1. Trang chủ >
  2. Luận Văn - Báo Cáo >
  3. Công nghệ - Môi trường >

Vận dụng bảng hỏi trong nghiên cứu CVM:

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (201.36 KB, 36 trang )


thu nhập, việc sử dụng, hưởng thụ các giá trị dịch vụ, hàng hóa môi trường

liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Từ đó có thể xem xét những yếu tố như

môi trường sống, trình độ học vấn, mức thu nhập,… có ảnh hưởng như thế

nào tới các câu trả lời của họ.

Phần mô tả những đặc điểm môi trường có liên quan. Từ đó, đối



-



tượng điều tra có hình dung về những giá trị môi trường mà họ đánh giá, từ

đó đưa ra mức giá sẵn sàng chi trả phù hợp.

Phần câu hỏi được thiết kế để thu thập thông tin, phản hồi về giá sẵn



-



lòng trả của đối tượng điều tra.

Thông qua bảng hỏi, người nghiên cứu phải nhận được đánh giá của đối

tượng điều tra về đặc điểm môi trường đang nghiên cứu có giá trị như thế

nào đối với họ. Điều này được thể hiện qua giá mà đối tượng điều tra sẵn

lòng trả tối đa để được tiếp tục sử dụng tài sản môi trường này so với việc

mà họ không được sử dụng nữa. Con số mà đối tượng điều tra đưa ra chính

là giá trị lợi ích ròng của hàng hóa, dịch vụ môi trường đang cần đánh giá.

Đây chính là cách thức để lượng hóa được giá trị tài sản môi trường – yếu tố

vốn không có giá trị thị trường và không được trao đổi, mua bán. Có rất

nhiều cách để thu được những phản hồi này. Trên bảng hỏi, các mức giá có

thể được đưa ra trước và đề nghị đối tượng điều tra đánh dấu vào con số mà

họ cho là thích hợp và sẵn sàng trả cao nhất hoặc để họ hoàn toàn tự trả giá.

1.5



Các loại câu hỏi được sử dụng trong nghiên cứu CVM:



Cũng như các cuộc điều tra khác, các loại câu hỏi được sử dụng trong

nghiên cứu CVM cũng phân chia theo nhiều tiêu thức. Tùy thuộc vào mục

đích nghiên cứu, đặc điểm thông tin mà người nghiên cứu muốn thu thập mà

có thể sử dụng các loại câu hỏi cho phù hợp. Mỗi loại câu hỏi đều có tác

dụng, ưu điểm riêng, nên để đạt hiệu quả cao nhất khi thu thập thông tin,

người nghiên cứu nên sử dụng kết hợp linh hoạt, xen kẽ các loại câu hỏi

trong bảng hỏi, thậm chí cho cùng một thông tin cần thu thập. Bằng việc sử

8



8



dụng kết hợp các câu hỏi như vậy, người nghiên cứu có thể thu nhận được

những thông tin chính xác, phù hợp và dễ lượng hóa khi tổng hợp.

1.5.1



Câu hỏi theo nội dung:



Câu hỏi theo nội dung thu thập thông tin về thực tế vấn đề môi trường

mà câu hỏi này đề cập đến . Có thể phân biệt cụ thể hơn 3 nhóm câu hỏi

theo nội dung:

Câu hỏi về sự kiện:

Câu hỏi sự kiện là câu hỏi về một sự kiện hiện thực nào đó đã và đang tồn

tại trong không gian. Những câu hỏi này nhằm thu thập thông tin về vấn đề

môi trường đã hoặc đang diễn ra hoặc chỉ đơn thuần là có hiểu biết về đối

tượng điều tra.

Câu hỏi sự kiện thường được sử dụng phổ biến trong hầu hết các bảng

hỏi, các phiếu điều tra do tính ứng dụng cao của nó. Nó mang lại thông tin về

những sự kiện liên quan đến vấn đề điều tra từ đơn giản đến phức tạp. Đối

với những sự kiện thông thường, câu hỏi sự kiện thường được sử dụng để

bắt đầu hỏi trong phỏng vấn nhằm giúp người được hỏi quen dần với cuộc

phỏng vấn. Hoặc khi đi chuyển sang một ý khác, câu hỏi sự kiện cũng được

sử dụng để gợi mở, dẫn dắt tới vấn đề mới.

Các câu hỏi sự kiện thường dễ trả lời vì thế thông tin thu được từ câu hỏi

có độ chính xác cao, thông thường có độ tin cậy cao nhất so với các loại câu

hỏi khác. Tuy vậy, cũng cần chú ý rằng đối với những sự kiện đã xảy ra khá lâu

trong quá khứ thì độ chính xác của câu hỏi cũng giảm xuống. Những câu hỏi

khai thác cụ thể, chi tiết về sự kiện đã xảy ra (như ngày tháng năm xảy ra sự

kiện, địa điểm xảy ra,…) cần kết hợp những câu hỏi sự kiện liền nhau để dần

tái hiện về sự kiện này bằng cách hỏi về các sự kiện quá khứ nổi bật xảy ra

gắn liền với sự kiện ta cần hỏi. Hoặc khi câu hỏi mang tính chất riêng tư, nhạy

cảm, kín đáo thì cần đặc biệt chú ý tới cách diễn đạt tế nhị, gián tiếp, tránh

gây bối rối, khó xử cho người được hỏi để thu được thông tin chính xác.

9



9



Ứng dụng trong CVM, các câu hỏi về sự kiện có thể được sử dụng trong

phần đầu của bảng hỏi để thu thập thông tin về đối tượng điều tra như tên,

tuổi, nghề nghiệp, nơi ở, thu nhập,… Ngoài ra cũng có tác dụng dẫn dắt đối

tượng vào vấn đề được hỏi bằng cách hỏi đối tượng điều tra về các sự kiện

có liên quan tới vấn đề môi trường nghiên cứu.

Ví dụ như hỏi đối tượng về việc sử dụng các hàng hóa dịch vụ môi trường

trước đây hoặc việc thay đổi về hiện trạng của hàng hóa dịch vụ môi trường

đang/đã xảy ra, cách thức người được hỏi đối xử với hàng hóa môi trường,…

Câu hỏi về tri thức:

Sau khi thu được thông tin về sự kiện, người nghiên cứu có thể muốn tìm

hiểu rõ hơn về nhận thức của người được hỏi về vấn đề này. Câu hỏi tri thức

nhằm giúp người nghiên cứu thu được thông tin về mức độ hiểu biết, trình

độ nhận thức của người được hỏi về vấn đề. Điều này là vô cùng cần thiết,

đặc biệt là trong nghiên cứu CVM. Do đặc điểm của hàng hóa môi trường là

việc phân định giữa ảnh hưởng tích cực và tiêu cực chỉ mang tính tương đối

nên trình độ nhận thức của người được hỏi có ảnh hưởng rất quan trọng tới

giá mà họ sẵn sàng chi trả cho hàng hóa môi trường này. Với những đối

tượng điều tra có nhận thức cao về vấn đề môi trường, họ thường có nhận

định, đánh giá chính xác hơn về giá trị của hàng hóa môi trường đang nghiên

cứu. Ví dụ như một người có nhận thức về vấn đề cân bằng sinh thái sẽ đánh

giá cao việc bảo vệ loài sếu đầu đỏ đang bị tuyệt chủng hơn là một người

không có hiều biết về vấn đề này.

Khi sử dụng câu hỏi tri thức nên hạn chế việc dùng câu hỏi lưỡng cực:

Có/Không, Đã biết/Chưa biết,… Do người được hỏi có thể bị ngộ nhận, ngại

ngùng về mục đích sử dụng câu hỏi là để đánh giá nhận thức của họ nên họ

có xu hướng chọn câu trả lời “Có” hoặc “Đã biết”,… làm sai lệch thông tin thu

thập. Trong trường hợp này, nên sử dụng các câu hỏi phụ để kiểm tra thêm

về mức độ hiểu biết thực sự của đối tượng về vấn đề đó như thế nào.

Câu hỏi về quan điểm, thái độ, động cơ:

10



10



Loại câu hỏi cuối cùng trong nhóm câu hỏi theo nội dung là câu hỏi về

quan điểm, thái độ, động cơ. Có thể nói hai loại câu hỏi trên thường chỉ

nhằm mục đích dẫn dắt đối tượng điều tra để thu được thông tin quan trọng

nhất từ câu hỏi này. Câu hỏi này nhằm tìm hiểu quan điểm, sự đánh giá, mức

độ quan tâm, phản ứng, thái độ, nguyên nhân và động cơ của đối tượng điều

tra về sự kiện đang nghiên cứu.

Trên thực tế, những đánh giá, mong muốn mà đối tượng điều tra bộc lộ

trong câu trả lời thường có tính ổn định thấp, dễ thay đổi, tùy thuộc vào điều

kiện kinh tế xã hội khách quan hay tâm lí, nhận thức chủ quan của đối tượng

điều tra. Vì vậy, nếu như câu hỏi sự kiện thường cho câu trả lời có độ chính

xác cao, ổn định, không thay đổi theo thời gian, từ cuộc điều tra này tới cuộc

điều tra khác do nó gắn liền với hiện thực khách quan thì câu hỏi về quan

điểm, thái độ, động cơ lại dễ thay đổi và thiếu chính xác. Tùy thuộc vào thời

điểm điều tra mà câu trả lời này có thể biến động, nguồn dữ liệu từ câu hỏi

này vì thế không thể sử dụng nhiều lần ở những cuộc điều tra khác nhau. Bên

cạnh đó, khi sử dụng loại câu hỏi này về những vấn đề riêng tư, nhạy cảm

biểu hiện lập trường quan điểm cá nhân thì còn cần chú ý đến việc diễn đạt

tế nhị, khéo léo để người được hỏi dễ dàng hiểu câu hỏi và trả lời chính xác,

đầy đủ.

Trong nghiên cứu CVM, đây chính là câu hỏi để thu được mức giá sẵn lòng

trả của đối tượng điều tra về vấn đề môi trường đang nghiên cứu. Nói cách

khác, đây chính là đánh giá về giá trị môi trường đối với người được hỏi. Từ

đó, người nghiên cứu xác định được mức giá của hàng hóa, dịch vụ môi

trường.

Ba loại câu hỏi theo nội dung có nhiệm vụ khác nhau trong việc thu thập

thông tin nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau, giúp người

được hỏi dần dần làm quen với bảng hỏi và vấn đề nghiên cứu, mang lại

những thông tin đầy đủ, chính xác và hoàn chỉnh. Trong nghiên cứu CVM, cần

kết hợp linh hoạt 3 loại câu hỏi này do bản thân tính phức tạp của vấn đề môi

trường và không phải lúc nào người được hỏi cũng đã biết và nhận thức về

11



11



môi trường. Cần sử dụng câu hỏi sự kiện và câu hỏi tri thức để dẫn dắt, giúp

người được hỏi có những ý niệm chung về vấn đề môi trường rồi từ đó mới

tìm hiểu về đánh giá của họ về vấn đề này.

1.5.2



Câu hỏi theo chức năng:



Việc phân loại câu hỏi theo chức năng xuất phát từ yêu cầu về kĩ thuật

điều tra. Khi thực hiện phỏng vấn, truyền tải thông tin, đặc biệt là khi phỏng

vấn về những vấn đề nhạy cảm (trong CVM như đánh giá tác động chính sách

môi trường, thái độ của người được hỏi về chính sách của cơ quan quản lí

môi trường), độ chính xác của thông tin thấp thì việc sử dụng loại câu hỏi này

rất quan trọng. Có thể phân biệt 3 loại câu hỏi chức năng: câu hỏi tâm lí, câu

học lọc và câu hỏi kiểm tra.

Câu hỏi tâm lí:

Đây là thường là câu hỏi tiếp xúc ban đầu với người được hỏi, dùng để

bắt đầu bảng hỏi. Chức năng chủ yếu của câu hỏi này là để gạt bỏ nghi ngờ

có thể nảy sinh của người được hỏi, hoặc để chuyển tiếp giữa các chủ đề.

Để tiếp xúc, làm quen, các câu hỏi tâm lí được sử dụng thường là



-



những câu hỏi đơn giản, dễ trả lời và mục đích không nhất thiết để thu thập

thông tin. Chức năng chủ yếu của câu hỏi tâm lí chỉ là để làm quen, tạo sự

thân thiện, thoải mái và lôi cuốn người được hỏi vào vấn đề nghiên cứu. Đối

với nhiều người, vấn đề môi trường thường không phải là vấn đề được họ

quan tâm. Bằng việc sử dụng câu hỏi tâm lí, người nghiên cứu có thể thu hút

sự chú ý của người được hỏi để họ hợp tác nhiệt tình hơn, đưa lại thông tin

cụ thể, chính xác hơn.

Để giảm bớt sự căng thẳng, đặc biệt là khi nội dung bảng hỏi có liên



-



quan đến vấn đề chỉ đạo, chính sách,… nhạy cảm thì người nghiên cứu có thể

đan cài những câu hỏi tâm lí về cuộc sống hàng ngày, những vấn đề đơn giản.

Nội dung của những câu hỏi này có thể không liên quan tới vấn đề đang

nghiên cứu mà chỉ giúp tạo bầu không khí thoải mái, sau đó sẽ trở lại với nội

12



12



dung chính của bảng hỏi. Ví dụ như khi phỏng vấn về phản ứng của người

dân về chủ trương cải tạo công viên Thống Nhất thành khu vui chơi hiện đại

của Thành phố Hà Nội, người nghiên cứu có thể đan cài các câu hỏi về việc

vui chơi của trẻ em trong gia đình tại công viên.

Câu hỏi tâm lí còn được dùng để chuyển tiếp giữa các chủ đề trong



-



bảng hỏi một cách hợp lí, liền mạch nhằm duy trì sự tập trung nhưng vẫn tự

nhiên, thoải mái của người được hỏi. Việc chuyển vấn đề nhanh hoặc bất

ngờ có thể gây tâm lí nghi ngờ về logic của bảng hỏi hoặc sự hụt hẫng, đảo

lộn về tư duy từ người được hỏi. Trong bảng hỏi CVM, người nghiên cứu có

thể muốn đánh giá nhiều loại giá trị của cùng một loại hàng hóa dịch vụ môi

trường thì việc sử dụng câu hỏi tâm lí cũng vẫn cần thiết nhằm loại bỏ sự

nhàm chán, lặp lại của các câu hỏi và tạo ra sự uyển chuyển, hợp lí giữa các

nội dung.

Do các câu hỏi tâm lí không yêu cầu thu được thông tin hoặc phải liên

quan trực tiếp tới nội dung được hỏi nên việc sử dụng cần có mức độ. Việc

sử dụng quá nhiều câu hỏi vừa làm dài bảng hỏi, vừa gây loãng nội dung

bảng hỏi, gây nhiễu về thông tin. Trên thực tế, câu hỏi tâm lí thường sử dụng

trong phỏng vấn trực tiếp nhiều hơn, do người nghiên cứu tự đặt ra khi cảm

thấy cần thiết. Tuy vậy, vẫn có thể sử dụng một cách hợp lí trong bảng hỏi.

Nghiên cứu CVM cũng không thường liên quan tới những vấn đề quá nhạy

cảm, căng thẳng nên việc sử dụng câu hỏi tâm lí không rộng rãi như trong các

cuộc điều tra xã hội học thông thường.

Câu hỏi lọc:

Trong điều tra nói chung, câu hỏi lọc luôn được sử dụng rất rộng rãi. Tác

dụng của câu hỏi lọc là tìm hiểu xem người được hỏi có thuộc nhóm người

dành cho những câu hỏi tiếp theo hay không. Điều này là vô cùng quan trọng

vì nếu người được hỏi không thuộc nhóm này thì việc tiếp tục trả lời các câu

hỏi sau đó không chỉ gây lãng phí thời gian mà còn mang lại thông tin không

chính xác, không logic và không có giá trị. Bằng việc sử dụng đơn giản câu hỏi

13



13



lọc, người nghiên cứu có thể phân chia người được hỏi thành các nhóm khác

nhau, đưa ra những câu hỏi riêng cho mỗi nhóm và thu được thông tin có giá

trị từ mỗi nhóm này.

Đặc biệt, câu hỏi lọc có ý nghĩa rất lớn trong việc tổng hợp thông tin sau

điều tra. Người nghiên cứu có thể dễ dàng chỉ ra những câu trả lời không

chính xác, không logic của người được hỏi bằng câu hỏi lọc. Trong thiết kế

bảng hỏi, câu hỏi lọc thường được sử dụng kèm theo kĩ thuật “bước nhảy”

để phân loại người được hỏi thành các nhóm và đưa họ đến thẳng tới nhóm

câu hỏi phù hợp cho mỗi nhóm. Như vậy họ không cần đi theo trình tự thông

thường từ trên xuống dưới của bảng hỏi hay phải trả lời các câu hỏi vô nghĩa.

Đối với nghiên cứu CVM nói riêng, bằng câu hỏi lọc, người nghiên cứu có

thể hạn chế sai lầm khi định giá hàng hóa môi trường khi người được hỏi có

thể trả giá rất cao cho hàng hóa đó trong khi thực tế họ hoàn toàn không

quan tâm đến vấn đề môi trường đang nghiên cứu.

Câu hỏi kiểm tra:

Câu hỏi kiểm tra được sử dụng để kiểm tra độ chính xác của các thông tin

đã thu thập được hoặc của các câu trả lời của các câu hỏi thường hay bị trả

lời sai, độ chính xác thấp. Câu hỏi kiểm tra có thể chỉ để xác định mức tin cậy

của từng câu hỏi hoặc của từng nội dung hay của toàn bộ bảng hỏi. Câu hỏi

kiểm tra còn có thể giúp người nghiên cứu tìm ra câu trả lời chính xác. Có

nhiều cách để xây dựng câu hỏi kiểm tra. Có thể nêu ra câu hỏi, sau đó đưa

ra các phương án trả lời mà có cả phương án đúng và sai hoặc gài một câu trả

lời chắc chắn đúng (hoặc chắc chắn sai) để thử. Đối với các câu hỏi nội dung,

có thể sử dụng cách dùng hai câu hỏi về cùng một vấn đề nhưng diễn đạt

dưới hình thức, sắc thái khác nhau. Cũng có thể đưa ra một tình tiết, một vấn

đề hư cấu nhưng về hình thức lại gần với thực tế để kiểm tra tính xác thực

của các thông tin từ các câu hỏi trước đó,… Ngoài ra còn một cách phổ biến

khác là kiểm tra mối liên hệ, tính logic giữa các câu hỏi để kiểm tra chéo độ

chính xác của các câu trả lời.

14



14



Việc thiết kế câu hỏi kiểm tra và đưa câu hỏi kiểm tra vào bảng hỏi tuy vậy

cần chú ý tới những vấn đề sau:

Các câu hỏi kiểm tra sẽ kéo dài độ dài bảng hỏi vì vậy cần sử dụng hợp



-



lí. Chỉ nên sử dụng câu hỏi kiểm tra với những nội dung nghiên cứu quan

trọng và những câu hỏi thường bị trả lời sai.

Câu hỏi kiểm tra không nên đi liền ngay sau câu hỏi mà nó muốn kiểm



-



tra mà phải để cách xa khoảng từ 3 đến 4 câu hỏi khác để tránh sự nghi ngờ

của người được hỏi và đảm bảo thu được thông tin chính xác.

Việc diễn đạt, thiết kế phải khéo léo để tránh việc người được hỏi nghi



-



ngờ, tự ái dẫn đến cung cấp thông tin sai lệch.

Như đã đề cập ở phần trên, một trong những hạn chế lớn nhất của

phương pháp CVM là đôi khi người được hỏi đưa ra mức giá rất cao cho

hàng hóa môi trường vì họ nhận định thực tế họ không phải trả khoản tiền

này. Vì vậy, việc sử dụng câu hỏi kiểm tra là cần thiết. Ví dụ so sánh giá sẵn

lòng chi trả với thu nhập hoặc mức giá họ đã thực tế chi trả cho các hàng hóa

môi trường thông thường như phí vệ sinh, vé vào công viên sinh thái,… để

kiểm tra tính hợp lí, logic trong câu trả lời.

1.5.3



Câu hỏi theo cách biểu hiện:



Dựa vào việc xây dựng câu hỏi và cách thu thập câu trả lời trong bảng hỏi

mà có thể phân chia câu hỏi thành 3 loại: câu hỏi đóng, câu hỏi mở và câu

hỏi hỗn hợp (câu hỏi nửa đóng).

Câu hỏi đóng:

Câu hỏi đóng là loại câu hỏi mà người nghiên cứu đưa kèm theo những

phương án trả lời cụ thể, người được hỏi chỉ cần chọn một hoặc một số

phương án họ cho là phù hợp nhất. Có thể phân biệt cụ thể 3 loại câu hỏi

đóng:



15



15



Câu hỏi đóng lựa chọn (câu hỏi loại trừ): Các phương án được lựa



-



chọn của câu trả lời có tính chất loại trừ nhau. Người được phỏng vấn chỉ có

thể chọn một đáp án cho câu trả lời của mình. Việc lựa chọn từ 2 đáp án trở

lên làm cho câu trả lời vô nghĩa, không hợp logic. Đối với loại câu hỏi này, có

thể có câu hỏi lưỡng cực hoặc câu hỏi cường độ. Câu hỏi lưỡng cực chỉ gồm

2 đáp án trái ngược nhau: Có/Không, Đúng/Sai,… và thường chịu ảnh hưởng

của tâm lí ưa thích “tích cực” của người được hỏi.

Ví dụ: Với câu hỏi “Bạn có phản đối việc cải tạo công viên Thống Nhất

không?” Thì câu trả lời có xu hướng chọn đáp án tích cực là Có. Trong khi đó,

nếu diễn đạt câu hỏi khác đi mà giữ nguyên nội dung câu hỏi: “Bạn có ủng hộ

việc hiện đại hóa công viên Thống Nhất không?” thì câu trả lời vẫn có thể là

“Có” do tâm lí ưa thích “tính tích cực” của người được hỏi.

Ngoài ra, khi sử dụng câu hỏi lưỡng cực cần chú ý tới việc sắp xếp thứ tự

câu hỏi. Việc sắp xếp một loạt các câu hỏi lưỡng cực đứng liền nhau rất dễ

gây ra “xu hướng đồng tình” của đối tượng điều tra. Đây là xu hướng khi

người được hỏi chọn một nhóm câu trả lời nhấ định mà không quan tâm

thực sự tới nội dung câu hỏi. Ví dụ, trong một loạt các câu hỏi “Đồng

ý/Không đồng ý”, “Có/Không”,… người được hỏi thường có xu hướng chọn

một đáp án chung cho tất cả các câu hỏi cho dù nội dung câu hỏi có thể hoàn

toàn trái ngược nhau. Việc thiết kế câu hỏi như vậy gây ra tâm lí nhàm chán

cho người được hỏi khiến họ trả lời một cách máy móc cho tất cả các câu hỏi

lưỡng cực.

Ngoài ra, loại câu hỏi đóng lựa chọn còn có câu hỏi cường độ gồm nhiều

mức độ (thang đánh giá) lựa chọn được phân chia theo thứ bậc từ thấp tới

cao (hoặc ngược lại). Vấn đề chủ yếu của loại câu hỏi này là việc nên đưa ra

bao nhiêu hạng mục là phù hợp. Trên thực tế không có một quy định nào về

số lượng hạng mục nên sử dụng trong phần trả lời nhưng nói chung, việc sử

dụng quá ít hạng mục sẽ làm cho tính phân loại của câu trả lời thấp trong khi

sử dụng quá nhiều hạng mục lại làm mức độ khác biệt giữa các đáp án giảm

xuống, việc xử lí thông tin kém ý nghĩa. Thông thường, số hạng mục nên sử

16



16



dụng là từ 5-9 hạng mục. Đối với số hạng mục lẻ sẽ có một hạng mục trung

gian ở giữa. Trong trường hợp cần có một câu trả lời trung lập thì nên sử

dụng số hạng mục lẻ. Nếu người nghiên cứu muốn đối tượng điều tra cung

cấp câu trả lời có quan điểm rõ ràng thì số hạng mục chẵn có thể buộc đối

tượng không lựa chọn điểm giữa được. Tuy vậy, việc sử dụng số hạng mục

chắn yêu cầu tính cẩn trọng cao vì khi buộc đối tượng điều tra phải lựa chọn

những gì họ không chắc chắn có thể tạo ra dữ liệu sai lệch.

Dạng câu hỏi đóng thứ hai là câu hỏi đóng tùy chọn (câu hỏi tuyển).



-



Các phương án trả lời của câu hỏi này không loại trừ nhau và người được hỏi

có thể chọn một số khả năng nào đó họ cho là phù hợp. Đối với loại câu hỏi

này, người nghiên cứu có khả năng gặp phải “xu hướng chọn theo vị trí”. Khi

người được hỏi gặp một danh sách những đáp án cho trước thì lựa chọn của

họ có thể chịu ảnh hưởng bởi thứ tự sắp xếp các đáp án này hơn là sự nội

dung thật sự của đáp án. Thông thường, những lựa chọn đầu tiên hoặc cuối

cùng thường được ưa thích lựa chọn hơn vì nó để lại ấn tượng nhiều hơn

những đáp án ở vị trí khác đối với người được hỏi. Xu hướng này đặc biệt

phổ biến với những câu hỏi có quá nhiều lựa chọn đáp án nên người nghiên

cứu phải chú ý tới việc thiết kế số lượng đáp án vừa phải mà vẫn bao quát

được các khả năng đáp án có thể. Điều này thường rất khó, vì vậy, người ta

thường sử dụng loại câu hỏi hỗn hợp (nửa đóng).

Đối với câu hỏi đóng tùy chọn, người nghiên cứu còn có thể kết hợp với

yêu cầu sắp xếp thứ tự quan trọng của các đáp án mà người được hỏi lựa

chọn. Từ đó đánh giá mức độ quan tâm của người được hỏi đối với vấn đề

nghiên cứu hoặc tầm quan trọng của các yếu tố thuộc vấn đề nghiên cứu.

Ưu điểm nổi bật của loại câu hỏi đóng là tạo điều kiện thuận lợi cho cả

người được hỏi và người xử lí thông tin. Người được hỏi chỉ cần lựa chọn

trong số các phương án có sẵn nên hạn chế tâm lí chán nản, mệt mỏi. Loại

câu hỏi này cũng giúp người được hỏi hiểu câu hỏi một cách thống nhất,

theo cùng một nghĩa. Đối với người xử lí thông tin, câu hỏi đóng rất thuận

tiện cho việc mã hóa, tổng hợp thông tin.

17



17



Tuy nhiên, câu hỏi đóng vẫn có nhiều nhược điểm. Ngoài các xu hướng đã

phân tích ở trên có thể gây ra thông tin sai lệch, việc thiết kế câu hỏi đóng

cũng cần chú ý để tránh gặp phải các nhược điểm sau:

Các phương án đưa ra chưa đầy đủ khiến người trả lời không chọn



-



được phương án phù hợp. Người thiết kế vì thế phải lường trước cá phương

án trả lời có thể có, bao quát được các khả năng đáp án có thể xảy ra.

Các phương án không có mức độ đồng nhất tương đương (theo một



-



cách phân chia nào đó) làm người được hỏi có xu hướng chọn những đáp án

mà người thiết kế ưa thích, chú trọng hơn. Vì vậy các đáp án cần đảm bảo

đồng nhất với nhau và phải sắp xếp rõ ràng, phù hợp.

Câu hỏi mở:

Câu hỏi mở là loại câu hỏi không có sẵn các phương án trả lời mà hoàn

toàn do người được hỏi nghĩ ra và diễn đạt. Câu hỏi mở cho phép người trả

lời tự do tư duy, trình bày ý kiến quan điểm của mình về vấn đề được hỏi,

không bị gò ép vào những đáp án có sẵn như câu hỏi đóng. Cũng chính vì vậy

mà câu hỏi mở gặp phải một số nhược điểm sau đây:

Người được hỏi rất dễ hiểu sai, hiểu nhầm, hiểu không chính xác ý của



-



câu hỏi, dẫn đến không thống nhất trong cách trả lời. Ví dụ: với câu hỏi “Bạn

đánh giá không khí nơi bạn đang sống như thế nào?” Có thể thu được câu trả

lời là: “Ô nhiễm”, “Khô, hanh”, “Ồn ào”,… Vì vậy, việc thiết kế câu hỏi đòi hỏi

sự rõ ràng, chính xác cả về từ ngữ, cách hiểu càng cao, càng khó khăn và

phức tạp.

Việc tổng hợp, xử lí thông tin đòi hỏi nhiều thời gian và công sức hơn



-



do phải phân loại các nhóm câu trả lời có thể có.

Chính vì vậy mà câu hỏi mở chủ yếu sử dụng khi thu thập ý kiến, quan

điểm hoặc thăm dò ý kiến, tìm hiểu những vấn đề mới nảy sinh, tạo bước mở

đầu trong cuộc nghiên cứu hoặc trong điều tra thử. Thông thường, câu hỏi

mở được sử dụng để thu thập các thông tin định tính.

18



18



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (36 trang)

×