1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

quản lí tài chính BHXH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (312.06 KB, 55 trang )


Đại học Kinh tế quốc dân



Luận văn tốt nghiệp



triển. Cùng với nó là quan hệ xã hội giữa các cá nhân, giữa các cộng đồng

cũng phát triển hơn. Khi đó tôn giáo bắt đầu xuất hiện, nó không chỉ với ý

nghĩa giáo dục con ngời hớng thiện mà còn có các trại bảo dỡng, hội cứu tế

với mục đích từ thiện, trợ giúp nhau trong cuộc sống. Nh vậy xét về bản chất

thì hình thức tơng trợ trong thời kì này đã mang tính có tổ chức và quy mô

rộng rãi hơn.

Từ thế kỉ thứ XVI ở Châu Âu đã xuất hiện ngành công nghiệp, những

ngời nông dân không có đất phải di c ra thành phố làm thuê cho các nhà máy

ngày càng nhiều và dần trở thành công nhân. Đặc biệt đến thời kì cách mạng

công nghiệp thì lực lợng ngày càng đông đảo và trở thành giai cấp công

nhân. Nhìn chung họ sống không ổn định, cuộc sống chỉ dựa vào công việc

với đồng lơng ít ỏi, mất việc làm, ốm đau, tai nạn lao động ... đều có thể đe

doạ cuộc sống của họ. Tình đoàn kết tơng thân tơng ái giữa họ đã nảy nở,

cùng với đó là sự ra đời của các nghiệp đoàn, các hiệp hội giúp đỡ các thành

viên khi bị ốm đau bệnh tật trong quá trình sản xuất. Bên cạnh Hội tơng tế

còn có Quỹ tiết kiệm đợc Nhà nớc khuyến khích thành lập. Tiếp đó những

quy định bắt buộc ngời sử dụng lao động phải chu cấp cho ngời lao động

thuộc quyền quản lí khi họ gặp phải ốm đau, tai nạn lao động, mất việc...

Giai cấp công nhân càng đông đảo thì sức ép đối với những đòi hỏi đảm bảo

cuộc sống cho họ ngày càng ảnh hởng đến đời sống chính trị của mỗi nớc.

Trớc tình cảnh đó Chính Phủ mỗi nớc không thể không quan tâm đến tình

cảnh của ngời lao động. Những yêu cầu giảm giờ làm, cải thiện điều kiện lao

động, đảm bảo cuộc sống của ngời lao động dần đợc quy định thành các

chính sách bắt buộc đối với mỗi nớc.

Điển hình là vào năm 1850, dới thời Thủ tớng Bismark của Đức đã

giúp các địa phơng thành lập quỹ do ngời công nhân đóng góp để đợc trợ cấp

lúc rủi ro. Nguyên tắc bảo hiểm bắt buộc bắt nguồn từ đây, ngời đợc bảo

hiểm phải tham gia đóng phí. Sau đó sáng kiến này đợc áp dụng rộng rãi trên

khắp thế giới. BHXH ngày càng đợc hoàn thiện, thực hiện rộng khắp các nớc

và đợc Tổ chức Lao động Quốc tế ( ILO) thông qua trong Công ớc số 102

vào tháng 4 năm 1952. BHXH ở nớc ta đã manh nha hình thành từ thời thực

dân Pháp thống trị. Sau cách mạng tháng Tám, Chính phủ nớc Việt Nam Dân

Chủ Cộng Hoà đã ban hành sắc lệnh 29/ SL ngày 12/3/1947 về việc thực hiện

bảo hiểm ốm đau, tai nạn lao động, hu trí. Đây là những viên gạch đầu tiên

xây dựng nên hệ thống BHXH Việt Nam nh hiện nay.

2. Khái niệm BHXH.

Qua quá trình hình thành chúng ta có thể nhận thấy, lúc khởi đầu,

BHXH chỉ mang tính chất tự phát, phạm vi hoạt động nhỏ hẹp, trớc nhu cầu

của thực tiễn thì chính sách BHXH đã nhanh chóng ra đời và từng bớc phát



Đại học Kinh tế quốc dân



Luận văn tốt nghiệp



triển rộng khắp. BHXH đã đợc từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa nh

sau:

BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho

ngời lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai

nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất dựa

trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có

sự bảo hộ của Nhà nớc theo pháp luật, nhằm bảo đảm an toàn đời sống cho

ngời lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội.

Qua khái niệm trên, có thể rút ra một số điểm cơ bản sau:

- Đối tợng của BHXH chính là phần thu nhập của ngời lao động bị biến

động, giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động do các

biến cố nh đã nêu trên từ đó để giúp ổ định cuộc sống của bản thân ngời

lao động và gia đình họ. Chính vì yếu tố này mà BHXH đợc coi là một

chính sách lớn của mỗi quốc gia và đợc Nhà nớc quan tâm quản lí chặt

chẽ. Cũng tùy vào điều kiện kinh tế của mỗi nớc mà các quy định về đối

tợng này là có sự khác nhau nhng cùng bảo đảm ổn đình đời sống của ngời lao động.

- Đối tợng tham gia BHXH là gồm ngời lao động và cả ngời sử dụng lao

động. Sở dĩ ngời lao động phải đóng phí vì chính họ là đối tợng đợc hởng

BHXH khi gặp rủi ro. Ngời sử dụng lao động đóng phí là thể hiện sự quan

tâm, trách nhiệm của họ đối với ngời lao động. Và sự đóng góp trên là bắt

buộc, ngoài ra còn có sự hỗ trợ của Nhà nớc.

- Để điều hoà mâu thuẫn giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao động, để

gắn bó lợi ích giữa họ, Nhà nớc đã đứng ra yêu cầu cả hai bên cùng đóng

góp và đây cũng là chính sách xã hội đợc thực hiện góp phần ổn định

cuộc sống một cách hiệu quả nhất.

Dựa vào bản chất và chức năng của BHXH mà Tổ chức Lao động

Quốc tế ( ILO) cũng đã đa ra một định nghĩa khác nh sau:

BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông

qua một loạt các biện pháp công cộng (bằng pháp luật, trách nhiệm của

Chính phủ) để chống lại tình trạng khó khăn về kinh tế và xã hội do bị mất

hoặc giảm mất thu nhập gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già,

tàn tật và chết. Hơn nữa, BHXH còn phải bảo vệ cho việc chăm sóc y tế, sức

khoẻ và trợ cấp cho các gia đình khi cần thiết.

Từ định nghĩa trên chúng ta thấy mục tiêu của BHXH là hớng tới sự

phát triển của mỗi cá nhân và toàn xã hội. BHXH thể hiện sự đảm bảo lợi ích

của xã hội đối với mỗi thành viên từ đó gắn kết mỗi cá nhân với xã hội đó.

3. Bản chất và chức năng của BHXH.



Đại học Kinh tế quốc dân



Luận văn tốt nghiệp



3.1. Bản chất của BHXH.

Có thể hiểu BHXH là sự bù đắp một phần thu nhập bị mất của ngời lao

động khi gặp phải những biến cố nh ốm đau, tai nan lao động, bệnh nghề

nghiệp hoặc tuổi già làm mất, giảm khả năng lao động, từ đó giúp ổn định

cuộc sống của bản thân ngời lao động và gia đình họ. BHXH hiện nay đợc

coi là một chính sách xã hội lớn của mỗi quốc gia, đợc nhà nớc quan tâm và

quản lí chặt chẽ. BHXH xét về bản chất bao gồm những nội dung sau đây:

BHXH là sự cần thiết tất yếu khách quan gắn liền với sự phát triển của

nền kinh tế. Đặc biệt đối với nền kinh tế hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị

trờng, mối quan hệ giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao động ngày càng

phát triển. Do vậy trình độ phát triển của nền kinh tế quyết định đến sự đa

dạng và tính hoàn thiện của BHXH. Vì vậy có thể nói kinh tế là yếu tố quan

trọng quyết định tới hệ thống BHXH của mỗi nớc.

BHXH, bên tham gia BHXH, bên đợc BHXH là ba chủ thể trong mối

quan hệ của BHXH. Bên tham gia BHXH gồm ngời lao động và ngời sử

dụng lao động (bên đóng góp), bên BHXH là bên nhận nhiệm vụ BHXH,

thông thờng thì do cơ quan chuyên trách do Nhà nớc lập ra và bảo trợ, bên đợc BHXH chính là ngời lao động và gia đình họ khi có đủ điều kiện cần

thiết. Từ đó họ đợc đảm bảo những nhu cầu thiết yếu, giúp họ ổn định cuộc

sống, góp phần ổn đình xã hội.

Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động của ngời lao động

có thể là những rủi ro ngẫu nhiên( tai nạn, ốm đau, bệnh nghề nghiệp...),

cũng có thể là các rủi ro không hoàn toàn ngẫu nhiên( tuổi già, thai sản, ...).

Đồng thời các biến cố này có thể xảy ra trong quá trình lao động hoặc ngoài

lao động. Phần thu nhập của ngời lao động bị giảm hay mất đi từ các rủi ro

trên sẽ đợc thay thế hoặc bù đắp từ nguồn quỹ tập trung đợc tồn tích lại do

bên tham gia BHXH đóng góp và có thêm sự hỗ trợ của NSNN.

3.2. Chức năng của BHXH.

Chức năng cơ bản nhất của BHXH là thay thế, bù đắp phần thu nhập

của ngời lao động khi họ gặp những rủi ro làm mất thu nhập do mất khả năng

lao động hay mất việc làm. Rủi ro này có thể làm mất khả năng lao động tam

thời hay dài hạn thì mức trợ cấp sẽ đợc quy định cho từng trờng hợp. Chức

năng này quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của

BHXH.

Đối tợng tham gia BHXH có cả ngời lao động và ngời sử dụng lao

động và cùng phải đóng góp vào quỹ BHXH. Quỹ này dùng để trợ cấp cho

ngời lao động khi gặp phải rủi ro, số ngời này thờng chiếm số ít. BHXH thực

hiện cả phân phối lại thu nhập theo chiều dọc và chiều ngang, giữa ngời lao

động khoẻ mạnh với ngời lao động ốm đau, già yếu..., giữa những ngời có



Đại học Kinh tế quốc dân



Luận văn tốt nghiệp



thu nhập cao phải đóng nhiều với ngời có thu nhập thấp phải đóng ít. Nh vậy

thực hiện chức năng này BHXH còn có ý nghĩa góp phần thực hiện công

bằng xã hội, một mục tiêu quan trọng trong chính sách kinh tế -xã hội của

mỗi quốc gia.

Nhờ có BHXH mà ngời lao động luôn yên tâm lao động, gắn bó với

công việc, nâng cao năng suất lao động. Từ đó góp phần nâng cao năng suất

lao động xã hội, tạo ra của cải vật chất ngày càng nhiều hơn, nâng cao đời

sống toàn xã hội. Nếu trớc đây, sự trợ giúp là mang tính tự phát, thì hiện nay

khi xã hội đã phát triển, việc trợ giúp đã đợc cụ thể hoá bằng các chính sách,

quy định của Nhà nớc. Sự bảo đảm này giúp gắn bó mối quan hệ giữa ngời

lao động và xã hội và càng thúc đẩy hơn nghĩa vụ của họ đối với xã hội.

Trong thực tế giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao động có những

mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lơng, tiền công, thời gian lao động...

BHXH đã gắn bó lợi ích giữa họ, đã điều hoà đợc những mâu thuẫn giữa họ,

làm cho họ hiểu nhau hơn. Đây cũng là mối quan hệ biện chứng hai bên đều

có lợi, ngời lao động thì đợc đảm bảo cuộc sống, ngời sử dụng thì sẽ có một

đội ngũ công nhân hăng hái, tích cực trong sản xuất. Đối với Nhà nớc thì

BHXH là cách chi ít nhất song hiệu quả nhất vì đã giải quyết những khó

khăn về đời sống của ngời lao động và góp phần ổn định sản suất, ổn định

kinh tế - xã hội.

4. Nguyên tắc hoạt động của BHXH.

sau:



Nhìn chung hệ thống BHXH đợc thực hiện dựa trên các nguyên tắc



Thứ nhất là nguyên tắc đóng hởng chia sẻ rủi ro; lấy số đông bù số ít,

lấy của ngời đang làm việc bù đắp cho ngời nghỉ hởng chế độ BHXH. Đây là

nguyên tắc hoạt động chung của ngành bảo hiểm là quỹ góp chung của số

đông bù cho số ít là những ngời thiếu may mắn gặp phải những rủi ro trong

cuộc sống, trong lao động sản xuất. Phần thể hiện tính chính sách của Nhà nớc là việc rủi ro trong BHXH không chỉ là những rủi ro thuần tuý nh trong

bảo hiểm thơng mại mà còn có cả những rủi ro không mang tính ngẫu nhiên

nh: tuổi già, thai sản,...

Thứ hai là mức hởng phải thấp hơn tiền lơng làm căn cứ đóng BHXH,

nhng phải đảm bảo đợc mức sống tối thiểu cho ngời hởng khoản trợ cấp đó.

Việc quy định trên là hoàn toàn hợp lí và cũng là quy định chung cho tất cả

các nớc, song thấp bao nhiêu còn tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị,

xã hội của mỗi nớc trong mỗi thời kì khác nhau.

Thứ ba là phải tự chủ về tài chính, đây là nguyên tắc quan trọng trong

chính sách BHXH của các nớc. Nếu chỉ hoàn toàn phụ thuộc vào Ngân sách

Nhà nớc (NSNN) giống nh giai đoạn trớc cải cách năm 1995 của nớc ta thì



Đại học Kinh tế quốc dân



Luận văn tốt nghiệp



đây thực sự là một gánh nặng lớn của đất nớc. Việc thành lập quỹ BHXH do

các bên tham gia BHXH đóng góp và có sự hỗ trợ của Nhà nớc là hoàn toàn

phù hợp. Quỹ này có thể quản lí theo các cách thức khác nhau song độc lập

với NSNN , NSNN chỉ bù thiếu hoặc tài trợ một phần tuỳ thuộc vào quy định

của mỗi nớc khác nhau.

5. Các chế độ của BHXH.

Đối với mỗi nớc có những hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội khác

nhau nên BHXH đợc tổ chức thực hiện theo những quy định riêng khác nhau.

BHXH đợc xây dựng dựa vào các nguyên tắc trên một cách thống nhất trên

toàn thế giới và phải tuân thủ các quy định sau của tổ chức Lao động Quốc tế

(ILO) về hệ thống chính sách BHXH. Trong Công ớc 102 đợc ILO thông qua

ngày 4/6/1952 có quy định những quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội đã đa ra 9 chế độ sau:

- Chăm sóc y tế.

- Trợ cấp ốm đau.

- Trợ cấp thất nghiệp.

- Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

- Trợ cấp tuổi già.

- Trợ cấp thai sản.

- Trợ cấp tàn tật.

- Trợ cấp vì mất ngời trụ cột gia đình.

Các thành viên tham gia Công ớc phải thực hiện ít nhất là 3 trong 9

chế độ nói trên, trong đó phải có nhất thiết 1 trong năm chế độ sau đây:

- Trợ cấp tuổi già.

- Trợ cấp thất nghiệp.

- Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

- Trợ cấp tàn tật.

- Trợ cấp vì mất ngời trụ cột gia đình.

Mỗi chế độ trong hệ thống BHXH khi xây dựng phải dựa trên các cơ

sở điều kiện kinh tế, thu nhập, tiền lơng, ... Đồng thời, tuỳ từng chế độ mà

còn phải tính đến các yếu tố sinh học, tuổi thọ bình quân, nhu cầu dinh dỡng,



Đại học Kinh tế quốc dân



Luận văn tốt nghiệp



... để quy định các mức đóng, mức hởng, thời gian hởng và đối tợng hởng

cho hợp lí. Các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây:

+ Các chế độ đợc xây dựng theo luật pháp của mỗi nớc.

+ Hệ thống các chế độ mang tính chất chia sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính.

+ Mỗi chế độ đợc chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các

bên tham gia BHXH.

+ Phần lớn các chế độ là chi trả định kì.

+ Đồng tiền đợc sử dụng làm phơng tiện chi trả và thanh quyết toán.

+ Chi trả BHXH nh là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH.

+ Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ đợc đầu t có

hiệu quả và an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định.

+ Các chế độ BHXH cần phải đợc điều chỉnh định kì để phản ánh hết sự

thay đổi của điều kiện kinh tế -xã hội.

6. Quỹ BHXH và phân loại quỹ BHXH.

6.1. Quỹ BHXH.

Nh chúng ta đã tìm hiểu trong phần 1 ở trên thì sự ra đời của quỹ

BHXH là một bớc ngoặt lớn đối với ngành BHXH trên toàn thế giới. Quỹ

BHXH là một quỹ tài chính độc lập, tập chung nằm ngoài NSNN và đợc hình

thành từ các nguồn sau đây:

- Ngời sử dụng lao động đóng góp,

- Ngời lao động đóng góp,

- Nhà nớc đóng và hỗ trợ thêm,

- Các nguồn khác (nh cá nhân và tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi từ các

hoạt động đầu t quỹ nhàn rỗi).

Trách nhiệm tham gia đóng góp BHXH cho ngời lao động đợc phân

chia cho cả ngời lao động và ngời sử dụng lao động trên cơ sở quan hệ lao

động. Điều này không phải sự chia sẻ rủi ro, mà là lợi ích giữa hai bên. Sự

đóng góp một phần quỹ của ngời sử dụng lao động cho ngời lao động sẽ

tránh đợc những thiệt hại kinh tế do phải chi ra một khoản tiền lớn khi có rủi

ro xảy ra đối với ngời lao động mà mình thuê mớn. Đồng thời, nó còn góp

phần giảm bớt mâu thuẫn, kiến tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa chủ- thợ. Về

phía ngời lao động, sự đóng góp của họ vừa thể hiện sự tự gánh chịu chính

những rủi ro của chính mình, vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi

một cách chặt chẽ.



Đại học Kinh tế quốc dân



Luận văn tốt nghiệp



Phần lớn các nớc trên thế giới, quỹ BHXH đều đợc hình thành từ các

nguồn nêu trên. Tuy nhiên, phơng thức đóng góp và mức đóng góp của các

bên tham gia BHXH có khác nhau tuỳ thuộc quy định của mỗi nớc. Hiện nay

mức đóng góp BHXH của ngời lao động và ngời sử dụng lao động hiện vẫn

còn hai quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải căn cứ vào mức lơng

cá nhân và quỹ lơng cơ quan, doanh nghiệp. Quan điểm thứ hai lại cho rằng,

phải căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của ngời lao động đợc cân đối chung

trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân để xác định mức đóng góp. Về mức đóng

góp BHXH, mỗi nớc lại có những quy định khác nhau. Một số nớc quy định

ngời sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động,

Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại cả ngời lao

động và ngời sử dụng lao động cùng đóng góp mỗi bên một phần bằng nhau.

Trong đó, một số nớc khác lại quy định, Chính phủ bù thiếu cho quỹ BHXH

hoặc chịu toàn bộ chi quản lí BHXH ....

Quỹ BHXH đợc sử dụng để chi trả chủ yếu cho hai mục đích sau: thứ

nhất là chi trả và trợ cấp cho các chế độ BHXH nh đã nêu ở mục 5, còn lại là

chi trả cho chi phí sự nghiệp quản lí BHXH. Trong hai khoản chi đó thì

khoản chi thứ nhất là quan trọng và chiếm phần lớn trong quỹ BHXH. Các

khoản trợ cấp này cũng đợc quy định về mức trợ cấp và thời gian hởng một

cách cụ thể và có sự khác biệt đối với từng chế độ. Tại những nớc khác nhau

thì các khoản trợ cấp này cũng đợc quy định khác nhau.

6.2. Phân loại quỹ BHXH:

Tuỳ theo mục đích và cách tổ chức của những hệ thống BHXH trên thế

giới mà quỹ BHXH đợc phân loại khác nhau:

- Phân loại theo các chế độ bao gồm: Quỹ hu trí, tử tuất; Quỹ tai nạn lao

động và bệnh nghề nghiệp; Quỹ thất nghiệp; Quỹ ốm đau thai sản.

- Phân loại theo tính chất sử dụng bao gồm: Quỹ ngắn hạn để chi trả cho

các chế độ ngắn hạn nh ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm mất khả

năng lao động tạm thời; Quỹ dài hạn để chi trả trợ cấp cho các chế độ

nh hu trí, tử tuất.

- Phân loại theo đối tợng tham gia bao gồm: Quỹ cho công chức Nhà nớc, quỹ cho lực lợng vũ trang, quỹ cho lao động trong các doanh

nghiệp, quỹ cho các đối tợng còn lại.

Việc phân loại quỹ nh trên cần đợc thực hiện và cân nhắc tránh những

tình trạng phân nhỏ quỹ dễ gây ra tình trạng mất tập trung, không có sự bổ

xung và hỗ trợ lẫn nhau. Việc phân chia quỹ không hợp lí sẽ dẫn tới những



Đại học Kinh tế quốc dân



Luận văn tốt nghiệp



ảnh hởng xấu đến việc chi trả cho các đối tợng, đặc biệt là vấn đề quản lí quỹ

một cách hợp lí. Dựa trên các cách tổ chức thực hiện các chế độ mà mỗi nớc

lại có những quy định khác nhau về các quỹ thành phần. Các quỹ thành phần

phải thực sự phù hợp với hệ thống BHXH đó.



II. Quản lí tài chính BHXH.

1. Khái niệm chung về quản lí tài chính BHXH.

Trớc tiên chúng ta cần hiểu khái niệm về quản lí. Quản lí là những

hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức, có định hớng của chủ thể

quản lí vào một đối tợng quản lí nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội

và hành vi của con ngời từ đó có thể duy trì đợc tính ổn định của đối tợng.

Đối tợng của quản lí ở đây là tài chính BHXH, tài chính BHXH là một thuật

ngữ thuộc phạm trù tài chính chỉ một mắt khâu tài chính tồn tại độc lập trong

hệ thống tài chính quốc gia. Tài chính BHXH tham gia vào quá trình phân

phối và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo cuộc sống cho ngời lao

động và gia đình họ khi gặp rủi ro từ đó đảm bảo sự ổn định và phát triển

kinh tế xã hội. Nh vậy, nhìn rộng ra thì quản lí tài chính BHXH là việc sử

dụng tài chính BHXH nh một công cụ quản lí xã hội của Nhà nớc. Nhà nớc

thông qua hoạt động tài chính BHXH để thực hiện mục tiêu quản lí xã hội đó

là đảm bảo ổn định cuộc sống cho nhân dân trớc những rủi ro làm giảm hoặc

mất khả năng lao động hay khi về già, giúp ngời lao động yên tâm lao động

sản xuất, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển. BHXH thể hiện tính u việt

của mỗi quốc gia, mỗi thể chế xã hội . Còn hiểu theo nghĩa hẹp thì quản lí tài

chính BHXH là quản lí thu chi BHXH. Nh vậy quản lí tài chính BHXH chủ

yếu liên quan tới việc làm thế nào để hoạt động thu chi quỹ BHXH đợc thực

hiện một cách bình thờng trớc những biến động của môi trờng. Biến động ở

đây là những biến động về đối tợng tham gia, đối tợng hởng, biến động của

môi trờng sống, môi trờng kinh tế ..., những biến động tác động trực tiếp đến

đời sống của ngời lao động, đến việc thu chi quỹ BHXH, ảnh hởng tới sự

đầu t tăng trởng quỹ BHXH. Nội dung của quản lí tài chính BHXH chủ yếu

là sự lựa chọn và xác định các chính sách, chế độ, quy chế về tài chính

BHXH một cách hợp lí và lấy đó làm căn cứ để ra quyết định cụ thể của thu

chi BHXH thực hiện mục tiêu của Nhà nớc đặt ra.

Khi thực hiện quản lí tài chính BHXH cần chú ý hai nguyên tắc chủ

yếu sau:

- Quá trình quản lí tài chính BHXH phải luôn đợc tính toán, so

sánh và cân đối trong trạng thái động: Bởi vì lợng tiền mặt của quỹ biến

động theo từng chế độ trợ cấp BHXH khác nhau, lợng lao động biến động

một cách thờng xuyên nên trong quản lí, đặc biệt là khâu lập kế hoạch phải

chú trọng tới vấn đề này. Đây cũng là một đặc thù trong ngành Bảo hiểm nói



Đại học Kinh tế quốc dân



Luận văn tốt nghiệp



chung và BHXH nói riêng vì tính đảo ngợc chu kì kinh doanh tức là thu phí

trớc chi trả cho các chế độ sau. Tuy có sự hỗ trợ của NSNN, song quản lí tài

chính BHXH phải góp phần giảm gánh nặng cho NSNN và vẫn thực hiện

chính sách xã hội này một cách tốt nhất.

- Quỹ BHXH phải đợc bảo tồn và phát triển: Nh trên đã đề cập thì

ngành Bảo hiểm có đặc thù thu phí trớc, chi trả sau, thời gian đóng và thời

gian hởng có thể kéo dài, đồng tiền có giá trị về mặt thời gian. Do vậy cần

đầu t để bảo tồn và tăng trởng quỹ một cách hợp lí. Để đảm bảo nguyên tắc

này cơ quan BHXH phải tăng cờng kiểm tra, giám sát hoạt động thu chi và

quản lí quỹ thực hiện đầu t phần quỹ nhàn rỗi một cách có hiệu quả và tuân

thủ các nguyên tắc sau:

+An toàn: Mục đích của quỹ là bảo đảm chi trả lơng hu và các trợ cấp

BHXH cho ngời lao động. Vì vậy, quỹ dù có đầu t vào lĩnh vực nào cũng

phải đảm bảo an toàn cho khoản đầu t đó. Đảm bảo an toàn là không chỉ bảo

toàn vốn đầu t về danh nghĩa, mà còn là bảo toàn về cả giá trị thực tế, điều

này càng có ý nghĩa quan trọng trong thời kì lạm phát. Nói cách khác thì đầu

t quỹ phải lựa chọn lĩnh vực để giảm thiểu rủi ro.

+ Hiệu quả: Đây là mục tiêu của việc đầu t tăng trởng quỹ do vậy nguyên

tắc này rất quan trọng và phải đợc đi liền với nguyên tắc thứ nhất. Lãi đầu t

không chỉ góp phần đảm bảo khả năng thanh toán cho các khoản chi mà còn

góp phần cho phép hạ tỉ lệ đóng góp của ngời lao động và ngời sử dụng lao

động.

+ Khả năng thanh toán (tính lu chuyển của vốn): Đây cũng là yêu cầu đặc

thù của nghành do các khoản chi trả là phát sinh sau và kéo dài nên các

khoản đầu t phải đảm bảo tính thanh khoản để dễ dàng chi trả cho các đối tợng kịp thời. Đặc biệt tránh những khoản đầu t dễ vớng vào những vấn đề tồn

khoản. Các hình thức đầu t dễ thanh khoản và an toàn thờng đợc u tiên thực

hiện trớc.

+ Có lợi ích kinh tế, xã hội: Là một quỹ tài chính để thực hiện chính sách

xã hội, do đó trong quá trình đầu t phải lu ý đến việc nâng cao phúc lợi cho

ngời dân, phải ra sức cải thiện chất lợng chung cho đời sống dân c của đất nớc. Các hình thức, hạng mục đầu t phải đặt vấn đề hiệu quả kinh tế xã hội lên

hàng đầu. Hoạt động đầu t tăng trởng quỹ BHXH khác với các hoạt động đầu

t khác với mục tiêu lợi nhuận làm đầu vì BHXH chính là một chính sách

quan trọng trong hệ thống An sinh xã hội của mỗi nớc.

2. Nội dung quản lí tài chính BHXH.

sau:



Nhìn chung, quản lí tài chính BHXH bao gồm bốn nội dung cơ bản



Đại học Kinh tế quốc dân



Luận văn tốt nghiệp



- Quản lí thu BHXH.

- Quản lí chi BHXH.

- Quản lí hoạt động đầu t tăng trởng quỹ.

- Quản lí cân đối quỹ BHXH.

2.1. Quản lí thu BHXH.

Quản lí thu giữ vai trò quan trọng và quyết định đến sự thành công của

quá trình thu BHXH, từ đó quyết định đến sức mạnh quỹ BHXH để đảm bảo

cho việc chi trả cho các chế độ trợ cấp. Trớc tiên chúng ta phải nắm đợc nội

dung thu gồm hai khoản thu từ ngời lao động và ngời sử dụng lao động. Đây

là khoản thu lớn nhất và đóng vai trò quan trọng, quyết định. Các khoản thu

khác nh: thu từ các quỹ của các tổ chức, cá nhân từ thiện hay sự hỗ trợ của

NSNN là nhỏ, NSNN chỉ bù đắp cho những trờng hợp cần thiết. Hơn nữa đây

là khoản thu mà tổ chức BHXH cũng không thể tự điều chỉnh đợc vì nó

mang tính thụ động. Do vậy mà công tác quản lí thu chỉ tập chung vào nguồn

thu từ hai đối tợng chính ngời lao động và ngời sử dụng lao động. Nội dung

của quản lí thu lại tập chung vào ba đối tợng chính sau đây:

Quản lí đối tợng tham gia BHXH: Đây là việc đầu tiên mà mỗi tổ

chức BHXH khi thực hiện quan tâm đến, thờng các đối tợng này đợc quy

định rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nớc. Hơn thế nữa

BHXH cũng hoạt động trên nguyên tắc san sẻ rủi ro và tuân theo quy luật số

đông bù số ít nên việc tham gia đầy đủ của các đối tợng tham gia BHXH là

việc rất quan trọng. Quản lí đối tợng tham gia cần thực hiện các công việc

sau:

+ Quản lí số lợng đăng kí tham gia BHXH.

+ Quản lí đối tợng bắt buộc tham gia BHXH theo quy định.

+ Quản lí công tác cấp sổ BHXH: Vì đây là căn cứ xác định quá trình

đóng góp, ngành nghề lao động, thời gian lao động, tên ngời lao động và một

số thông tin khác.

Quản lí quỹ lơng của các doanh nghiệp: Theo những quy định hiện

hành nh ngày nay thì phí thu BHXH thờng đợc tính theo phần trăm tổng quỹ

lơng của doanh nghiệp và tiền lơng tháng của ngời lao động nên quỹ lơng

còn là cơ sở để quản lí thu một cách thuận lợi. Dựa trên quỹ lơng của doanh

nghiệp BHXH có thể đảm bảo thu đúng, thu đủ và hạn chế đợc tình trạng

gian lận trốn đóng BHXH. Bên cạnh đó chính các doanh nghiệp trở thành

những đại lí thực hiện thu và chi trả trực tiếp cho một vài chế độ là thực sự

thuận lợi cho công tác thu phí nói riêng và công tác thực hiện các chế độ

BHXH nói chung.



Đại học Kinh tế quốc dân



Luận văn tốt nghiệp



Quản lí tiền thu BHXH: Các đơn vị, doanh nghiệp sẽ thực hiện nộp

phí thông qua tài khoản của BHXH. Do vậy, BHXH khó nắm bắt đợc tình

hình thu. Để đảm bảo thu đúng, thu đủ, kịp thời cần có những quy định rõ

ràng về thời gian nộp, hệ thống tài khoản thu nộp phải thuận lợi và an toàn

cho việc nộp. Việc nắm bắt tình hình thu BHXH giúp quản lí quỹ dễ dàng,

kịp thời điều chỉnh và đảm bảo cho công tác chi trả đợc thực hiện một cách

tốt nhất. Trong nội dung quản lí thu BHXH, tất cả các đóng góp BHXH sẽ đợc quản lí chung một cách thống nhất, dân chủ, công khai trong toàn hệ

thống.

2.2. Quản lí chi BHXH.

Các khoản chi BHXH bao gồm các khoản chi cho các chế độ, chi quản

lí và chi khác. Trong đó có thể nói hai khoản chi đầu là rất lớn đặc biệt là chi

cho các chế độ, hơn nữa khoản chi này chính là thể hiện sự bảo đảm cuộc

sống của chính sách BHXH. Vì vậy nhắc đến quản lí chi là nhắc đến hai nội

dung chính sau:

Quản lí hoạt động chi trả cho các chế độ: Mục tiêu của hoạt động

quản lí chi không với mục đích giảm khoản chi này một cách lớn nhất có thể

mà quản lí để tránh tình trạng chi sai chế độ hoặc chi không đúng đối tợng

vừa tránh lãng phí lại đảm bảo công bằng cho các đối tợng tham gia BHXH.

Do vậy, để đảm bảo chi trả trợ cấp đúng chế độ, đúng đối tợng, kịp thời cần

có phơng thức chi hợp lí, tổ chức thực hiện chi trả cho các chế độ thuận lợi,

dễ dàng. Cũng nh quản lí hoạt động thu trớc tiên chúng ta phải quản lí những

đối tợng đợc hởng các chế độ BHXH. Đối tợng có thể hởng các chế độ chính

là bản thân ngời lao động hoặc ngời thân trong gia đình họ. Đối tợng đợc hởng các chế độ trợ cấp là những ngời lao động tham gia đóng phí BHXH và

gặp phải những rủi ro làm mất hoặc giảm khả năng lao động dẫn đến mất

hoặc giảm thu nhập của họ. Các điều kiện hởng đợc quy định cụ thể trong

các văn bản, thờng thì mức trợ cấp, loại trợ cấp và thời gian trợ cấp thì phụ

thuộc vào mức đóng góp, thời gian đóng góp, mức độ hay tỉ lệ thơng tật,...và

chính biến cố mà ngời lao động gặp phải. BHXH Việt Nam muốn quản lí tốt

cần có những văn bản quy định rõ ràng và hợp lí về các điều kiện hởng của

các loại chế độ, dựa trên cơ sở đó để xử lí các trờng hợp cho công bằng. Đối

tợng hởng cần đợc xem xét và kiểm tra nhằm tránh tình trạng chi sai hoặc chi

không hợp lí. Quản lí chi cho các chế độ cũng cần đợc phân loại và phân cấp

quản lí để dễ quản lí và thực hiện chi trả cho thuận tiện.

Quản lí chi hoạt động bộ máy: Sau chi cho các chế độ thì đây là

khoản chi lớn thứ hai cần đợc quản lí. Chi quản lí có thể hiểu đơn giản là

khoản chi cho bộ máy tức là trả lơng cho cán bộ, chi cho đầu t xây dựng cơ

bản, chi mua sắm thiết bị và những tài sản cố định nhằm duy trì hoạt động

của tổ chức BHXH. Mức chi này có thể đợc quy định trong điều lệ BHXH



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (55 trang)

×