1. Trang chủ >
  2. Văn Hóa - Nghệ Thuật >
  3. Điêu khắc - Hội họa >

BÀI 1: MỸ THUẬT NGUYÊN THỦY

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (714.9 KB, 40 trang )


thuật. Theo E. H. Gombrich, tác giả cuốn “Câu chuyện nghệ thuật” thì “Tranh và tượng

được họ dùng để thực hành pháp thuật”. “Những người thợ săn thời kỳ này nghĩ rằng chỉ

cần vẽ hình con mồi và có lẽ tấn công chúng bằng giáo mác hay rìu đá, những con thú

thật sẽ khuất phục sức mạnh của họ”. Tất nhiên đây là sự phỏng đoán của con người ngày

nay khi nghiên cứu về 2 lịch sử mỹ thuật của thời nguyên thuỷ.

Ngoài hai ý nghĩa trên, các hình vẽ còn có ý nghĩa là những thông tin nhắn gửi cho

các thế hệ sau về cuộc sống, sinh hoạt của con người thời tiền sử. Ví dụ qua các hình vẽ

thú vật như bò rừng, ngựa, voi, ma mút, … cho chúng ta biết về các động vật thời nguyên

thuỷ, ở bức tranh khác ta được chứng kiến cách đánh cá, cách quăng lưới, cách sử dụng

các con cá mồi lớn. Thậm chí con người thời kỳ đó vẽ chỉ để giải trí. Những con người

đầu tiên có mặt ở khắp nơi trên thế giới: Người Olduvai ở Đông phi, người Bắc Kinh

(Trung Quốc), người Nêanđéctan (Đức), người Crôma nhông (Pháp), …. Dấu vết về nghệ

thuật của họ vì vậy cũng trải ra trên một địa bàn rất rộng lớn: từ Châu Phi, Châu Á đến

Châu Âu (Bắc Âu).

2. Đặc điểm của mỹ thuật Nguyên thủy

2.1. Đặc điểm về đối tượng nghệ thuật

Trong các hình vẽ còn lại trên vách, hang, động nơi con người thời nguyên thuỷ

sinh sống chủ yếu là các hình thú hoặc đơn lẻ hoặc bầy đàn, ở một số tác phẩm đã có ý

thức bố cục các hình tượng theo một chủ đề nhất định. Người nguyên thuỷ đã rất thành

công khi vẽ con vật. Nhất là các hoạt động của chúng được diễn tả khá điêu luyện và rất

sống động. Đối tượng chủ yếu trong nghệ thuật giai đoạn này là các con thú như ngựa, bò,

hươu, tuần lộc, … điều này có thể lý giải được. Với cuộc sống nguyên thuỷ, các con vật

đó đã góp phần nuôi dưỡng con người, chúng là nguồn thức ăn chính của họ, là đối tượng

gần gũi nhất đối với con người.

Nghệ thuật luôn bắt nguồn từ thực tế, người nguyên thuỷ cũng không thể vượt quá

cuộc sống hiện thực của mình, tầm hiểu biết của mình. Cuộc sống ấy hướng vào những gì

gần gũi, thân quen nhất. Đó chính là sự tìm hiểu các loài thú để có thể săn bắt được, hoặc

tránh xa những con thú nguy hiểm, dữ tợn, .… Tất cả những điều đó được thể hiện qua

hình vẽ. Nghệ thuật nguyên thuỷ vì vậy mới chỉ dừng lại ở việc diễn tả một cách tài tình

các con thú. Hình tượng con người cũng được đề cập tới, nhưng nghệ sĩ nguyên thuỷ đã

sử dụng các sơ đồ hoá, hoặc phong cách hoá đơn giản và ước lệ khi vẽ con người.

Ngược lại trong điêu khắc lại phát hiện thấy hầu hết là tượng người, mà chủ yếu là

phụ nữ, được phát hiện nhiều nơi trên thế giới. Tượng có thể có kích thước to nhỏ khác

6



nhau. Cái nhỏ nhất khoảng 3,5cm, cái lớn nhất khoảng 23cm. Các bức tượng này được

làm bằng nhiều chất liệu như ngà, sừng, xương, đá hoặc đất nung chúng có chung đặc

điểm là: Tỉ lệ chung chưa được chú ý, chưa cân đối. Phần đầu và tay chân không được

diễn tả kỹ. Phần được chú trọng nhất là phần thân cùng với sự cường điệu phóng đại các

chi tiết: Ngực, mông, bụng. Phần chân dung hầu như không được diễn tả. Có lẽ các nghệ

sĩ khi làm những pho tượng này đã bị chi phối bởi những suy nghĩ đặc biệt, mang theo

tinh thần tư duy nguyên thuỷ.

2.2. Tính tả thực

Phong cách bao trùm mỹ thuật nguyên thuỷ là phong cách tả thực. Nghệ sĩ nguyên

thuỷ đã đi từ đơn giản đến phức tạp dần. Nhưng dù đơn giản hay phức tạp họ đều đi đến

một cái đích: Đó là cố gắng diễn tả đối tượng một cách đúng nhất và sống động nhất.

Điều này chứng tỏ sự quan sát kiên trì và chính xác những đặc điểm của đối tượng. Sở dĩ

người nguyên thuỷ thích tả thực vì những bức vẽ đó chưa đơn thuần là nghệ thuật mà nó

còn gắn liền với nhiều chức năng khác. Những chức năng đó đòi hỏi hình vẽ phải chính

xác, phải giống thực một cách tối đa. Lúc ban đầu, hình vẽ được diễn tả bằng nét là chính.

Người thời nguyên thuỷ chú ý nhất đến đường sống lưng của con vật. Có thể nói đó

chính là trục tạo dáng cho hình tượng nghệ thuật. Sau này, khi tư duy đã phát triển, con

người biết tìm ra các màu vẽ, rồi tìm cách diễn tả chỗ đậm, chỗ sáng. Từ nét đậm nhạt,

màu sắc, từ những hình đơn lẻ đến các bức tranh có ý thức bố cục, đề tài, đó chính là sự

phát triển của mỹ thuật thời nguyên thuỷ thông qua loại hình nghệ thuật vẽ hình, chạm

khắc hình lên vách, trần hang động.

Cùng với phong cách tả thực, các nghệ sĩ nguyên thuỷ còn biết cách điệu, ước lệ

hoá, sơ đồ hoá. Lấy bức chạm “Một đàn hươu qua sông” trên một mảnh xương tìm thấy ở

hang Mê - ri làm ví dụ. Tác giả đã rất giỏi khi chạm hình 3 con hươu đầu đàn và một con

cuối đà, ở giữa tác giả chỉ diễn tả các cặp sừng cao dần, phía dưới dùng các gạch chéo với

cách làm như vậy tác giả đã cho chúng ta thấy một đàn hươu rất đông đang di chuyển.

Các hoa văn gạch chéo, hay những cặp sừng như một rừng cây đã thay thế cho những con

hươu giữa đàn. Như vậy trong bức chạm này, tác giả của nó đã dùng bút pháp tượng

trưng, ước lệ xen với lối tả thực đạt tới trình độ cao.

2.3. Đặc điểm về kỹ thuật, chất liệu

Một vấn đề đặt ra: Người nguyên thuỷ vẽ bằng gì? Và cách họ vẽ ra sao? Màu vẽ

được gọi là mầu thổ hoàng. Đó là một loại màu được chế tạo bằng cách mài các khoáng

chất thành bột rồi pha với nước. Màu đỏ lấy từ đá hematite (ôxit sắt hay đất son) màu

trắng từ đá Kalin hoặc phấn, màu đen từ dioxýt mangan hay than đá. Một số cộng đồng

7



người còn biết đun nóng các khoáng chất để tạo ra màu mới. Đôi khi để có chất kết dính

màu thổ hoàng người nguyên thuỷ đã biết dùng mỡ, hoặc tuỷ sống động vật và nhựa cây.

Kỹ thuật vẽ thì đơn giản, có thể dùng que, tay để vẽ. Chất liệu của điêu khắc phong phú

lơn. Có thể họ khắc, chạm lên xương, sừng, ngà voi hay đá mềm, ….

3. Một số di tích nghệ thuật tạo hình nguyên thuỷ tiêu biểu

Ngày nay chúng ta đã tìm được trên một trăm hang động có hình vẽ. Phần lớn đều

nằm ở miền Bắc Tây Ban Nha và miền Nam nước Pháp. Tuy vậy có hai hang còn lưu giữ

nhiều hình vẽ đẹp. Đó là hang Anta - mi - ra (Tây Ban Nha) và hang Látxcô (Pháp). Đây

được coi là hai bảo tàng lớn của nguyên thuỷ. Hang Anta - mi - ra được phát hiện năm

1863 do một sự tình cờ. Sau 16 năm tìm hiểu, nghiên cứu về các hình vẽ bò rừng ở trong

hang con người thế kỷ XIX mới tin rằng hang Anta - mi - ra chính là một trong những địa

điểm nổi tiếng của mỹ thuật thời nguyên thuỷ. Trong hang có nhiều hình vẽ con bò rừng

(Bi đông) trong các dáng khác nhau và rất sống động. Ngoài những đặc điểm được miêu

tả chính xác các hình vẽ này còn được thể hiện với những đường nét mềm mại, đậm nhạt

sinh động. Nhiều nhà nghiên cứu nghệ thuật còn gọi hang Anta - mi - ra là “Toà tiểu giáo

đường Xicxtin của thời nguyên thuỷ”.

Hang Latxcô (Pháp) lại do một nhóm trẻ em đi chơi trong khu rừng Latxcô, do một

sự bất ngờ chúng tìm thấy một chiếc hang lớn. Trên vách và trần hang chúng thấy có

nhiều hình vẽ thú vật. Trong đó rõ và đẹp nhất là hình ngựa, bò, …. Ngựa ở hang Latxcô

được thể hiện có màu sắc và đậm nhạt gợi khối. Những hình vẽ này thành công đến mức

người ta có thể ví nó với hình vẽ ngựa của các hoạ sĩ Trung Quốc, những bậc thầy về diễn

tả con vật.

Theo một số nhà nghiên cứu cho rằng lối vẽ màu ở đây khá độc đáo. Màu được

thổi lên hình vẽ qua một ống sậy hoặc ống xương.

Các hình vẽ được tô màu đỏ là chủ yếu. Trên hình vẽ có một số mảng màu được

cạo bớt đi để diễn tả khối, tạo sự sinh động cho hình tượng. Các tranh vẽ còn lại đến ngày

nay được định tuổi từ khoảng 15.000 đến 10.000 năm trước công nguyên.

Bên cạnh hình thú, ở đây còn có hình tượng con người: Những người đi săn bị thương ở

giữa các con vật, hình người ném lao hoặc hình người nhảy múa với mặt nạ thú, ….



8



BÀI 2: MỸ THUẬT AI CẬP CỔ ĐẠI

1. Một số nét khái quát về lịch sử và địa lý Ai Cập

Khoảng năm 3100 trước công nguyên, Ai Cập cổ đại đã ra đời ở vùng Đông bắc Châu

Phi. Đây là quốc gia gần như sớm nhất được hình thành, nó nằm dọc theo hai bên bờ con sông

Nil, dòng sông mang nước cho ruộng đồng, bùn đất của sông Nil có thể thai thác làm gạch, làm

đồ gốm, dòng sông còn là nguồn giao thông quan trong của đất nước. Tháng 6 có mưa lớn ở

vùng xích đạo, nước dòng sông lên cao tràn bờ, lúc nước rút để lại trên mặt đất lớp phù sa màu

mỡ. Điều này tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển.

Ai Cập tiền sử chia làm hai phần: Thượng Ai Cập và Hạ Ai Cập. Đến năm 3100 trước

công nguyên thống nhất, đánh dấu bằng sự chinh phục của Pharaông Nácme. Lịch sử Ai Cập

đã chứng kiến 3 giai đoạn hoàng kim, văn hoá nghệ thuật phát triển hơn. Cổ vương quốc (3100

- 2160 TCN), thời trung vương quốc (2133 - 1625 TCN), thời Tân quốc (1567 - 1085TCN) với

các đời vua từ XVIII đến XX. Từ triều vua thứ XXI trở đi quyền lực của các vua Ai Cập bị sa

sút rõ rệt, quốc gia lại bị chia thành nhiều quốc gia tự trị. Thời đại cuối cùng là Pôlêmê

(Poléméc: 323 - 31 TCN).

Nền văn minh Ai Cập được hình thành và phát triển ngay từ thời kỳ đầu tiên. Lúc

này mọi yếu tố như chữ viết, tôn giáo, văn hoá nghệ thuật, khoa học Ai Cập đã phát triển

và hoàn thiện. Năm 1822, một nhà Ai Cập học người Pháp là Giăng Phờrăng xoa Sămpôli

đã đọc được phần viết bằng chữ tượng hình Ai Cập trên tấm đá Rosette tìm thấy năm

1799. Từ đó giải mã được chữ tượng hình Ai Cập, và lịch sử mỹ thuật Ai Cập dần được

hé mở.

Người Ai Cập có nhiều thành tựu về khoa học: Toán học, Thiên văn học, y học….

sớm phát triển. Về toán học đã sớm nghiên cứu về phương trình bậc nhất trong tri thức

đại số, hình học đã biết các hình tam giác vuông, chữ nhật và số Pi (ð = 3,1416), … dùng

thước đo bằng gang tay, … Làm ra lịch, … Những thành tựu ấy đã giúp ta hiểu vì sao

người Ai Cập lại có thể xây được các kim tự tháp lớn như các kim tự tháp còn tồn tại trên

đất nước Hy lạp đến ngày nay.

Về tôn giáo, tín ngưỡng của người Ai Cập cổ đại: Họ thờ rất nhiều vị thần, tôn giáo

đa thần giáo phát triển.

Các vị thần hầu hết là đại diện cho lực lượng siêu nhiên chi phối đời sống nông

nghiệp như Thần mặt trời, Thần sông Nil, … và các thần động vật: Thần bò đực, Thần

diều hâu, Thần cá sấu, … người Ai Cập còn có lòng tin vào sự bất diệt của linh hồn, do

đó nghi lễ chôn cất của họ rất phức tạp. Vì quan niệm đó, hình thành tục ướp xác.

9



Tuy vậy với thủ tục và chi phí tốn kém nên hầu hết chỉ có các vua và những người

có đủ tiền mới được ướp xác. Xác ướp sẽ được giữ gìn trong lăng mộ với kích thước đồ

sộ, chất liệu bền vững là kim tự tháp. Tôn giáo, tín ngưỡng có ảnh hưởng đến đời sống,

nghệ thuật của Ai Cập.

2. Nghệ thuật kiến trúc Ai Cập Cổ đại

Thời kỳ đầu tiên, các kim tự tháp xây bằng gạch có bậc thang. Trải qua thời

gian phát triển, dần xuất hiện đá thay thế. Kim tự tháp đá được gọi là cổ nhất là của

vua Giôxê (Djoser), do “Kiến trúc sư” Imhôtép, quan đại thần của vua thiết kế và xây

dựng. Tháp được xây bằng đá, cao 60m, làm thành 6 bậc thang, những bậc này tượng

trưng như những tầng bậc đưa linh hồn vua lên tới trời cao. Cạnh đáy khoảng 71m.

Từ nguyên mẫu kim tự tháp Giôxê, các lăng mộ sau này đều được xây dựng thành

hình khối chóp, đáy là hình vuông, 4 mặt đều trơn nhẵn, không có bậc thang. Từ thời Tân

quốc người Ai Cập không xây dựng các kim tự tháp ở giữa sa mạc, mà xây chúng trong

thung lũng các vua và hoàng hậu.

Những ngôi đền thờ của Ai Cập được xây dựng với đồ án kiến trúc đơn giản gồm:

cổng đền là một khối kiến trúc lớn được phủ đầy các hoa văn trang trí; Từ cổng vào đền

chính điện ta phải đi trên con đường thần (thần đạo). Chính điện là một căn phòng lớn

với những hàng cột bao quanh còn được gọi là phòng cột. Trên các di tích còn lại, cho

thấy người Ai Cập thời cổ đại đã tạo ra nhiều kiểu dáng cột: cột hình bó sậy, hình hoa

súng, hình cây Thốt Nốt, … Các đền thờ này được xây dựng ở hai bên bờ sông Nil, chủ

yếu ở phía Nam như đền: Kác nác, Luxo, Abuximben… Kim tự tháp và đền thờ Ai Cập

đều mang vẻ đẹp của sự đồ sộ, vững chắc và vĩnh hằng. Điều này bộc lộ một phần ở hình

thức vĩ đại của các thể loại kiến trúc Ai Cập cổ đại.



10



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (40 trang)

×