1. Trang chủ >
  2. Văn Hóa - Nghệ Thuật >
  3. Điêu khắc - Hội họa >

BÀI 2: MỸ THUẬT AI CẬP CỔ ĐẠI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (714.9 KB, 40 trang )


Tuy vậy với thủ tục và chi phí tốn kém nên hầu hết chỉ có các vua và những người

có đủ tiền mới được ướp xác. Xác ướp sẽ được giữ gìn trong lăng mộ với kích thước đồ

sộ, chất liệu bền vững là kim tự tháp. Tôn giáo, tín ngưỡng có ảnh hưởng đến đời sống,

nghệ thuật của Ai Cập.

2. Nghệ thuật kiến trúc Ai Cập Cổ đại

Thời kỳ đầu tiên, các kim tự tháp xây bằng gạch có bậc thang. Trải qua thời

gian phát triển, dần xuất hiện đá thay thế. Kim tự tháp đá được gọi là cổ nhất là của

vua Giôxê (Djoser), do “Kiến trúc sư” Imhôtép, quan đại thần của vua thiết kế và xây

dựng. Tháp được xây bằng đá, cao 60m, làm thành 6 bậc thang, những bậc này tượng

trưng như những tầng bậc đưa linh hồn vua lên tới trời cao. Cạnh đáy khoảng 71m.

Từ nguyên mẫu kim tự tháp Giôxê, các lăng mộ sau này đều được xây dựng thành

hình khối chóp, đáy là hình vuông, 4 mặt đều trơn nhẵn, không có bậc thang. Từ thời Tân

quốc người Ai Cập không xây dựng các kim tự tháp ở giữa sa mạc, mà xây chúng trong

thung lũng các vua và hoàng hậu.

Những ngôi đền thờ của Ai Cập được xây dựng với đồ án kiến trúc đơn giản gồm:

cổng đền là một khối kiến trúc lớn được phủ đầy các hoa văn trang trí; Từ cổng vào đền

chính điện ta phải đi trên con đường thần (thần đạo). Chính điện là một căn phòng lớn

với những hàng cột bao quanh còn được gọi là phòng cột. Trên các di tích còn lại, cho

thấy người Ai Cập thời cổ đại đã tạo ra nhiều kiểu dáng cột: cột hình bó sậy, hình hoa

súng, hình cây Thốt Nốt, … Các đền thờ này được xây dựng ở hai bên bờ sông Nil, chủ

yếu ở phía Nam như đền: Kác nác, Luxo, Abuximben… Kim tự tháp và đền thờ Ai Cập

đều mang vẻ đẹp của sự đồ sộ, vững chắc và vĩnh hằng. Điều này bộc lộ một phần ở hình

thức vĩ đại của các thể loại kiến trúc Ai Cập cổ đại.



10



3. Nghệ thuật Điêu khắc Ai Cập Cổ đại

Ở thời kỳ cổ đại, các loại hình nghệ thuật gắn bó với nhau rất chặt chẽ trong một

tổng thể. Đi cùng với kiến trúc là điêu khắc, là tranh tường.

Điêu khắc và tranh vẽ làm đẹp, làm tăng ý nghĩa cho các công trình kiến trúc. Vì

vậy, cùng với hai loại kiến trúc lăng mộ và đền miếu thờ. Bên cạnh các kim tự tháp có rất

nhiều tượng nhân sư đầu người mình sư tử. Thần thoại có bao nhiêu thần thì người Ai

Cập cũng nghĩ ra bấy nhiêu hình thức thể hiện các vị thần ấy. Thường thì họ ghép hai yếu

tố người và thú với nhau để tạo ra một hình tượng linh thiêng như tượng nhân sư, …đầu

chó mình người, chim ưng, ….

Trong các ngôi mộ đều có đặt tượng chân dung của chủ nhân các ngôi mộ. Tượng

này có thể thay thế cho xác chết, làm cho linh hồn tồn tại, vì vậy tượng được làm giống

thực tối đa.

Phong cách tả thực nổi rõ trong điêu khắc thời cổ vương quốc. Kiểu người nông

nghiệp thô đậm. Sang thời kỳ trung và nhất là thời kỳ tân vương quốc tính chất trọng thực

trong điêu khắc Ai Cập đã giảm bớt. Tỷ lệ các pho tượng được kéo dài, tạo dáng thanh

mảnh hơn cho tượng. Cái đẹp, mềm mại, duyên dáng được đưa vào điêu khắc. Tượng đặt

ở lăng mộ hay đền thờ đều có kích thước tương ứng với kích thước ở đền hay kim tự tháp.

Một thể loại khác của điêu khắc là phù điêu. Trong nghệ thuật Ai Cập phù điêu rất

phát triển. Hình tượng người, thần, … trong phù điêu được thể hiện theo những ước lệ tạo

hình. Hình tượng nhân vật được diễn tả ở nhiều điểm nhìn khác nhau biểu hiện ở một



11



hình nhưng đầu mặt nhìn nghiêng, mắt và vai luôn hướng ở chính diện, bàn chân nhìn

nghiêng, ….

Sự kết hợp đó đã tạo nên những hình tượng rất đặc biệt, mang đặc điểm của nghệ

thuật Ai Cập. Nó đã khiến cho nghệ thuật Ai Cập mang tính dân tộc và không giống cách

tạo hình của dân tộc nào trên thế giới.

Như vậy, nghệ thuật điêu khắc Ai Cập vừa mang tính hiện thực, vừa mang tính ước

lệ và chịu ảnh hưởng của tư tưởng thần bí, tôn giáo.

4. Nghệ thuật Bích hoạ Ai Cập Cổ đại

Ngay từ thời kỳ cổ vương quốc, bên cạnh những bức chạm nổi có tô màu còn có

nhiều tranh vẽ trên tường (bích hoạ). Trong các bức tranh này ngoại trừ tính ước lệ trong

cách tạo hình như đã đề cập ở nghệ thuật điêu khắc tất cả các yếu tố khác đều đạt tới vẻ

đẹp hoàn thiện. Màu sắc trong sáng, tươi tắn với những nhịp điệu phong phú của mảng

sáng tối, đậm nhạt, của màu sắc và của đường nét. Hình tượng các con vật được diễn tả tỉ

mỉ, chính xác và hài hoà đến đáng khâm phục. Tuy vậy những bức tranh tường này vẫn

bộc lộ cảm xúc sâu sắc của các tác giả khi vẽ tranh. Tính khoa học rất cao trong nghệ

thuật tranh tường song không thô cứng mà vẫn rất mềm mại, giàu sức sống động. Nội

dung được chuyển tải là tôn giáo, là các cuộc tế lễ, cầu đảo, hoặc sinh hoạt của con người

rất phong phú. 5. Một số tác phẩm và công trình nghệ thuật tiêu biểu

5. Kiến trúc Ai Cập cổ đại

5.1. Kim tự tháp Kê ốp (Chéops)

Nằm ở phía Tây sông Nil, bên sa mạc Ghida (Ghiga) ngày nay, còn sừng sững ba

kim tự tháp: Kim tự tháp Kê ốp, Kêphren và Mykênrinốt. Trong số đó kim tự tháp Kê ốp

lớn nhất. Nó được xếp vào một trong 7 kỳ quan của thế giới cổ đại. Đây là lăng mộ xây

cho vua Kê ốp, ông vua thứ hai của vương triều IV khoảng giữa năm 2650 TCN. Kim tự

tháp Kê ốp cao 137m, do 225 vạn tảng đá vôi xây nên, Mỗi tảng đá nặng từ 2 - 2,5 tấn,

tảng lớn nhất nặng 15,25 tấn. Đỉnh kim tự tháp là một hình vuông bằng phẳng không có

dấu hiệu của sự dở dang hay sói mòn. Hình vuông ấy có kích thước mỗi cạnh 10m, được

lát bằng 9 phiến đá vuông.

Theo các nhà khoa học trong kim tự tháp Kê ốp có 1/5 thể tích là những khoang

trống có chứa cát. Bốn mặt của kim tự tháp theo bốn hướng Bắc, Nam, Đông, Tây. Người

Ai Cập vẫn coi kim tự tháp là cái la bàn khổng lồ. Cho đến ngày nay, với khoa học kỹ

thuật phát triển người ta vẫn còn ngạc nhiên về tài xây dựng kim tự tháp của người Ai

Cập cổ. Theo cách hiểu thông thường thì kim tự tháp là lăng mộ của các Pharaông Ai

12



Cập. Tuy vậy đến nay cũng chưa phát được thi thể của các vua. Bằng cách nào có thể đưa

những phiến đá nặng lên cao 140m như vậy? Việc khai thác đá, vận chuyển đá đến nơi

làm kim tự tháp đã có thể coi là một kỳ công. Họ còn phải đẽo các phiến đá, mài nhẵn để

có thể xếp lên nhau cho thật khít, các tảng đá được xếp lên nhau, hầu như không có kẽ hở,

không có vật liệu kết dính, ấy vậy mà các lăng mộ vĩ đại ấy vẫn sừng sững tồn tại đến

ngày nay.



Bên cạnh kim tự tháp Kê ốp còn có kim tự tháp Kêphren và kim tự tháp Mykêrinốt

có hình dáng tương tự, nhưng nhỏ hơn. Kêphren có cạnh đáy khoảng 215m, cao 134m.

Mykêrinốt là nhỏ nhất, cạnh đáy khoảng 105m, cao khoảng 60m.

Kim tự tháp là công trình kiến trúc tiêu biểu thể hiện tài năng của người Ai Cập.

Đồng thời nó cũng thể hiện quyền lực rất lớn của Pharaông Ai Cập. Tuy vậy để có được

công trình đó phải có sự hy sinh của bao nhiêu nô lệ. Đứng về mặt lịch sử nó là lăng của

các Pharaông Ai Cập. Nhưng đồng thời về mặt nào đó, nó như một đài kỷ niệm một lời

nhắc nhủ đến mai sau về sức lao động sáng tạo, bền bỉ của người Ai Cập thời cổ đại.

5.2. Lăng Vua Tút tan kha môn

Do quan niệm của người Ai Cập về sự vĩnh hằng, về thế giới bên kia, nên các ngôi

mộ của Pharaông còn là nơi chứa nhiều đồ quý giá. Nó làm tăng ham muốn chiếm kho

báu, dẫn đến nhiều vụ cướp phá những ngôi mộ xảy ra. Ngày 26/11/1922, nhà khảo cổ

học Hô uốt Các tơ (Howard carter) là người phát hiện ra ngôi mộ còn nguyên vẹn của ông

vua trẻ Tút tan kha môn, qua đó cho ta biết về nghi thức tang lễ của thời Tân vương quốc.

13



Lăng của Tút tan kha môn gồm nhiều căn phòng được bịt kín bằng gạch. Có lẽ sau

khi tiến hành tang lễ người ta bắt đầu xây kín các cửa thông các gian phòng với nhau. Khi

khai quật mọi thứ vẫn còn nguyên vẹn. Người ta đã phát hiện ra một chiếc quan tài bằng

đá rất lớn trong đó có 3 quan tài khác bằng vàng, cái nọ lồng trong cái kia. Khoảng trống

giữa các lớp quan tài là nước thơm đã đông cứng. Xác của Pharaông còn nguyên vẹn.

5.3. Tượng Nhân sư (Sphinx).

Bên cạnh lăng Kêphren ở Ghi - da có một bức tượng lớn. Tượng đầu người mình

sư tử. Tượng cao 20m, dài gần 60m. Hình tượng nhân sư là hình tượng mang tính chất

thần bí, biểu hiện sức mạnh vô địch. Sức mạnh được tạo bởi quyền lực của nhà vua và sức

mạnh thể chất của chúa sơn lâm. Đó cũng là sự kết hợp giữa trí tuệ và hành động. Tượng

được làm bằng đá khối. Hơn ba ngàn năm trôi qua, tượng nhân sư đã được tu sửa rất

nhiều lần.

5.4. Tượng Viên thư lại Kai

Ở Ai Cập nghề được coi trọng và ngưỡng mộ là nghề viết chữ. Thư lại là người rất

quan trọng và có nhiều nhiệm vụ: có thể giữ hồ sơ thuế, các vụ xét xử và nhiều loại văn

bản khác.

5.5. Tượng ông xã trưởng Bolét - gỗ (khoảng 4500 năm)

Khí hậu Ai Cập khô, nóng, độ ẩm thấp. Vì vậy ngay cả chất liệu gỗ cũng bền vững

với thời gian. Tượng ông xã trưởng là pho tượng gỗ cổ nhất Ai Cập còn lại đến ngày nay.

Tượng được diễn tả trong tư thế đang bước đi, tay trái chống gậy, mắt nhìn thẳng. Khối

căng tròn, thể hiện người đẫy đà, thô, mập theo kiểu người làm nghề nông. Riêng đôi mắt,

để tăng thêm phần sống động, người Ai Cập cổ đã nghĩ ra kỹ thuật gắn bột thuỷ tinh.

Tượng vua Rahôtép và vợ là hoàng hậu Nophre (cuối triều vua thứ III). Nhìn thẳng

hai pho tượng được làm theo nguyên tắc nhìn ngay ngó thẳng của Ai Cập. Cả hai pho

tượng đều được tạc từ khối đá nguyên, ngồi tĩnh lặng, tay bó vào thân. Tượng được tô

màu: Vua màu đậm, hoàng hậu mắt sáng hơn. Mắt được khảm và vẽ đậm, trông giống

như người thật. Nhìn nghiêng ta có thể cảm nhận được sức sống tràn trề trên hai cơ thể,

chất da thịt sống động gợi cảm.

Nói đến nghệ thuật điêu khắc Ai Cập, không thể bỏ qua tượng hoàng hậu

Nephéctiti vợ vua Akhênatôn. Nhiều tượng chân dung của bà được giữ đến ngày nay, đã

đánh dấu sự chuyển biến trong phong cách nghệ thuật Ai Cập. Tượng mang nhiều chất hiện

thực, sống động, bớt vẽ trang nghiêm, quy tắc như thời cổ vương quốc.



14



5.6. Bức chạm gỗ mạ vàng

Mặt sau chiếc ngai trong mộ diễn tả cảnh Pharaôn Túttankhamôn và vợ (Khoảng

1350 TCN)

Túttankhamôn là người kế vị ngai vàng Akhênatôn, ông lên ngôi từ bé và mất sớm.

Lăng mộ của ông là một trong những lăng mộ đẹp nhất của Ai Cập. Trong lăng của ông

khi khai quật, các nhà khảo cổ học đã thu được nhiều hiện vật. Người ta đem chúng về và

trưng bày trong 11 văn phòng lớn ở bảo tàng Cairô mới hết. Trong đó có chiếc ngai, mặt

sau ngai có bức chạm gỗ, được sơn mạ vàng, nó diễn tả cảnh vua và hoàng hậu. Từ dáng

ngồi của nhà vua, đến cách tạo hình và bộ lộ tình cảm của hoàng hậu ta đã thấy có sự thay

đổi trong quan niệm nghệ thuật cũng như quan niệm sống của người Ai Cập. Tỉ lệ của

hoàng hậu không nhỏ hơn vua. Trên đầu họ là thần mặt trời hiện diện là một quả cầu

vàng, với những tia sáng là những cánh tay nhỏ vươn xuống chúc phúc cho 2 người. Các

bức chạm khối nổi nhẹ nhàng, đường nét mềm mại, tỉ lệ tương đối cân đối, hài hoà. Hình

tượng nhân vật đã bớt nặng nề và mang tính chất hiện thực phóng khoáng hơn thời kỳ

trước.

5.7. Bích hoạ Ai Cập

Tác phẩm: “Cuốn sách của người chết” được vẽ trong mộ của một viên quản gia

kiêm thư lại của Hoàng gia thuộc vương triều thứ 19 (1320 - 1290 TCN). Một sự kết hợp

tuyệt vời của đường nét và màu sắc trong tranh. Tác giả đã chỉ cho người chết con đường,

cách thức để đi tới thế giới vĩnh cửu của thần Ôdirít.

Toàn bộ tranh được chia làm 3 phần: Phía trên là các vị thần thẩm định, mỗi vị đại

diện cho một quận của Ai Cập. Phía dưới là người chết được thần ướp xác Amubít dẫn

đường. Nội dung chính trong bức tranh này thể hiện người chết sẽ nhận được sự phê

chuẩn của thần trí tuệ. Cuối cùng thần Amubít sẽ đưa người đó đến thần Ôdirít, người cai

quản dưới lòng đất.

Tranh vẽ toàn mảng bẹt, phẳng. Cái đẹp ở đây là nhịp điệu của mảng trắng, đậm

trong tranh, sự kết hợp giữa hình và chữ.

Tranh “Săn chim”: Nhân vật trong tranh được vẽ với tỷ lệ lớn nhất, nhỏ hơn là vợ

và con gái anh ta. Tỷ lệ của các nhân vật được thể hiện theo chỗ đứng, địa vị của nhân vật

trong xã hội, tôn giáo, hoặc gia đình.

Người Ai Cập chưa diễn tả nhân vật theo như luật xa gần. Họ có quan niệm riêng,

mang tính dân tộc đậm nét. Tác giả đã rất giỏi khi thể hiện một cách chính xác cây, hoa

đặc trưng của Ai Cập và các giống thú, chim, bướm, … màu sắc tươi sáng, nhẹ nhàng.

15



Những bức tranh này còn biểu hiện sự tuyệt vời về đường nét trong tác phẩm.



Chạm gỗ nắp quan tài, Sách của người chết, Bên phải, tranh dưới: Săn chim

5.8. Đền Kác nác (Karnak) thờ thần Mặt trời A.Mon

Là một trong những ngôi đền đẹp nhất của Ai Cập cổ đại, được xây dựng trong thời

kỳ Tân vương quốc. Theo cấu trúc chung của các đền miếu thờ ở Ai Cập.

Phía bên ngoài là cổng đền: thường là cột tháp với những bức tường hai bên. Đi

qua sân rộng hình chữ nhật là phòng cột đỡ trần nhà, có mái che. Sau cùng là hậu cung.

Phòng chính trong đến Kác nác có diện tích khoảng 5000m 2 với 16 hàng cột đỡ trần nhà,

gồm 134 cột đá lớn, …

Qua một vài kích thước cụ thể như vậy ta thấy vẻ đẹp hùng vĩ của kiến trúc đền thờ

Ai Cập.

Trên các cây cột có khắc đầy các hình vẽ, trên cổng đền, ở mọi chỗ trên kiến trúc là

những phù điêu chạm nổi kẻ vẽ các cuộc chinh chiến của nhà vua. Nói liền đền Kác nác

với đền Lu xô là hai dãy tượng Xphanh đấu cừu kéo dài trên 2000m.

6. Đặc điểm của mỹ thuật Ai Cập cổ đại

Mỹ thuật Ai Cập cổ đại suốt 3000 năm tồn tại không có những biến động lớn. Ngay

từ thời cổ vương quốc nghệ thuật dã có những thành tựu đáng khâm phục ở mọi lĩnh vực

kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ. Sở dĩ như vậy vì trong nghệ thuật người Ai Cập có những

quan niệm, những quy định, các nghệ sĩ khi sáng tác phải tuân thủ nghiêm ngặt. Vì vậy

tính chất dân tộc thể hiện đậm nét trong các loại hình nghệ thuật Ai Cập cổ đại. Điều đó

góp phần hình thành một số đặc điểm chúng cho nghệ thuật tạo hình.



16



Nghệ thuật Ai Cập luôn hướng tới sự vĩnh hằng, sự trường tồn. Điều này thể hiện

trong kiến trúc, điêu khắc và bích hoạ. Các tác phẩm nghệ thuật của Ai Cập được làm

bằng chất liệu bền vững và chúng tồn tại cho tới tận ngày hôm nay. Quan niệm, lòng tin

vào sự bất diệt của linh hồn đã chi phối mạnh mẽ tới nghệ thuật tạo hình và tạo ra những

tác phẩm nghệ thuật bất hủ, xứng đáng là một trong bảy kỳ quan của thế giới cổ đại.

Nghệ thuật Ai Cập mang nặng tính chất tôn giáo. Thông qua các phần còn lại ta

thấy các nghệ sĩ Ai Cập đã rất ưu tiên đề tài tôn giáo, tín ngưỡng.

Bị ảnh hưởng của thần thoại, tôn giáo họ đã sáng tác ra nhiều hình tượng thần bí,

siêu thực như hình tượng các vị thần đầu thú mình người, tượng nhân sư đầu người mình

sư tử. Chính đặc điểm thứ nhất đã tạo ra tiền đề nảy sinh đặc điểm thứ hai.

Những ước lệ tạo hình cổ sơ đã chi phối nghệ thuật Ai Cập trong hai lĩnh vực điêu

khắc (phù điêu) và bích hoạ. Các hình tượng phù điêu và bích hoạ Ai Cập đã được thể

hiện hoặc nhìn chính diện nghiêm trang, ngay ngắn hoặc là sự kết hợp của đầu mặt

nghiêng, thân thẳng chân nghiêng. Hai bàn chân nhìn nghiêng và được nhìn từ phía ngón

cái là một đặc điểm đặc biệt trong các hình tượng phù điêu và bích hoạ Ai Cập.

Sở dĩ

người Ai Cập tạo hình như vậy vì họ quan niệm về sự toàn vẹn của hình tượng. Họ muốn

trên một hình tượng nhưng có thể nhìn thấy nhân vật ở tất cả các hướng. Mặt khác các

hướng chọn để diễn tả phải là hướng mà các đặc điểm được thể hiện rõ đặc trưng nhất. Ví

dụ con mắt nhìn nghiêng không cho thấy rõ “mắt” bằng con mắt nhìn thẳng; Bàn chân

nhìn từ phía ngón cái và nghiêng có đặc điểm hơn, … Như vậy người Ai Cập đã rất khéo

chọn lựa và khéo sắp xếp. Nhìn thoáng qua ta thấy hình vẽ Ai Cập có dạng vặn và nhiều

chi tiết tưởng như không hợp lý phải nghiên cứu kỹ mới thấy sự sáng tạo và tài năng của

người Ai Cập khi tạo hình. Như vậy mới có cái nhìn đúng đắng về giá trị của nghệ thuật

Ai Cập.

Trong nghệ thuật Ai Cập, các loại hình nghệ thuật như kiến trúc, điêu khắc, bích

hoạ luôn gắn bó với nhau. Nghệ thuật Ai Cập là nghệ thuật tổng hợp trong đó kiến trúc

phát triển sớm nhất và mạnh nhất. Điêu khắc và tranh vẽ gắn với kiến trúc. Tất cả đều

thống nhất phong cách và hoà hợp trong một tổng thể hoàn chỉnh.Tất cả những đặc điểm

trên đã kết hợp nhuần nhuyễn với nhau tạo ra sự độc đáo, riêng biệt cho nghệ thuật tạo

hình Ai Cập. Tuy nó bị chi phối bởi tôn giáo, bởi ý tưởng về sự vĩnh hằng, hay siêu hình

thần bí thì nghệ thuật Ai Cập vẫn rất phong phú về thể loại.

Những ước lệ tạo hình cổ sơ mặc dù theo các nghệ sĩ suốt trong quá trình sáng tạo

và phát triển. Nhưng không vì thế mà nghệ thuật Ai Cập đơn điệu và không thay đổi. Trái

lại phong cách nghệ thuật Ai Cập mặc dù vẫn thống nhất nhưng vẫn có sự chuyển biến

17



phong cách qua các thời kỳ từ cổ đến trung và tân vương quốc. Có một điều chắc chắn

rằng, nghệ thuật Ai Cập thống nhất và phát triển theo một hướng đi riêng, có thay đổi

song vẫn giữ được đặc điểm, quan niệm tạo hình của mình.

Nghệ thuật Ai Cập là một nền nghệ thuật sáng tạo, để lại nhiều thành tựu, kỳ quan

cho thế giới và mang đậm sắc thái dần .

Ai cập xứng đáng là cái nôi đầu tiên của văn minh nhân loại như người ta vẫn đánh

giá từ nhiều thế kỷ trước.



Nữ hoàng Ne phititi



18



BÀI 3: MỸ THUẬT HY LẠP CỔ ĐẠI

1. Khái quát về mỹ thuật Hy Lạp cổ đại

Sau Ai Cập cổ đại, vào khoảng thế kỷ XVIII TCN, ở phía bên kia Địa Trung Hải,

Hy Lạp ra đời, lãnh thổ của nó bao gồm Hy Lạp ngày nay và các đảo thuộc biển Ê Giê và

vùng Tây Tiểu á. Hy Lạp không thuận lợi về nông nghiệp song lại tốt trong việc giao

thông trên biển. Với tài nguyên dồi dào đã tạo điều kiện cho Hy Lạp phát triển thủ công

nghiệp và ngoại thương. Nó đã góp phần thúc đẩy sự phát triển nền văn minh Hy Lạp

trong đó có nghệ thuật tạo hình.

Cho đến tận ngày nay, khi nhắc đến Hy Lạp người ta sẽ nghĩ ngay đến đền thờ Pác

Tê Nông (Parthénon), đến các pho tượng trên biển của Hy Lạp như tượng người ném đĩa,

tượng vệ nữ Mi lô, … nghệ thuật Hy Lạp đã phát triển và để lại nhiều thành tựu vĩ đại.

Thành tựu của nghệ thuật tạo hình Hy Lạp vừa biểu hiện sự sáng tạo tuyệt vời của

người Hy Lạp vừa chứng tỏ đỉnh cao về sự mẫu mực của Hy Lạp về trí tuệ trong tạo hình.

Con người thời nay không chỉ khâm phục trước những tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu của

Hy Lạp. Họ đã tìm thấy trong nền nghệ thuật cổ đại này một tư tưởng nhân văn cao

thượng, một nền nghệ thuật hiện thực, ca ngợi giá trị và vẻ đẹp của con người. Đây là cơ

sở để xây dựng một nền văn hoá mới, thấm đẫm những tư tưởng nhân văn.

Nhà nước Hy Lạp cổ đại là xã hội chiếm hữu nô lệ chứa đựng những tư tưởng dân

chủ tiến bộ, là Nhà nước thông bang, ở đó có hai vua với quyền lực như nhau, vừa là thủ

lĩnh quân sự, vừa là tăng lữ và người xử án. Chế độ xã hội ở đây là chế độ dân chủ chủ

nô, chế độ đó, mở đường cho các nhà khoa học, những nghệ sĩ, những công dân tự do này

được phát triển tài năng, trí sáng tạo. Điều này giúp nghệ thuật cũng như khoa học Hy

Lạp cổ đại phát triển mạnh.

Nghệ thuật Hy Lạp còn được nuôi dưỡng bằng một nguồn đất đặc biệt - nguồn thần

thoại Hy Lạp. Quan niệm của người Hy Lạp về thế giới thần linh giống như thế giới con

người. Đó là quan niệm “thần nhân đồng hình”. Quan niệm này chi phối tới việc xây cất

các công trình kiến trúc. Những câu chuyện gợi nguồn cảm hứng sáng tạo cho các nghệ sĩ

tạo hình. Họ tìm thấy ở đây chất thơ, chất cảm xúc, thúc đẩy họ sáng tạo ra những tác

phẩm nghệ thuật bất hủ, thấm đượm tinh thần nhân văn.

Năm 776 TCN thế vận hội lần đầu tiên tổ chức tại Hy Lạp. Phong trào rèn luyện

sức khoẻ để trở thành các chiến binh dũng mãnh đồng thời tạo ra những cơ thể đẹp đẽ cân

đối. Đó là nguồn mẫu hình lý tưởng cho các nghệ sĩ Hy Lạp nghiên cứu sáng tạo ra tỷ lệ

vàng cho hình tượng con người. Hội tụ tất cả những yếu tố trên là điều kiện tuyệt vời cho

19



sự phát triển của văn hoá, nghệ thuật Hy Lạp. Nghệ thuật Hy Lạp nhất là kiến trúc và điêu

khắc đã đạt tới đỉnh cao chỉ sau hơn 200 năm, từ thế kỷ VII đến V TCN.

2. Nghệ thuật kiến trúc Hy Lạp cổ đại

Trong đời sống của người Hy Lạp thời cổ đại, tôn giáo đóng vai trò quan

trọng. Họ thờ rất nhiều vị thần. Thể loại kiến trúc phát triển là kiến trúc đền thờ

gần như toàn thể các công trình xây dựng có giá trị nghệ thuật, to đẹp nhất thuộc

về tôn giáo. Kích thước đền thờ vừa phải, không quá lớn đồ sộ. Nó cũng giống

nghệ thuật kiến trúc Ai Cập ở chỗ kiến thức kiến trúc chính là kiến thức cột. Kiến

trúc Hy Lạp có 3 thức cột chính:

Thức Đôríc, thức Iônic, và thức Corinthian. Sự khác nhau giữa các thức cột này

được phân biệt bởi phần đầu cột và các khía rãnh.

Cột Đôríc có hai mươi khía rãnh khá rộng. Hai mươi bốn đôi khi là bốn tám khái

của cột Ioníc sâu hơn, khít hơn. Cột Đôríc ra đời sớm nhất và phát triển ở Pðloponnêse và

các khu dân cư ở miền Nam ý và đảo Sixin (Sicile).

Phong cách Iôníc thanh mảnh và duyên dáng hơn. Phần đầu cột được trang trí bằng

hình guột cột Đôríc Iônic Côranhtiêng trang trí. ở thời Hy Lạp hoá thức Cô ranh tiêng

được sử dụng nhiều. Phần đầu cột được trang trí bằng những hoạ tiết và cách điệu mềm

mại và trang nhã.

Đền thờ Pác-tê- non (Partenon) được khởi công trên đồi Acrôpôn (Acropolis) thờ

nữ thần Atêna (Athena): là đền thờ kết hợp hài hoà giữa sự khoẻ khoắn của thức Đô níc

và sự duyên dáng nhẹ nhàng của thức Iônic.



Đền Pác- tê- nông (Partenon)

Vẻ đẹp của Pác tê non thể hiện trong sự cân đối, hài hoà về tỷ lệ giữa các bộ phận

kiến trúc. Nó còn bộc lộ trong sự đơn giản, trang nhã của khối kiến trúc chủ yếu dựa trên

những đường thẳng với trang trí bằng các tác phẩm điêu khắc và phù điêu dạng trụ ngang.

Kiến trúc cân đối hài hoà của Pác tê non được trang điểm thêm đẹp đẽ, lộng lẫy bằng các

tác phẩm điêu khắc của Phi đi át và các học trò của ông. Tác giả của Pác tê non là Ichtinốt

và Can Li Crát.

20



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (40 trang)

×