nâng cao hiệu quả sử

dụng vốn, trả nợ vay đúng hạn cho ngân hàng. Vì thế tín dụng cũng góp phần làm cho

nền kinh tế của mọi quốc gia phát triển ngày càng cao và hiệu quả.

- Tín dụng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông xã hội. Thông qua tổ chức trung

gian tài chính như ngân hàng, các doanh nghiệp, cá nhân trong nền kinh tế dễ dàng

thực hiện được mục đích cho vay hoặc đi vay của mình mà không tốn thời gian, tiền

của như trước. Người thừa vốn đến ngân hàng để tiết kiệm, người thiếu vốn đến ngân

hàng để xin vay tiền, tất cả các mục đích của họ gặp nhau tại Ngân hàng, điều này góp

phần tăng hiệu quả trong quan hệ vay mượn.

Như vậy, tín dụng Ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng không chỉ đối với

Ngân hàng mà còn với cả nền kinh tế. Tuy nhiên để tín dụng Ngân hàng phát huy được

hết vai trò của nó đòi hỏi các nhà quản lý Ngân hàng cũng như các cơ quan chức năng

phải tạo ra một hành lang pháp lý cũng như các quy định chặt chẽ, tạo điều kiện cho cả

người vay và người cho vay.

1.1.3. Phân loại hình thức tín dụng của Ngân hàng thương mại

1.1.3.1. Phân loại theo thời hạn tín dụng

Theo cách phân loại này, tín dụng tại NHTM được phân làm ba loại:

- Tín dụng ngắn hạn: là khoản tín dụng dưới 1 năm và được sử dụng để bổ

sung sự thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của doanh nghiệp, nó có thể được vay cho

những sinh hoạt cá nhân. Ngân hàng có thể áp dụng cho vay trực tiếp hoặc gián tiếp,



Chuyên đề tốt nghiệp



12



Nguyễn Thị Minh Hạnh – CQ500795



GVHD: Th.S Trần Minh Tuấn



cho vay theo món hoặc theo hạn mức, có hoặc không có đảm bảo, dưới hình thức chiết

khấu, thấu chi hoặc luân chuyển.

- Tín dụng trung hạn: là khoản tín dụng có thời hạn từ 1-3 năm, loại tín dụng

này thường được dùng để cung cấp, mua sắm tài sản cố định, cải tiến và biến đổi kỹ

thuật, mở rộng và xây dựng công trình nhỏ có thời hạn thu hồi vốn nhanh.

- Tín dụng dài hạn: là khoản tín dụng có thời gian từ 3 năm trở lên. Loại tín

dụng này dùng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản như: đầu tư xây dựng các xí

nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy

mô lớn.

1.1.3.2. Phân loại theo hình thức tài trợ

Có 3 hình thức tài trợ như sau:

-



Chiết khấu thương phiếu:

Thương phiếu được hình thành chủ yếu từ quá trình mua bán chịu hàng hóa và



dịch vụ giữa khách hàng với nhau.

(1) Người bán chuyển hàng hóa, dịch vụ cho người mua

(2) Thương phiếu được lập, người mua ký, cam kết trả tiền cho người thụ hưởng

khi thương phiếu đến hạn

(3) Trong thời hạn có hiệu lực của thương phiếu, người bán có thể mang thương

phiếu đến ngân hàng để chiết khấu

(4) Sau khi kiểm tra độ an toàn của thương phiếu, ngân hàng có thể phát tiền cho

người bán và nắm giữ thương phiếu

(5) Đến hạn, ngân hàng đòi tiền từ: người mua, nếu là chiết khấu toàn bộ thời gian

còn lại, hoặc người bán nếu là chiết khấu có thời hạn

Nghiệp vụ chiết khấu được coi là đơn giản, dựa trên sự tín nhiệm. Khi cần chiết

khấu, khách hàng gửi thương phiếu lên ngân hàng đề nghị chiết khấu, sau khi hợp

đồng chiết khấu giữa hai ban được ký kết, ngân hàng kiểm tra chất lượng của thương

Chuyên đề tốt nghiệp



13



Nguyễn Thị Minh Hạnh – CQ500795



GVHD: Th.S Trần Minh Tuấn



phiếu và thực hiện chiết khấu. Ngoài ra, ngân hàng còn nhận chiết khấu các giấy nợ

khác như tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu, trái phiếu, công trái...

-



Cho vay:

Thấu chi: ngân hàng cho phép người vay được chi trội trên số dư tiền gửi thanh



toán đến một giới hạn nhất định (hạn mức thấu chi), trong một khoảng thời gian xác

định. Đây là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn là

không có đảm bảo, có thể cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân, tạo điều kiện thuận lợi

cho khách hàng trong quá trình thanh toán. Loại hình cho vay này chỉ sử dụng đối với

các khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn.

Cho vay trực tiếp từng lần: là hình thức vay phổ biến đối với khách hàng không

có nhu cầu vay thường xuyên, vốn của ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn

của chu kỳ sản xuất kinh doanh.

Cho vay theo hạn mức: ngân hàng cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng, là số

dư nợ tối đa tại bất kỳ thời điểm nào trong khoảng thời gian xác định. Hạn mức tín

dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vay vốn của khách

hàng, áp dụng đối với cho vay ngắn hạn để dự trữ hàng hóa, nguyên vật liêyj không có

tính thời vụ.

Cho vay luận chuyển: là hình thức cho vay dựa trên sự luân chuyển của hàng

hóa. Doanh nghiệp thiếu vốn khi mua hàng có thể vay và sẽ trả nợ khi bán hàng.

Cho vay trả góp: ngân hàng cho phép khách hàng trả gốc làm nhiều lần trong

thời hạn tín dụng đã thỏa thuận, áp dụng với cho vay tiêu dùng trong thời gian trung và

dài hạn. Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp với khả năng trả nợ của

khách hàng. Hình thức này thường có mức rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp

bằng hàng hóa mua trả góp.



Chuyên đề tốt nghiệp



14



Nguyễn Thị Minh Hạnh – CQ500795



GVHD: Th.S Trần Minh Tuấn



Cho vay gián tiếp: là hình thức cho vay thông qua tổ chức trung gian như nhà

cung cấp, nhóm sản xuất, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến bình, Hội Phụ nữ..., áp dụng

với thị trường có nhiều món vay nhỏ, người vay phân tán, xa ngân hàng, có thể tiết

kiệm chi phí cho vay.

Cho vay hợp vốn: Khoản vay hợp vốn là một khoản vay được cấp cho người

vay bởi một nhóm các ngân hàng. Khoản vay này thường được thực hiện bởi ngân

hàng có uy tín nhất trong tổ hợp ngân hàng đồng tài trợ.

-



Bảo lãnh:

Bảo lãnh của ngân hàng là cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảo lãnh



về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực

hiện đúng nghĩa vụ như cam kết.

Các loại bảo lãnh phân theo mục tiêu: Bảo lãnh đảm bảo tham gia dự thầu (là

cam kết của ngân hàng với chủ đầu tư về việc trả tiền phạt thay cho bên dự thầu nếu

bên dự thầu vi phạm các quy định trong hợp đồng dự thầu); Bảo lãnh thực hiện hợp

đồng (là cam kết về việc chi trả tổn thất thay cho khách hàng nếu khách hàng không

thực hiện đầy đủ hợp đồng như cam kết); Bảo lãnh đảm bảo thanh toán (là cam kết của

ngân hàng về việc sẽ thanh toán tiền theo đúng hợp đồng cho người thụ hưởng nếu

khách hàng không thanh toán đủ); Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả tiền ứng trước (là cam

kết của ngân hàng về việc sẽ hoàn trả tiền ứng trước cho bên mua nếu bên cung cấp

không trả); Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả vốn vay (là cam kết của ngân hàng đối với

người cho vay về việc sẽ trả gốc và lãi đúng hạn nếu khách hàng không trả được)

Bản chất bảo lành là hình thức tài trợ của ngân hàng thông qua uy tín. Bảo lãnh

ngân hàng tạo mối liên kết trách nhiệm tài chính, san se rủi ro và ngân hàng có khả

năng ràng buộc khách hàng phải thực hiện các cam kết, như vậy bảo lãnh góp phần

giảm bớt thiệt hại tài chính cho bên thứ ba khi tổn thất xảy ra và góp phần mở rộng các

dịch vụ khác như kinh doanh ngoại tệ, tư vấn, thanh toán...

Chuyên đề tốt nghiệp



15



Nguyễn Thị Minh Hạnh – CQ500795



GVHD: Th.S Trần Minh Tuấn



1.1.3.3. Phân loại theo căn cứ đảm bảo

- Cho vay không bảo đảm: là hình thức cho vay không cần tài sản thế chấp,

cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba. Việc cho vay chỉ dựa trên uy tín. Đối với

những khách hàng tốt, trung thưc, uy tín trong kinh doanh, có khả năng tài chính

mạnh, quản trị có hiệu quả thì ngân hàng có thể cấp tín dụng mà không đòi hỏi nguồn

thu nợ bổ sung.

- Cho vay có bảo đảm: là hình thức cho vay được ngân hàng cung cấp với điều

kiện phải có tài sản thế chấp hoặc cần có bảo lãnh của bên thứ ba. Đối với khách hàng

không có uy tín cao, khi vay vốn ngân hàng đòi hỏi phải có đảm bảo. Sự đảm bảo này

là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguốn thứ hai, bổ sung cho nguồn nợ thứ

nhất thiếu chắc chắn nhằm bù lại khoản tiền vay trong trường hợp người vay không có

khả năng trả nợ.

1.2. Chất lượng tín dụng của Ngân hàng thương mại

1.2.1. Khái niệm

Chất lượng tín dụng là sự đáp ứng yêu cầu của khách hàng phù hợp với sự phát

triển kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát triển của Ngân hàng. Chất lượng tín

dụng được hình thành và bảo đảm từ hai phía là Ngân hàng và khách hàng. Bởi vậy,

chất lượng hoạt động của Ngân hàng không những phụ thuộc vào bản thân của Ngân

hàng mà còn phụ thuộc vào chất lượng hoạt động của doanh nghiệp cũng như các biến

động trong nền kinh tế. Chất lượng tín dụng được thể hiện qua các khía cạnh sau:

- Đối với khách hàng: Tín dụng phát ra phải phù hợp với mục đích sử dụng của

khách hàng với lãi suất kỳ hạn nợ hợp lý, thủ tục đơn giản, thu hút được nhiều khách

hàng nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc trong hoạt động tín dụng.

- Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thông

hàng hóa, góp phần giải quyết việc làm trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và



Chuyên đề tốt nghiệp



16



Nguyễn Thị Minh Hạnh – CQ500795



GVHD: Th.S Trần Minh Tuấn



tập trung sản xuất, giải quyết tốt các quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng với tăng trưởng

kinh tế.

- Đối với Ngân hàng thương mại: Phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù

hợp với thực lực của bản thân Ngân hàng và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị

trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi.

Như vây, chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa mang tính định lượng (thể

hiện qua các chỉ tiêu tính toán được), vừa mang tính chất định tính (thể hiện qua khả

năng thu hút khách hàng, tác động đến nền kinh tế).

Chất lượng tín dụng cũng được xác định qua nhiều yếu tố: thu hút được nhiều

khách hàng tiềm năng, thủ tục đơn giản, thuận tiện, mức độ an toàn vốn tín dụng, chi

phí về tổng thể lãi suất, chi phí nghiệp vụ. Để có chất lượng tín dụng tốt cần có sự tổ

chức và quản lý đồng bộ trong một Ngân hàng, vì điều đó không chỉ đảm bảo cho chất

lượng tín dụng, mà còn nhằm cải tiến tính hiệu quả, linh hoạt của toàn bộ cơ sở kinh

doanh nhằm thỏa mãn đầy đủ nhu cầu khách hàng.

Như vây, chất lượng tín dụng là một phạm trù rộng lớn. Để có được chất lượng

tín dụng cao thì hoạt động tín dụng phải có hiệu quả và quan hệ tín dụng phải được

thiết lập trên cơ sở tin cậy và uy tín trong hoạt động của Ngân hàng.

1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng

• Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ (%)



- Chỉ tiêu này dùng để so sánh sự tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các năm, qua

đó đánh giá khả năng cho vay, tìm kiếm khách hàng và tình hình thực hiện kế hoạch

tín dụng của ngân hàng.



Chuyên đề tốt nghiệp



17



Nguyễn Thị Minh Hạnh – CQ500795



GVHD: Th.S Trần Minh Tuấn



- Chỉ tiêu càng cao thì mức độ hoạt động của ngân hàng càng ổn định và có hiệu

quả, ngược lại là ngân hàng đang gặp khó khăn, nhất là trong việc tìm kiếm khách

hàng và thể hiện việc thực hiện kế hoạch tín dụng chưa hiệu quả.

• Tỷ lệ tăng trưởng doanh số cho vay (DSCV) (%)



- Chỉ tiêu này dùng để so sánh sự tăng trưởng tín dụng qua các năm nhằm đánh

khả năng cho vay, tìm kiếm khách hàng và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tín

dụng của ngân hàng.

• Tỷ lệ thu lãi (%)



- Chỉ tiêu này dùng để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tài chính của ngân

hàng, đánh giá khả năng đôn đốc, thu hồi lãi và tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu

của ngân hàng từ việc cho vay

- Chỉ tiêu càng cao thể hiện tình hình thực hiện kế hoạch tài chính cũng như tình

hình tài chính của ngân hàng càng tốt, ngược lại ngân hàng đang gặp khó khăn trong

việc thu lãi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến doanh thu của ngân hàng, chỉ tiêu này cũng

thể hiện tình hình bất ổn trong cho vay của ngân hàng, có thể nợ xấu trong ngân hàng

tăng cao nên ảnh hưởng đến khả năng thu hồi lãi của ngân hàng, và có thể ảnh hưởng

đến khả năng thu hồi nợ trong tương lai.

• Tỷ lệ Dư nợ/Tổng nguồn vốn ( % )

- Dựa vào chỉ tiêu này, so sánh qua các năm để đánh giá mức độ tập trung vốn

tín dụng của ngân hàng.



Chuyên đề tốt nghiệp



18



Nguyễn Thị Minh Hạnh – CQ500795



GVHD: Th.S Trần Minh Tuấn



- Chỉ tiêu càng cao thì mức độ hoạt động của ngân hàng, đánh giá khả năng sử

dụng vốn để cho vay của ngân hàng, chỉ tiêu càng cao thì khả năng sử dụng vốn càng

cao, ngược lại càng thấp thì ngân hàng đang bị trị trệ vốn, sử dụng vốn bị lãng phí, có

thể gây ảnh hưởng đến doanh thu cũng như tỷ lệ thu lãi của ngân hàng.

• Tỷ lệ Dư nợ/Vốn huy động ( % )

- Chỉ tiêu này phản ánh ngân hàng cho vay được bao nhiêu so với nguồn vốn

huy động, nó còn nói lên hiệu quả sử dụng vốn huy động của ngân hàng, thể hiện ngân

hàng đã chủ động trong việc tích cực tạo lợi nhuận từ nguồn vốn huy đông hay chưa.

- Chỉ tiêu này lớn thể hiện khả năng tranh thủ vốn huy động, nếu chỉ tiêu này

lớn hơn 1 thì ngân hàng chưa thực hiện tốt việc huy động vốn, vốn huy động tham gia

vào cho vay ít, khả năng huy động vốn của ngân hàng chưa tốt, nếu chỉ tiêu này nhỏ

hơn 1 thì ngân hàng chưa sử dụng hiệu quả toàn bộ nguồn vốn huy động, gây lãng phí.

• Hệ số thu nợ ( % )



- Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả tín dụng trong việc thu nợ của NH.

- Nó phản ánh trong 1 thời kỳ nào đó, với doanh số cho vay nhất định thì ngân

hàng sẽ thu về được bao nhiêu đồng vốn.

- Tỷ lệ này càng cao càng tốt.

• Tỷ lệ thu nợ đến hạn (%)



- Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả tín dụng trong việc thu nợ của NH.



Chuyên đề tốt nghiệp



19



Nguyễn Thị Minh Hạnh – CQ500795



GVHD: Th.S Trần Minh Tuấn



- Nó đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng, đánh giá khả năng thu hồi nợ

của các khoản tín dụng đã cho vay, đồng thời đánh giá hiệu quả thực hiện kế hoạch tín

dụng của ngân hàng, kế hoạch cho vay, đôn đốc thu hồi nợ của ngân hàng.

- Tỷ lệ này càng cao càng tốt

• Tỷ lệ nợ quá hạn (%)



- Chỉ tiêu này cho thấy tình hình nợ quá hạn tại ngân hàng, đồng thời phản ánh

khả năng quản lý tín dụng của ngân hàng trong khâu cho vay, đôn đốc thu hồi nợ của

ngân hàng đối với các khoản vay.

- Đây là chỉ tiêu được dùng để đánh giá chất lượng tín dụng cũng như rủi ro tín

dụng tại ngân hàng

- Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng càng

kém, và ngược lại.

• Tỷ lệ nợ xấu (%)



- Bên cạnh chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn, người ta còn dùng chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu để

phân tích thực chất tình hình chất lượng tín dụng tại ngân hàng. Tổng nợ xấu của ngân

hàng bao gồm nợ quá hạn, nợ khoanh, nợ quá hạn chuyển về nợ trong hạn, chính vì

vậy chỉ tiêu này cho thấy thực chất tình hình chất lượng tín dụng tại ngân hàng, đồng

thời phản ánh khả năng quản lý tín dụng của ngân hàng trong khâu cho vay, đôn đốc

thu hồi nợ của ngân hàng đối với các khoản vay.

- Tỷ lệ nợ xấu càng cao thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng càng kém ,

và ngược lại.

Chuyên đề tốt nghiệp



20



Nguyễn Thị Minh Hạnh – CQ500795



GVHD: Th.S Trần Minh Tuấn



• Vòng quay vốn Tín dụng (vòng)



Trong đó:



- Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của ngân hàng, thời

gian thu hồi nợ của ngân hàng là nhanh hay chậm. Vòng quay vốn càng nhanh thì được

coi là tốt và việc đầu tư càng được an toàn.

1.2.3. Các nguyên nhân tác động đến chất lượng tín dụng tại ngân hàng thương

mại

1.2.3.1. Nguyên nhân xuất phát từ nền kinh tế, môi trường pháp lý

- Nguyên nhân từ nền kinh tế:

Hoạt động tín dụng là hoạt động chính và mang lại nhiều lợi nhuận nhất cho

ngân hàng, vì vậy chất lượng hoạt động tín dụng có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự

tồn tại và phát triển của các ngân hàng thương mại và của nền kinh tế - xã hội. Để quản

lý chất lượng tín dụng, đòi hỏi phải hiểu rõ tác động của các nhân tố khách quan đặc

biệt là sự tác động từ nền kinh tế.

Điều kiện kinh tế của khu vực mà Ngân hàng phục vụ ảnh hưởng lớn tới chất

lượng tín dụng. Một nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuân lợi cho các khoản tín

dụng có chất lượng cao, còn nền kinh tế không ổn định thì các yếu tố lạm phát, khủng

hoảng sẽ làm cho khả năng tín dụng và khả năng trả nợ vay biến động lớn làm ảnh

hưởng đến việc thu nợ khi cho vay của Ngân hàng.

Giới hạn của mở rộng quy mô tín dụng có ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.

Nếu mở rộng tín dụng quá giới hạn cho phép sẽ làm cho giá cả tăng quá mức, xảy ra

lạm phát tốc độ cao, các NHTM sẽ chịu thiệt hại lớn do đồng nội tệ mất giá, chất lượng

tín dụng bị ảnh hưởng. Ngoài ra, chính sách kinh tế của Nhà nước điều tiết để ưu tiên

Chuyên đề tốt nghiệp



21



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (76 trang)

×