1. Trang chủ >
  2. Tài Chính - Ngân Hàng >
  3. Ngân hàng - Tín dụng >

Biểu đồ 2.7: Doanh thu từ hoạt động tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (622.78 KB, 76 trang )


Nguyễn Thị Minh Hạnh – CQ500795



GVHD: Th.S Trần Minh Tuấn



(Nguồn: Báo cáo thường niên chi nhánh SHB Hải Phòng)

Thu nhập từ hoạt động tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh SHB

Hải Phòng đạt hơn 80 tỷ năm 2011, tăng 13,5 tỷ so với cùng kỳ năm trước, tương ứng

tăng 20% đạt 100% chi tiêu đề ra. Sự cải thiện trong doanh số cho vay đối với doanh

nghiệp vừa và nhỏ là nguyên nhân của sự tăng lên về thu nhập từ hoạt động này qua

các năm. Điều này chứng tỏ, chi nhánh ngân hàng đã đặc biệt chú ý trong việc hỗ trợ

sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố và các tỉnh lân

cận. Hơn thế nữa, đồ thị trên cho thấy thu nhập từ hoạt động tín dụng đối với doanh

nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ lệ khá cao trên tổng thu nhập từ hoạt động tín dụng. Do

đó, công tác nâng cao chất lượng tín dụng đối với loại hình doanh nghiệp này đóng vai

trò quan trọng trong chiến lược kinh doanh năm 2012 của Ngân hàng Sài Gòn – Hà

Nội nói chung và Chi nhánh Hải Phòng nói riêng.

2.3. Phân tích chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh

SHB Hải Phòng

2.3.1. Nhóm chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời

• Tốc độ tăng trưởng doanh thu từ hoạt động tín dụng DNV&N

Chuyên đề tốt nghiệp



50



Nguyễn Thị Minh Hạnh – CQ500795



GVHD: Th.S Trần Minh Tuấn



Bảng 2.8: Tình hình doanh thu từ hoạt động tín dụng DNV&N

(Đơn vị: tỷ đồng)

Năm

Doanh thu từ hoạt động TD



2009



2010



2011



63,518



167,929



173,560



DNV&N

Tổng doanh thu từ hoạt động



84,691



175,430



211,658



-



164,38%



3,35%



tín dụng

Tốc độ tăng trưởng doanh thu

từ hoạt động TD DNV&N



(Nguồn: Báo cáo thường niên chi nhánh SHB Hải Phòng)

Năm 2009 Chi nhánh mới bắt đầu hoạt động nên doanh số cho vay còn khá

khiêm tốn, dẫn dến thu nhập của hoạt động này chỉ đạt mức hơn 63 tỷ. Với sự nỗ lực

đáng kể của Chi nhánh và điều kiện kinh tế năm 2010, doanh thu từ hoạt động này

tăng lên tới 164,4% so với năm 2009. Con số này đi vào ổn định trong năm 2011, với

mức tăng khá thấp, chưa đến 4%.

Số liệu bảng trên cho thấy mức độ tăng trưởng tín dụng, khả năng cho vay và

khả năng tìm kiếm khách hàng của Chi nhánh là cao và ổn định. Tuy năm 2011, doanh

thu chưa đạt được mức kế hoạch đề ra đầu năm nhưng nhìn chung, tình hình thực hiện

kế hoạch tín dụng tại Chi nhánh đạt hiệu quả so với các Chi nhánh khác trong hệ thống

Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội.

• Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng DNV&N

Kết quả của hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh

SHB Hải Phòng trong giai đoạn 2009 – 2011 được biểu diễn trong bảng dưới đây:

Bảng 2.9: Tình hình lợi nhuận từ hoạt động tín dụng DNV&N

(Đơn vị: tỷ đồng)

Năm

Doanh thu từ hoạt động TD

Chuyên đề tốt nghiệp



2009

63,518



2010

167,929



2011

173,560



51



Nguyễn Thị Minh Hạnh – CQ500795

DNV&N

Chi phí từ hoạt động TD



GVHD: Th.S Trần Minh Tuấn



62,582



DNV&N

Lợi nhuận từ hoạt động TD

DNV&N

Tổng lợi nhuận từ hoạt động

kinh doanh

Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận

từ hoạt động TD DNV&N



164,324



167,232



0,936



3,605



6,328



1,711



6,169



10,803



-



285,15%



75,53%



(Nguồn: Báo cáo thường niên chi nhánh SHB Hải Phòng)

Cùng xu hướng với tốc độ tăng trưởng doanh thu, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận

cũng tăng khá cao trong năm 2010 với mức tăng là 285,15%. Nguyên nhân là do năm

2009, tổng mức lợi nhuận mà Chi nhánh đạt được ở mức thấp chỉ khoảng gần 2 tỷ, lợi

nhuận từ hoạt động tín dụng DNV&N đạt 0,936 tỷ, cho thấy chi phí ban đầu xây dựng

Chi nhánh là rất lớn. Bên cạnh đó, chi phí dành riêng cho hoạt động này năm 2010

chiếm 98% doanh thu. Sang năm 2011, tuy tốc độ tăng trưởng lợi ở mức 75,53% so

với năm 2010, nhưng chi phí vẫn chiếm một tỷ trọng khá cao so với doanh thu, cụ thể

là 96,3%. Tỷ lệ này cho thấy, mặc dù đã giảm nhưng 2 năm liền lên tới hơn 95%, cho

thấy rằng hoạt động này của Chi nhánh tuy được mở rộng nhưng kết quả kinh doanh

chưa hiệu quả, doanh thu nhiều nhưng lợi nhuận tương đối ít so với tiềm năng cho vay

trong giai đoạn 3 năm vừa qua.

2.3.2. Nhóm chỉ tiêu đánh giá sự tăng trưởng tín dụng DNV&N

• Tốc độ tăng trưởng dư nợ

Tốc độ tăng trưởng dư nợ năm 2010 đạt mức cao, lên đến hơn 60% so với năm

2009, cho thấy năm 2010, khả năng cho vay và việc thực hiện kế hoạch tín dụng đối

với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ của Chi nhánh đạt hiệu quả. Tuy nhiên, sang

năm 2011, dư nợ tín dụng giảm 20% so với năm 2010, cho thấy Ngân hàng đang thực

hiện kế hoạch điều chỉnh mức độ cho vay trong giai đoạn kinh tế khó khăn, giảm rủi ro

tín dụng, chủ yếu cho vay ngắn hạn, giảm cho vay trung và dài hạn.

Chuyên đề tốt nghiệp



52



Nguyễn Thị Minh Hạnh – CQ500795



GVHD: Th.S Trần Minh Tuấn



Biểu đồ 2.8: Tốc độ tăng trưởng dư nợ DNV&N tại Chi nhánh

(Đơn vị: %)



(Nguồn: Báo cáo thường niên chi nhánh SHB Hải Phòng)

Nhìn chung, qua chỉ tiêu này, ta có thể thấy rằng mức độ hoạt động của Ngân

hàng là khá ổn định và hiệu quả, kiểm soát được các biến động của nền kinh tế vĩ mô

để đưa là những giải pháp an toàn trong hoạt động tín dụng.

• Tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay DNV&N

Bảng 2.10: Tốc độ tăng trưởng doanh số cho vay DNV&N

Năm



2009



2010



2011



Doanh số cho vay DNV&N



425,033 tỷ



937,912 tỷ



1.131,974 tỷ



-



120,67%



20,69%



Tốc độ tăng trưởng doanh

số cho vay DNV&N



(Nguồn: Báo cáo thường niên chi nhánh SHB Hải Phòng)

Về giá trị tuyệt đối, doanh số cho vay DNV&N qua 3 năm tăng dần, đặc biệt

năm 2010, tốc độ tăng trưởng lên tới hơn 100% đạt vượt mức kế hoạch đề ra. Sang



Chuyên đề tốt nghiệp



53



Nguyễn Thị Minh Hạnh – CQ500795



GVHD: Th.S Trần Minh Tuấn



năm 2011, tuy doanh số cho vay chỉ tăng lên 20,69% so với năm 2010 nhưng vẫn

được đánh giá là hiệu quả trong giai đoạn này.

Tóm lại, tuy được xây dựng vào đúng thời điểm khủng hoảng kinh tế, các doanh

nghiệp kinh doanh khó khăn, rủi ro thị trường và phi thị trường khá cao nhưng Chi

nhánh vẫn đạt được những con số ổn định và hiệu quả trong hoạt động tín dụng doanh

nghiệp vừa và nhỏ, góp phần không nhỏ vào sự phát triển của thành phố.

2.3.3. Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động tín dụng DN V&N

• Hệ số thu nợ



Bảng 2.11: Hệ số thu nợ



Năm



2009



2010



2011



Doanh số thu nợ



258,66 tỷ



692,17 tỷ



779,41 tỷ



Doanh số cho vay



425,033 tỷ



937,912 tỷ



1.131,974 tỷ



Hệ số thu nợ ( % )



60,86%



73,8%



68,85%



(Nguồn: Báo cáo thường niên chi nhánh SHB Hải Phòng)

Đây là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng trong việc thu nợ của ngân hàng. Chỉ

số này của Chi nhánh trong 3 năm hoạt động đều đạt trên 60%, riêng năm 2010 lên đến

73,8%, cho thấy số vốn thu về trong hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và

nhỏ đạt khá cao so với tổng doanh số cho vay. Năm 2010, hệ số này tăng lên gần 15%

so với năm 2009, tuy nhiên lại giảm gần 5% trong năm 2011. Điều này cho ta thấy

rằng ngân hàng đã có những nỗ lực đáng kể nhằm thu nợ khách hàng đúng hạn trong

giai đoạn tình hình kinh tế khó khăn như năm 2011, nhưng có thể thấy rằng Chi nhánh

cần phải cố gắng hơn nữa trong việc nâng cao hệ số này trong tương lai.

• Vòng quay vốn tín dụng đối với DNV&N

Bảng 2.12: Vòng quay vốn tín dụng đối với DNV&N



Chuyên đề tốt nghiệp



54



Nguyễn Thị Minh Hạnh – CQ500795

Năm

Doanh số thu nợ

Dư nợ bình quân

Vòng quay vốn tín dụng



GVHD: Th.S Trần Minh Tuấn



2009

2010

2011

258,66 tỷ

692,17 tỷ

779,41 tỷ

64,784 tỷ

104,007 tỷ

146,608 tỷ

4 vòng

6,66 vòng

5,31 vòng

(Nguồn: Báo cáo thường niên chi nhánh SHB Hải Phòng)



Chỉ số vòng quay vốn tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ được biểu diễn

ở bảng trên cho thấy tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của ngân hàng trong 3 năm qua

của Chi nhánh là khá nhanh, tăng từ 4 vòng năm 2009 lên 5,31 vòng năm 2011. Tuy

nhiên, con số này đạt mức cao nhất vào năm 2010. Đây là năm được đánh giá hiệu quả

cả về sự tăng trưởng tín dụng, khả năng sinh lời và hiệu quả hoạt động tín dụng.

Nhìn chung, vòng quay vốn nhanh trong các năm qua được coi là khá tốt và

việc đầu tư cho các doanh nghiệp loại hình này tại Chi nhánh SHB Hải Phòng được

đánh giá ở mức an toàn.



• Tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu

Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu cho thấy một cách khái quát tình hình

nợ quá hạn và nợ xấu (nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5) đối với tín dụng cho doanh nghiệp

vừa và nhỏ tại ngân hàng, đồng thời phản ánh khả năng quản lý tín dụng của ngân

hàng trong khâu cho vay, đôn đốc thu hồi nợ của ngân hàng đối với các khoản vay.

Tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh

SHB Hải Phòng diễn biến qua biểu đồ sau:

Biểu đồ 2.9: Tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn đối với tín dụng DNV&N

(Đơn vị: %)



Chuyên đề tốt nghiệp



55



Nguyễn Thị Minh Hạnh – CQ500795



GVHD: Th.S Trần Minh Tuấn



(Nguồn: Báo cáo thường niên của SHB Hải Phòng)

Các tỷ lệ này được duy trì khá thấp thể hiện chất lượng tín dụng của chi nhánh

khá ổn định và đạt mức cao. Bên cạnh đó, đây cũng là chỉ tiêu được dùng để đo lường

rủi ro tín dụng của ngân hàng, mức nợ xấu càng cao so với tổng dư nợ thì rủi ro ngân

hàng gặp phải càng cao. Vì vậy ngân hàng đặc biệt chú ý đến tỷ lệ này và luôn cần

phải đưa ra các biện pháp khắc phục và đối phó kịp thời nhất. Tuy nợ nhóm 5 (nợ có

khả năng mất vốn) của ngân hàng trong 3 năm luôn duy trì ở mức không nhưng nợ

nhóm 2 (nợ cần chú ý) và nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) tăng nhanh chóng cùng với tốc

độ tăng của doanh số cho vay. Mặt khác, 2 tỷ lệ này năm 2010 tăng đột biến so với

2009, cụ thể tỷ lệ nợ quá hạn tăng từ 0,375% lên 2,045%, tỷ lệ nợ xấu tăng từ 0,108%

lên 0,497%. Sang năm 2011, tỷ lệ này giảm ở mức không đáng kể.

Bên cạnh sự tăng dần trong tổng dư nợ và doanh thu từ hoạt động tín dụng

doanh nghiệp vừa và nhỏ, tỷ lệ nợ xấu và nợ quá hạn đối với các khoản vay này giảm

qua các năm, cho thấy, Chi nhánh đã phần nào khắc phục được tình trạng nợ quá hạn

và nợ xấu tăng cao trong năm 2010 nhưng vẫn chưa đạt hiệu quả cao.



Chuyên đề tốt nghiệp



56



Nguyễn Thị Minh Hạnh – CQ500795



GVHD: Th.S Trần Minh Tuấn



2.4. Đánh giá chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Chi nhánh

2.4.1. Những kết quả đạt được

Ngay từ khi thành lập, Chi nhánh SHB Hải Phòng đã xác định thị trường mục

tiêu của mình là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, điều này đã thể hiện một tầm nhìn chiến

lược bởi vì đây là nhóm khách hàng đang chứa đựng những tiềm năng to lớn, vừa phù

hợp với tiềm lực của ngân hàng vừa giúp ngân hàng không ngừng tăng nhanh uy tín,

thị phần và hiệu quả hoạt động kinh doanh.

Với chiến lược khách hàng như vậy, chi nhánh đã có những chính sách thu hút

đối tượng khách hàng này một cách hợp lý. Những kết quả đạt được của Chi nhánh

SHB Hải Phòng trong thời gian qua có ý nghĩa rất lớn không chỉ đối với các doanh

nghiệp vừa và nhỏ mà còn với chính bản thân ngân hàng.

Qua phân tích thực trạng hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và

nhỏ của Chi nhánh như trên, có thể thấy những kết quả nổi bật đã đạt được của Chi

nhánh trong thời gian qua như sau:

Thứ nhất: Nguồn vốn tín dụng ngắn hạn của SHB Hải Phòng đã kịp thời đáp

ứng nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố. Nhiều doanh

nghiệp nhờ nguồn vốn này đã nhanh chóng mua được nguyên vật liệu sản xuất, kịp

thời đưa ra những sản phẩm phù hợp với thị hiếu và thời vụ tiêu thụ như các doanh

nghiệp chế biến nông sản, công ty sản xuất bánh kẹo, thực phẩm. Nguồn vốn tín dụng

trung và dài hạn của ngân hàng cũng là nguồn vốn bổ sung cho sự thiếu hụt vốn dài

hạn của hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp các doanh nghiệp đầu tư tài sản cố dịnh

như máy móc thiết bị, dây truyền sản xuất.

Thứ hai: Thông qua nguồn vốn của ngân hàng, trình độ kỹ thuật công nghệ của

nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ được nâng cao, tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt, hiện

đại đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.



Chuyên đề tốt nghiệp



57



Nguyễn Thị Minh Hạnh – CQ500795



GVHD: Th.S Trần Minh Tuấn



Thứ ba: Doanh số cho vay đối với loại hình doanh nghiệp này liên tục tăng từ

năm 2009 đến 2011, điều này chứng tỏ hiệu quả của việc đầu tư vốn của ngân hàng đã

tăng lên nhanh chóng. Nhờ vậy, nhiều doanh nghiệp đã nắm bắt cơ hội kinh doanh kịp

thời, thâm nhập được thị trường mới trong và ngoài nước, mở rộng thị phần, giúp tăng

lợi nhuận, không những đủ trả nợ cho ngân hàng mà còn tạo ra lượng tích lũy cho bản

thân doanh nghiệp. Từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao uy tín, tạo mối

quan hệ khăng khít với ngân hàng.

Thứ tư: Thông qua dịch vụ tư vấn của ngân hàng, doanh nghiệp đã xây dụng

được các phương án sản xuất hiệu quả, trình độ tổ chức quản lý của các chủ doanh

nghiệp được nâng cao, các báo cáo tài chính của doanh nghiệp trở nên rõ ràng và minh

bạch hơn.

Thứ năm: Vốn tín dụng của SHB Hải Phòng đã tạo điều kiện thuận lợi giúp các

doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố sản xuất kinh doanh có hiệu quả, có

thu nhập thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước, tạo việc làm cho người lao

động, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, hạn chế những tiêu cực của xã hội.

Tình hình hoạt động kinh doanh của Chi nhánh SHB Hải Phòng nói chung và

tình hình tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng đều có nhiều triển vọng

tốt đẹp. Trong thời kỳ nhu cầu về tín dụng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất lớn thì

Chi nhánh đã hoàn thành tương đối tốt với vai trò trung gian tài chính của mình, làm

thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng. Song cũng không phải không có những tồn tại

cần phải giải quyết để có thể đạt được những thành tựu lớn hơn trong các năm tiếp

theo.

2.4.2. Những hạn chế tồn tại và nguyên nhân

2.4.2.1. Những hạn chế tồn tại

Do tình hình kinh tế có nhiều biến động ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của

ngành ngân hàng, chính sách điều hành của Nhà nước cũng có nhiều thay đổi nằm

Chuyên đề tốt nghiệp



58



Nguyễn Thị Minh Hạnh – CQ500795



GVHD: Th.S Trần Minh Tuấn



ngoài dự báo vì vậy hoạt động tín dụng của Chi nhánh SHB Hải Phòng có mức tăng

trưởng khá cao tuy nhiên chưa tương xứng với quy mô và tiềm năng.

Thứ nhất, dư nợ đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ đạt khá nhưng thiếu ổn

định, tiềm ẩn nhiều rủi ro, số lượng cho vay dự án còn khiêm tốn so với tiềm năng huy

động vốn. Nợ quá hạn trong năm sau có xu hướng cao hơn năm trước, tập trung chủ

yếu vào các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và nợ quá hạn ngắn hạn chiếm tỷ lệ lớn.

Nợ quá hạn của Chi nhánh không phải hoàn toàn nguyên nhân từ phía khách hàng mà

vẫn còn tồn tại nguyên nhân từ chính bản thân Chi nhánh.

Thứ hai, cơ cấu tín dụng chưa hợp lý, dư nợ cho vay trung, dài hạn đối với các

DNV&N dù đã được Chi nhánh nỗ lực đáp ứng và mở rộng loại hình cho loại hình tín

dụng nay nhưng vẫn còn chiếm tỷ trọng thấp. Từ đó, dẫn đến khó khăn cho DNV&N

trong việc đáp ứng nhu cầu vốn để mua sắm tài sản cố định, máy móc, trang thiết bị

phục vụ quá trình sản xuất. Các khoản cho vay trung, dài hạn nhiều khi không phải

DNV&N nào cũng có thể đáp ứng được.

Thứ ba, công tác thông tin tiếp thị đã có nhiều chuyển biến nhưng vẫn chưa đạt

được kết quả cao. Lượng khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã thu hút được

có tăng qua các năm nhưng chưa thực sự nhiều.

Thứ tư, các thủ tục cho vay vẫn còn rắc rối, phức tạp, quy trình xét duyệt cho

vay còn khá dài, mất nhiều thời gian, đôi khi làm lỡ mất cơ hội kinh doanh của DN.

Đặc biệt là các thủ tục liên quan đến tài sản đảm bảo đôi khi còn chưa linh hoạt.

2.4.2.2. Nguyên nhân

 Nguyên nhân khách quan

- Nền kinh tế hiện nay của nước ta đang gặp rất nhiều vấn đề dở dang, các chính sách

và cơ chế quản lý vĩ mô của Nhà nước đang trong quá trình hoàn thiện, điều chỉnh, đổi mới.

Hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng chưa thực sự độc lập, đôi khi còn chịu

những tác động của phương pháp quản lý bằng mệnh lệnh hành chính làm cho hoạt động tín

dụng kém hiệu quả.

Chuyên đề tốt nghiệp



59



Nguyễn Thị Minh Hạnh – CQ500795



GVHD: Th.S Trần Minh Tuấn



- Giai đoạn 2009-2011 là giai đoạn nhiều thử thách với với ngành ngân hàng do ảnh

hưởng cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 và cuộc khủng hoảng nợ công châu

ÂU 2010. Năm 2011 cũng là năm cạnh tranh quyết liệt trong hoạt động ngân hàng do

theo cam kết WTO sẽ thực hiện dỡ bỏ rào cản về huy động vốn bằng VNĐ đối với các

Ngân hàng nước ngoài. Ngân hàng đã phải đối mặt với các áp lực về huy động vốn và tăng

vốn điều lệ, biến động về lãi suất và tỷ giá.

- Biến động mạnh và phức tạp của thị trường vàng và USD cùng với tình hình lạm

tăng cao vào cuối năm đã ảnh hưởng tới đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

- Cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt và khốc liệt.

- Về phía các doanh nghiệp, một số doanh nghiệp sản xuất kém hiệu quả, khả năng tự

vay vốn bị hạn chế, khiến cho tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp khó

khăn trong cả khâu sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài

chính của doanh nghiệp và khả năng trả nợ đối với ngân hàng. Bên cạnh đó, rủi ro đạo đức

của các nhà quản lý doanh nghiệp cũng là một nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt

động tín dụng của ngân hàng.

 Nguyên nhân chủ quan

- SHB Hải Phòng thành lập cuối năm 2008, là một chi nhánh ngân hàng rất trẻ

nên mạng lưới hệ thống SHB trên địa bàn Hải Phòng trong 3 năm gần đây so với các

NHTM khác còn ít nên tính cạnh tranh chưa cao.

- Công tác dự báo trung dài hạn đặc biệt là nguồn vốn, ngoại tệ và lãi suất có

nhiều biến động nên hạn chế đến kết quả kinh doanh cũng như hạn chế tính chủ động

cho các đơn vị kinh doanh trong hệ thống SHB.

- Về trình độ cán bộ tín dụng: mặc dù chi nhánh luôn quan tâm tới việc đào tạo

đội ngủ cán bộ tín dụng, ngay trong việc tuyển lựa cán bộ tín dụng cũng đặt ra yêu cầu

trình độ đại học, hiểu biết về các ngành kinh tế khác. Tuy nhiên khi áp dụng công việc

vào thực tế đòi hỏi cán bộ phải năng động, nhạy bén trong phán đoán, có năng lực

quản lý, trình độ kiến thức khoa học và thực tiễn cuộc sống để xem xét một khoản vay

Chuyên đề tốt nghiệp



60



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (76 trang)

×