1. Trang chủ >
  2. Kinh tế - Quản lý >
  3. Tài chính - Ngân hàng >

tài chính BHXH tại Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (312.06 KB, 55 trang )


Đại học Kinh tế quốc dân



Luận văn tốt nghiệp



Đến ngày 27/12/1961, Chính phủ ban hành Điều lệ BHXH tạm thời về

các chế độ BHXH cho cán bộ, công nhân viên kèm theo Nghị định 218/ CP.

Tiếp theo đó là Nghị định 161/CP ngày 30/10/1964 ban hành Điêu lệ BHXH

tạm thời đối với quân nhân. Nh vậy đối tợng đợc tham gia BHXH đã mở

rộng, và áp dụng cho 6 loại chế độ gồm: hu trí, mất sức lao động, tử tuất, ốm

đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Nh vậy là các chế độ

của BHXH Việt Nam đợc triển khai khá đầy đủ từ rất sớm. Hơn nữa tài chính

thời kì này bắt đầu quy định có sự đóng góp một phần của các xí nghiệp,

phần còn lai vẫn do NSNN cấp. Đến năm 1985 cùng với cải cách tiền lơng,

Hội đồng Bộ trởng đã ban hành Nghị định 236/HĐBT có những sửa đổi bổ

xung quan trọng nh tăng tỉ lệ đóng góp của các đơn vị sản suất kinh doanh.

Tuy vậy, thời kì này do nhiều nguyên nhân khác nhau, chủ yếu là sản xuất

gặp khó khăn, làm ăn thua lỗ cộng với cơ chế quản lí bao cấp không hiệu quả

nên BHXH hầu nh không có thu và NSNN vẫn phải bù cấp là chính. Đây

cũng là giai đoạn tổ chức quản lí BHXH không ổn định, ro nhiều Bộ ngành

khác nhau đảm nhiệm ( Bộ nội vụ, Bộ Lao động Thơng binh và Xã hôi, Bộ

tài chính, Bộ Y tế và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam). Song chịu trách

nhiệm quản lí chính là Bộ Lao động Thơng binh và Xã hôi và Tổng Liên

đoàn lao động Việt Nam.

Đại hội Đảng toàn quốc lần th VI ( tháng 12/1986) đề ra đờng lối đổi

mới toàn diện, xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế

mới phù hợp với quy luật khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế.

Cùng với sự đổi mới chung của đất nớc, chính sách BHXH cũng có những

chuyển biến. Nội dung cải cách lần này tập trung vào cải cách cơ chế bao

cấp trong quản lí, mở ra loại hình BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Đến

ngày 22/6/1993 Chính phủ ban hành Nghị định 43/CP về những quy định

tạm thời chế độ BHXH. Trong đó có quy định tăng mức đóng BHXH và đặc

biệt ngời lao động phải đóng BHXH. Cơ chế hoạt động của BHXH đợc quy

định trong chơng XII của Bộ Luật lao động do Quốc hội khoá IX thông qua

ngày 23/6/1994, sau đó đợc cụ thể hoá trong Điều lệ BHXH và hai Nghị định

12/CP và 45/CP ban hành năm 1995. Từ đây ngành BHXH Việt Nam chuyển

sang trang mới trong lịch sử phát triển của mình.

1.2. BHXH Việt Nam giai đoạn sau 1995.

Đây là giai đoạn chính sách và quản lí hoạt động BHXH có những đổi

mới thực sự từ cơ chế tập chung, bao cấp không đóng BHXH vẫn đợc hởng

BHXH sang hoạt động theo nguyên tắc có đóng có hởng, có chia sẻ rủi ro.

Về quản lí hoạt động BHXH từ chỗ phân tán do nhiều cơ quan khác nhau

đảm nhận, nay tập chung thống nhất về một đầu mối là BHXH Việt Nam.

Trên cơ sở quy định đóng BHXH, chính sách thời kì này xác lập rõ cơ chế

hình thành và sử dụng quỹ BHXH. Theo đó quỹ BHXH Việt Nam do BHXH

Việt Nam quản lí chỉ chịu trách nhiệm đối với ngời lao động từ năm 1995 trở



Đại học Kinh tế quốc dân



Luận văn tốt nghiệp



đi, còn NSNN đảm bảo chi trả cho những đối tợng nghỉ làm việc trớc năm

1995.

BHXH Việt Nam mở rộng đối tợng tham gia, bao gồm thêm các doanh

nghiệp kinh tế có sử dụng 10 lao động trở lên ( hiện nay là bắt buộc đối với

mọi doanh nghiệp có sử dụng lao động); cán bộ xã phờng, thị trấn; các lao

động làm việc trong các cơ sở Y tế, Giáo dục, Văn hoá và Thể thao ngoài

công lập. BHXH cũng quy định lại hiện nay chỉ còn 5 chế độ trợ cấp : ốm

đau; tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; thai sản; hu trí và tử tuất (bỏ chế

độ nghỉ mất sức lao động). Điều lệ BHXH và hai Nghị định 12/CP và 45/CP

là những quy định pháp lí đợc thực hiện đến nay và chỉ có những sửa đổi

nhỏ.

Với mục đích:

+Thực hiện cải cách tổ chức bộ máy của Chính phủ trong tình hình

mới trong chơng trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nớc giai đoạn 20012010.

+Phục vụ và đáp ứng yêu cầu tốt hơn cho ngời tham gia BHXH, BHYT

và tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức sủ dụng ngời lao

động đóng bảo hiểm theo quy định của pháp luật.

+Phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của cả hệ thống

BHXH và BHYT.

Ngày 24/1/2002 Thủ tớng Chính phủ ban hành Quyết định số 20/2002/

QĐ- TTg về việc chuyển BHYT sang BHXH Việt Nam.

Ngày 16/12/2002 Chính phủ ban hành Nghị định số 100/CP quy định

chức năng, nhiệm cụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt Nam.

Trong đó khẳng định BHXH Việt Nam là cơ quan sự nghiệp thuộc Chính

phủ, có chức năng thực hiện chính sách, chế độ BHXH, BHYT (gọi chung là

BHXH) và quản lí Quỹ BHXH theo quy định của pháp luật. Đến tháng

1/2003 Thủ tớng Chính phủ tiếp tục ra Quyết định số 02/2003/QĐ- TTg ban

hành về quy chế quản lí tài chính đối với BHXH Việt Nam. Kèm theo đó là

Quy chế quản lí tài chính đối với BHXH Việt Nam bao gồm những quy định

chung áp dụng trong quản lí tài chính.

2. Chính sách BHXH Việt Nam từ năm 1995 đến nay.

Nghị định số 12/CP ban hành ngày 26/1/1995 của chính phủ ban hành

Điều lệ BHXH áp dụng đối với cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nớc và mọi

ngời lao động theo loại hình BHXH bắt buộc để thực hiện thống nhất trong

cả nớc. Các chế độ BHXH trong Điều lệ này gồm có: chế độ trợ cấp ốm đau,

chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ cấp tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp,

chế độ trợ cấp hu trí, chế độ trợ cấp tử tuất. Những ngời làm việc ở những



Đại học Kinh tế quốc dân



Luận văn tốt nghiệp



đơn vị, tổ chức sau đây là những đối tợng phải tham gia BHXH bắt buộc: các

doanh nghiệp Nhà nớc, các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế ngoài

quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên, ngời Việt Nam làm việc trong

các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, các tổ chức nớc ngoài, tổ chức

quốc tế tại Việt Nam, các tổ chức kinh doanh dịch vụ, doanh nghiệp thuộc

các cơ quan hành chính sự nghiệp, đảng đoàn thể, lực lợng vũ trang, các đơn

vị hành chính sự nghiệp, đảng, đoàn thể, tổ chức chính trị, chính trị- xã hội.

Ngày 15/7/1995 Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định 45/CP về Điều

lệ BHXH đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân

đội nhân dân, công an nhân dân. Các chế độ BHXH này gồm có: chế độ trợ

cấp ốm đau, chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ cấp tai nạn lao động- bệnh

nghề nghiệp, chế độ hu trí, chế độ tử tuất.

Nghị định số 09/ 1998/NĐ- CP ngày 23/1/1998 của Chính phủ sửa đổi,

bổ xung một số điều củ Nghị định 50/CP ngày 26/7/2995 của Chính phủ về

chế độ sinh hoạt phí đối cới cán bộ xã, phờng, thị trấn. Cán bộ cấp xã tham

gia đóng BHXH và hởng chế độ hu trí và mai táng là những cán bộ làm công

tác Đảng, chính quyền và trởng các đoàn thể: Chủ tịch Mặt trận, Hội trởng

hội phụ nữ, Hội trởng hội nông dân, Hội trởng Hội Cựu chiến binh, Bí th

đoàn THCS Hồ Chí Minh và các cán bộ chc danh chuyên môn là Văn phòng

Uỷ ban nhân dân xã, địa chính, t pháp, tài chính- kế toán.

Chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh

vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao đợc quy định trong Nghị định số 73/

1999/ NĐ- CP ngày 19/8/1999. Nghị định này cho phép thành lập các cơ sở

ngoài công lập dới các hình thức nh bán công, dân lập, t nhân hoạt động

trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao nhng phải phù hợp với

quy hoạch của Nhà nớc, không theo mục đích thơng mại và đúng theo quy

định của của pháp luật. Ngời lao động làm việc trong các cơ sở ngoài công

lập đợc tham gia và hởng mọi quyền lợi về BHXH nh ngời lao động trong

các đơi vị công lập.

Đối với ngời lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn

ở nớc ngoài phải tham gia BHXH bắt buộc và đợc hởng các chế độ BHXH hu

trí và tử tuất. Điều này đợc quy định trong Nghị định số 52/1999/ NĐ- CP

ban hành ngày 20/9/1999.

Ngày 15/12/2000 Chính phủ ban hành Nghị định số 77/2000/NĐ- CP

về việc điều chỉnh mức tiền lơng tối thiểu, mức trợ cấp, và sinh hoạt phí đối

với các các đối tợng hởng lơng, phụ cấp, trợ cấp và sinh hoạt phí. Trong đó

có quy định tăng mức tiền lơng tối thiểu từ 180 000 đồng lên 210 000 đồng/

tháng. Cùng năm đó Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 71/2000/ NĐCP quy định việc kéo dài thời gian công tác của cán bộ công chức đến độ

tuổi nghỉ hu. Tức là cán bộ công chức đến tuổi nghỉ hu đợc xem xét kéo dài



Đại học Kinh tế quốc dân



Luận văn tốt nghiệp



thêm thời gian công tác đối với các đối tợng làm công tác nghiên cứu, những

ngời có học vị tiến sĩ, chức danh Giáo s, Phó giáo s, những ngời có tài năng.

Thời gian kéo dài có thể từ 1 đến 5 năm với điều kiện cơ quan, tổ chức, đơn

vị sử dụng có nhu cầu và cán bộ, công chức đó tự nguyện và có đủ sức khoẻ

để làm việc.

Năm 2001 Chính phủ tiếp tục ra hai Nghị định 04/2001/NĐ-CP và

61/2001/NĐ-CP. Nghị định 04 quy định chi tiết về một số điều của Luật Sĩ

quan Quân đội nhân dân Việt Nam năm 1999 về chế độ chính sách đối với sĩ

quan thôi phục vụ tại ngũ, sĩ quan chuyển sang quân nhân chuyên nghiệp

hoặc công chức quốc phòng. Nghị định 61 quy định về tuổi nghỉ hu của ngời

lao động khai thác hầm lò. Tuổi nghỉ hu là 50, đủ 20 năm đóng BHXH và có

ít nhất 15 năm làm công việc nêu trên. Tuổi nghỉ hu có thể tăng lên nhng

không quá 55 khi ngời lao động không đủ số năm đóng BHXH.

Nghị định 100/ 2002/ NĐ- CP ngày 06/12/2002 của Chính phủ quy

định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BHXH Việt

Nam. Trong đó nêu rõ các vị trí, chức năng, có 19 điểm quy định quyền hạn

và nhiệm vụ của BHXH Việt Nam.

Ngày 9/9/2003 Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2003/NĐ- CP đã

sửa đổi, bổ xung một số điều của Điều lệ BHXH Việt Nam.

3. Cơ cấu tổ chức, quản lí của BHXH Việt Nam.

Bộ Lao động- Thơng binh và Xã hội là cơ quan của Chính phủ thực

hiện việc quản lí Nhà nớc về BHXH: xây dựng và trình ban hành pháp luật về

BHXH; ban hành các văn bản pháp quy về BHXH thuộc thẩm quyền; hớng

dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện BHXH. Chính phủ thành lập hệ thống

tổ chức BHXH thống nhất để quản lí quỹ và thực hiện các chế độ, chính sách

về BHXH theo quy định của pháp luật.

Theo điều 3, Nghị định số 100/2002/ NĐ- CP có quy định: BHXH

Việt Nam đợc tổ chức, quản lí theo hệ thống dọc, tập trung, thống nhất từ

Trung ơng tới địa phơng, gồm có ba cấp:

1. Cấp Trung ơng là BHXH Việt Nam.

2. Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ơng là BHXH tỉnh, thành phố

trực thuộc Trung ơng ( gọi chung là BHXH tỉnh) trực thuộc BHXH

Việt Nam.

3. Cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh là BHXH huyện,

quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh ( gọi chung là BHXH

huyện) trực thuộc BHXH tỉnh.

BHXH Việt Nam đợc tổ chức thành hệ thống ngành dọc từ Trung ơng

xuống địa phơng. Cơ quan quản lí là Hội đồng quản lí BHXH Việt Nam,



Đại học Kinh tế quốc dân



Luận văn tốt nghiệp



chịu trách nhiệm trực tiếp trớc Thủ tớng Chính phủ về các hoạt động chỉ đạo,

điều hành và quản lí của mình. Tổng giám đốc là đại diện pháp nhân của

BHXH Việt Nam, do Thủ tớng Chính phủ bổ nhiệm theo đề nghị của Hội

đồng quản lí. Tổng giám đốc chịu trách nhiệm trớc Thủ tớng Chính phủ và

Hội đồng quản lí về thực hiện chính sách, chế độ BHXH và quản lí quỹ

BHXH theo quy định của pháp luật.

Giúp việc cho tổng giám đốc là các Phó tổng giám đốc và các phòng

ban nghiệp vụ chuyên môn. Bộ máy quản lí giúp việc cho Tổng giám đốc tại

BHXH Việt Nam hiện nay gồm có:

1. Ban Chế độ chính sách BHXH.

2. Ban Kế hoạch- Tài chính.

3. Ban thu BHXH.

4. Ban chi BHXH.

5. Ban BHXH tự nguyện.

6. Ban giám định Y tế.

7. Ban tuyên truyền BHXH.

8. Ban Hợp tác quốc tế.

9. Ban Tổ chức cán bộ.

10.Ban kiểm tra.

11. Văn phòng.

12.Trung tâm Nghiên cứu khoa học BHXH.

13. Trung tâm Công nghệ thông tin.

14.Trung tâm đào tạo và bồi dỡng nghiệp vụ BHXH.

15.Trung tâm lu trữ.

16.Báo BHXH.

17.Tạp chí BHXH.

Theo điều 9 Nghị định 100/2002/NĐ- CP, tổ chức BHXH tỉnh và

BHXH huyện đợc tổ chức và hoạt động theo quy định của Tổng giám đốc.

BHXH tỉnh, BHXH huyện cũng có t cách pháp nhân, có dấu, có tài khoản và

trụ sở riêng.



Đại học Kinh tế quốc dân



Luận văn tốt nghiệp



Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lí BHXH Việt Nam

(Theo Nghị định số 100/2002/CP- NĐ ngày 6/12/2002 của Chính Phủ)



Chnh phủ



Hội đồng quản lý



Tổng giám đốc



Các Phó tổng

giám đốc

- Ban chế độ, chính sách BHXH

- Ban Kế hoạch - Tài chính

- Ban Thu BHXH

- Ban Chi BHXH

- Ban BHXH tự nguyện

- Ban Giám định y tế

- Ban Tuyên truyền BHXH

- Ban Hợp tác quốc tế

- Ban Tổ chức - Cán bộ

- Ban Kiểm tra

- Văn phòng

- Trung tâm Nghiên cứu khoa học BHXH

- Trung tâm CNTT

- Trung tâm Đào tạo và bồi dỡng NVBHXH

- Trung tâm lu trữ

- Báo BHXH

- Tạp chí BHXH

- Đại diện BHXHVN tại TP. HCM



Bảo hiểm xã hội

Việt Nam



Giám đốc

Các Phó

giám đốc



Bảo hiểm xã hội

cấp tỉnh



- Phòng Chế độ, chính sách

- Phòng Kế hoạch - Tài chính

- Phòng Thu

- Phòng Giám định chi

- Phòng Bảo hiểm tự nguyện

- Phòng CNTT

- Phòng Kiểm tra

- Phòng Tổ chức - Hành chính



Giám đốc

II. Thực trạng của công tác quản lí tài chính BHXH Việt Nam.



Bảo hiểm xã hội

cấp huyện



Các Phó

giám đốc

Các công chức - viên chức



Đại học Kinh tế quốc dân



Luận văn tốt nghiệp



1. Công tác quản lí thu.

Quản lí thu BHXH Việt Nam bao gồm: quản lí đối tợng tham gia,

quản lí quỹ lơng của các đơn vị, quản lí tiền thu BHXH.

1.1.Quản lí đối tợng tham gia.

Đối tợng tham gia là những cá nhân, tổ chức có trách nhiệm đóng

góp để tạo lập quỹ BHXH. Hiện nay BHXH hiện chia các đối tợng này thành

hai loại là: đối tợng tham gia BHXH tự nguyện và đối tợng tham gia BHXH

bắt buộc.

Đối tợng tham gia BHXH bắt buộc: là những ngời lao động và ngời

sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia đóng góp BHXH theo pháp luật

BHXH. Hiện nay đối tợng áp dụng BHXH bắt buộc gồm:

- Ngời lao động làm việc theo hợp động lao động có thời hạn đủ ba tháng

trở lên và hợp đồng lao động không xác định thời hạn trong các doanh

nghiệp, cơ quan, tổ chức sau:

+ Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nớc.

+ Doanh nghiệp thành lập, hoạt động thẹo Luật Doanh nghiệp.

+ Doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo Luật Đầu t nớc ngoài tại

Việt Nam.

+ Doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội.

+ Hộ sản xuất, kinh doanh cá thể, tổ hợp tác.

+ Các cơ quan hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính

trị- xã hội, tổ chức chính trị- xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp,

tổ chức xã hội khác, lực lợng vũ trang.

+ Cơ sở bán công, dân lập, t nhân thuộc các ngành văn hoá, y tế, giáo

dục, đào tạo, khoa học, thể dục, thể thao và các ngành sự nghiệp khác.

+ Trạm y tế xã, phờng, thị trấn.

+Cơ quan tổ chức nớc ngoài hoặc tổ chức quốc tế tại Việt Nam, trừ trờng hợp Điều ớc quốc tế mà nớc ta kí kết hoặc tham gia có quy định khác.

+ Các tổ chức khác có sử dụng lao động.

- Cán bộ, công chc, viên chức theo Pháp lệnh Cán bộ, công chức.

- Ngời lao động, xã viên làm việc và hởng tiền công theo hợp đồng lao

động từ đủ ba tháng trở lên trong các hợp tác xã thành lập, hoạt động theo

Luật Hợp tác xã.



Đại học Kinh tế quốc dân



Luận văn tốt nghiệp



- Ngời lao động làm việc tại các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức theo các

hợp đồng có thời hạn dới ba tháng khi hết hợp đồng lao động mà ngời lao

động tiếp tục làm việc hoặc giao kết hợp đồng mới đối với doanh nghiệp,

tổ chức, cơ quan đó thì phải tham gia BHXH bắt buộc.

- Ngời lao động ở trên đi thực tâp, học, công tác, điều dỡng trong và ngoài

nớc mà vẫn hởng tiền lơng hoặc tiền công thì cũng thuộc đối tợng thực

hiện BHXH bắt buộc.

- Các đối tợng lao động tại các doanh nghiệp nông nghiệp, ng nghiệp, lâm

nghiệp, diêm nghiệp đợc hởng tiền công, tiền lơng theo hợp đồng lao

động từ đủ ba tháng trở lên.( Đối với các lao động làm việc tại các doanh

nghiệp nông nghiệp, ng nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp đã thực hiện

giao khoán đất có quy định riêng).

Đối tợng tham gia BHXH tự nguyện: là ngời lao động và ngời sử

dụng lao động không thuộc đối tợng quy định bắt buộc nhng tự nguyện

tham gia BHXH cho chính họ và ngời lao động của họ. Họ có những đặc

điểm sau:

+ Những ngời này thờng thuộc khu vực lao động phi chính thức.

+ Công việc của họ phần lớn là thất thờng và rất lu động. Thu nhập

nhìn chung là thấp và không ổn định.

+ Vì không có ngời sử dụng lao động nên việc tham gia BHXH của

những đối tợng này hoàn toàn không có sự đóng góp của ai khác ngoài chính

bản thân họ.

Vì vậy những đối tợng này thờng khó quản lí và khó thực hiện các

công tác thu nộp cũng nh chi trả cho các đối tợng. Việc triển khai thực hiện

BHXH đối với các đối tợng này còn gặp nhiều khó khăn, song với mục tiêu

tiến đến thực hiện BHXH toàn dân, BHXH Việt Nam đang nghiên cứu trển

khai và áp dụng những biện pháp hữu hiệu đối với loại đối tợng này.

BHXH Việt Nam có những biện pháp quản lí các đối tợng tham gia

thông qua việc cấp sổ BHXH. Đây không chỉ là cách quản lí về số lợng mà

còn quản lí cả thời gian công tác, ngành nghề công tác, mức đóng, từ đó làm

căn cứ để chi trả cho các đối tợng. Việc quản lí cấp sổ đợc thực hiện thống

nhất trên phạm vi cả nớc, các thông tin trong sổ mang tính chính xác. Quản lí

việc cấp sổ là trách nhiệm của cả ngời sử dụng lao động và cơ quan BHXH.

Về phía ngời sử dụng lao động là việc quản lí danh sách ngời lao động đợc

cấp sổ cùng với mức lơng làm căn cứ xác định mức đóng BHXH và thực hiện

báo cáo định kì về sự biến động số lợng lao động. Về phía cơ quan BHXH là

theo dõi việc cấp phát sổ BHXH theo phân cấp và thực hiện báo cáo định kì

lên cơ quan BHXH cấp trên về tình hình cấp sổ. Theo quy định của Việt Nam



Đại học Kinh tế quốc dân



Luận văn tốt nghiệp



hiện nay quy trình cấp sổ do cơ quan BHXH cấp tỉnh thực hiện gồm sáu bớc,

đảm bảo tính thống nhất trong toàn quốc, tránh những hiện tợng khai man,

trờng hợp giả giấy tờ để trục lợi từ BHXH. Cụ thể:

Bớc 1: Lập và kiểm tra danh sách ngời lao động và ngời sử dụng lao

động phải tham gia theo luật định.

Bớc 2: Chuẩn bị sổ cả về số lợng, chất lợng, đóng dấu giáp lai và ghi

sổ BHXH.

Bớc 3: Cơ quan BHXH chịu trách nhiệm phổ biến cho ngời lao động

linh hoạt kê khai một cách thống nhất.

Bớc 4: Xét duyệt và ghi sổ ban đầu.

Bớc 5: Kí nhận của ngời lao động.

Bớc 6: Kí xác nhận của ngời sử dụng lao động và cơ quan BHXH.

Chúng ta có thể tìm hiểu công tác quản lí đối tợng tham gia thông qua

bảng số liệu 1:

Bảng 1: Tình hình tham gia BHXH Việt Nam giai đoạn 1995- 2004.

Năm

1995

1996

1997

1998

1999

2000

2001

2002

2003

2004



Tổng số ngời

tham gia BHXH

( ngời)

2.275.998

2.821.444

3.162.352

3.392.224

3.579.397

3.771.390

4.075.925

4.564.400

5.070.433

6.344.508



Tốc độ tăng tuyệt Tốc độ tăng tơng

đối số ngời tham

đối số ngời tham

gia ( ngời)

gia (%)

----545.446

23,97

340.908

12,08

229.872

7,27

187.173

5,52

191.993

5,36

340.535

8,07

488.475

11,98

506.033

11,09

1.274.075

25,13

( Nguồn BHXH Việt Nam)



Qua bảng 1 ta thấy số ngời tham gia BHXH ngày càng tăng đây cũng

là một kết quả tốt của BHXH Việt Nam. Năm 1995 mới chỉ có 2.275.998 ngời tham gia đến nay BHXH Việt Nam đã có 6.344.508 ngời tham gia (ngày

31/12/2004), nh vậy là chỉ trong 10 năm số ngời tham gia đã tăng lên gấp

gần 3 lần. Đặc biệt là năm 2004 số ngời tham gia tăng 25,13% so với năm



Đại học Kinh tế quốc dân



Luận văn tốt nghiệp



2003, qua bảng trên ta có thể nhận thấy số ngời tham gia BHXH Việt Nam

ngày càng tăng. Trong đó số lao động tham gia BHXH bắt buộc đạt 5,7 triệu

ngời; tăng 406.000 ngời (tăng 8%) so với năm 2003. Trong đó có 122.000

ngời làm việc trong các doanh nghiệp quốc doanh ( tăng 23%), 115.000 ngời

làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoàI (tăng 16%) và 3.723

ngời làm việc trong các hợp tác xã ( tăng 40%). Số ngời tham gia BHYT tự

nguyện đạt 6,2 triệu, tăng 28% so với năm 2003, trong đó có 5,9 triệu học

sinh, sinh viên và 300 ngàn ngời là thành viên hộ gia đình, các hội đoàn thể.

Nh vậy là việc quản lí đối tợng tham gia có hiệu quả, sau đổi mới ngời lao

động ý thức đợc tầm quan trọng cũng nh những lợi ích mà họ nhận đợc. Tuy

số ngời tham gia tăng nhanh song nhìn chung tại các địa phơng thì công tác

mở rộng đối tợng tham gia là còn nhiều hạn chế. Đặc biệt là các đối tợng lao

động trong tổ hợp tác, hộ sản xuất kinh doanh cá thể thuộc đối tợng tham gia

BHXH bắt buộc. Nhng theo thống kê, hiện nay chỉ có khoảng 300.000 đơn vị

tổ hợp tác nhỏ ( chỉ sử dụng bình quân khoảng 3 lao động) trong số 405.562

đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh, do vậy quản lí đối tợng tham gia này gặp

rất nhiều khó khăn.

1.2. Quản lí quỹ lơng của doanh nghiệp.

Với hai loại đối tợng tham gia BHXH ở nớc ta hiện nay, phơng thức

thu nộp đợc chia thành hai loại:

Thứ nhất là thu trực tiếp: Theo phơngthc này cán bộ chuyên trách thu

của cơ quan BHXH sẽ trực tiếp thu những đóng góp của những ngời tham gia

BHXH. Hình thức này hay đợc áp dụng cho đối tợng tham gia BHXH tự

nguyện, không có chủ sử dụng lao động.

Thứ hai là thu gián tiếp qua đại lí thu: Đây là phơng thức thu chủ yếu

của BHXH Việt Nam. Đại lí thu của BHXH chủ yếu là các chủ sử dụng lao

động. Trớc tiên chủ sử dụng lao động thu của ngời lao động sau đó chuyển

toàn bộ đóng góp của cả ngời lao động và ngời sử dụng lao động cho cơ quan

BHXH. Thực hiện nh vậy là rất thuận tiện cho cơ quan BHXH, vì chính chủ

sử dụng lao động quản lí trực tiếp lao động của mình, thông qua quỹ lơng

của doanh nghiệp ngời sử dụng lao động khấu trừ luôn phần phí đóng BHXH

của ngời lao động theo % mức tiền lơng của họ. Đại lí cũng có thể là cơ

quan, tổ chức, hiệp hội, đoàn thể có liên quan nh bu điện, ngân hàng, ... song

các đại lí thu này không phổ biến.

Nh vậy quản lí quỹ lơng của doanh nghiệp vừa quản lí đợc đối tợng

tham gia vừa quản lí đợc số thu của BHXH Việt Nam. Tiền thu sẽ đợc trích

theo % tổng quỹ lơng của doanh nghiệp, sau đó trực tiếp chuyển khoản lên

tài khoản của cơ quan BHXH. Đây cũng là phơng thức nộp phổ biến nhất

hiện nay. Quy định hiện nay sau khi chính thức chuyển BHYT về BHXH,



Đại học Kinh tế quốc dân



Luận văn tốt nghiệp



tổng mức phí thu hiện nay là 23% tổng quỹ lơng của doanh nghiệp. Trong

đó, đóng BHXH là ngời lao động 5%, ngời sử dụng lao động 15%; đóng

BHYT bắt buộc là ngời lao động 1%, ngời sử dụng lao động 2%.

1.3. Quản lí tiền thu BHXH.

Tại Việt Nam hiện nay hình thức thu nộp chủ yếu là chuyển khoản

thông qua ngân hàng. BHXH Việt Nam hình thành các tài khoản chuyên

thu, các tài khoản này đợc mở tại các NHNN hoặc tại Kho bạc. Tuỳ theo

thực tế của từng địa phơng mà cơ quan BHXH sẽ mở tài khoản có thể là ở

cấp tỉnh hoặc cả cấp huyện. Về cơ bản BHXH sẽ không thu nộp bằng tiền

mặt, ngân phiếu hay hiện vật, trong trờng hợp đặc biệt ngời sử dụng lao động

nộp bằng tiền mặt hoặc ngân phiếu thì cơ quan BHXH phải có hớng dẫn cụ

thể để ngời sử dụng lao động nộp trực tiếp vào tài khoản chuyên thu BHXH.

Định kì hàng tháng ngời sử dụng lao động sau khi trả lơng cho ngời lao động

sẽ nộp tiền BHXH bằng cách chuyển tiền từ tài khoản của họ ở một ngân

hàng hay kho bạc sang tài khoản chuyên thu BHXH. Sau đó cơ quan BHXH

cấp huyện và cấp tỉnh sẽ phải chuyển số thu này lên cơ quan BHXH cấp trên

mà không đợc sử dụng tiền thu để chi bất cứ việc gì. BHXH huyện sẽ chuyển

khoản vào ngày 10 và 25 hàng tháng, ngày làm việc cuối cùng của năm phải

chuyển toàn bộ số thu lên BHXH tỉnh. BHXH tỉnh định kì chuyển số thu lên

BHXH Việt Nam vào ngày 10, 20 và ngày cuối cùng của tháng. BHXH Việt

Nam định kì chuyển toàn bộ số thu vào quỹ BHXH mở tại kho bạc Nhà nớc.

Theo điều 11, chơng hai của Quy chế quản lí tài chính BHXH Việt

Nam có quy định: Quỹ BHXH đợc quản lí thống nhất trong hệ thống

BHXH Việt Nam, đợc hạch toán riêng và cân đối thu chi theo từng quỹ thành

phần (quỹ hu trí và trợ cấp, quỹ khám chữa bệnh tự nguyên, quỹ khám chữa

bệnh bắt buộc). Số d trên tài khoản tiền gửi của quỹ BHXH tại ngân hàng

hay kho bạc Nhà nớc đợc hởng lãi suất theo quy định của ngân hàng và kho

bạc Nhà nớc.

Để đảm bảo thu đúng thời hạn BHXH Việt Nam có quy định kể từ

ngày hạn nộp trong vòng 30 ngày ngời tham gia BHXH phải nộp BHXH.

Khoảng thời gian 30 ngày này là khoảng thời gian ân hạn, nếu quá thời gian

ân hạn mà cha chuyển tiền thì đợc coi là vi phạm pháp luật BHXH và sẽ bị sử

phạt. Hiện nay có những trờng hợp vi phạm sau đây:

- Nợ ( Chậm đóng BHXH): Đây là trờng hợp vi phạm mà ngời tham gia

BHXH tính đến thời điểm quy định vẫn cha đóng BHXH. Nợ đợc chia làm

ba loại:

+ Nợ gối đầu: là trờng hợp nợ mà số tiền nợ nhỏ hơn số tiền đóng

BHXH bình quân một tháng.



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (55 trang)

×