1. Trang chủ >
  2. Văn Hóa - Nghệ Thuật >
  3. Điêu khắc - Hội họa >

Đặc điểm của mỹ thuật La Mã cổ đại

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (714.9 KB, 40 trang )


Kiến trúc La mã phát triển với nhiều thể loại phong phú, đáp ứng nhu cầu cả về

mặt vật chất và tinh thần cho cuộc sống của người La mã. Kích thước của chúng thường

là to lớn, đồ sộ. Có sự ảnh hưởng của kiến trúc Hy Lạp qua các hình thức cột được sử

dụng. Kiến trúc La mã đặc biệt thành công trong việc ghép các tảng đá hình cái nêm để

tạo nên các vòm mái, vòng cung. Vật liệu sử dụng có thể là gạch, hoặc kết hợp gạch và

đá. Kiến trúc thường đi sóng đôi với điêu khắc cả ở thể loại tượng tròn cũng như chạm

nổi. Đôi khi chúng còn gắn bó với nhau thành một tổng thể, một tác phẩm hoàn chỉnh: làm

tôn ý nghĩa và vẻ đẹp của cái kia lên rất nhiều. Qua sự phát triển của mỹ thuật La mã, ta

thấy được cái Đẹp mang tính chất hoành tráng, cao cả của La mã. Khác hẳn với cái Đẹp

thanh lịch tao nhã, nhẹ nhàng của nghệ thuật Hy Lạp. Điêu khắc La mã đặc biệt sáng tạo

trong thể loại tượng chân dung và những phù điêu mang tính lịch sử. Tính chất lịch sử và

nhân văn được bộc lộ rõ ràng.Mỹ thuật Hy Lạp và La mã xứng đáng là những nền mỹ

thuật đi tiên phong tìm tòi, để diễn tả hiện thực thông qua các đề tài thần thoại, tôn giáo,

… Đây chính là cơ sở phát triển mỹ thuật trong các giai đoạn sau, kể từ thời Phục hưng.

Câu hỏi - Bài tập

1. Hãy phân tích những yếu tố góp phần hình thành mỹ thuật Ai Cập cổ đại (hoàn

cảnh lịch sử, địa lý, tôn giáo ...).

2. Hãy nêu sự phát triển của Ai Cập cổ đại. (kiến trúc, điêu khắc, hội họa)

3. Phân tích đặc điểm của mỹ thuật Ai Cập cổ đại.

4. Nói nghệ thuật Ai Cập là đơn điệu và không thay đổi có được không? Tại sao?



29



CHƯƠNG II: MỸ THUẬT PHƯƠNG ĐÔNG CỔ ĐẠI

Mở đầu

Nếu ở phương Tây thời kỳ Cổ đại có những nền văn minh phát triển, để lại nhiều

tác phẩm nghệ thuật kiệt xuất cho thế giới thì ở phương Đông vào thời kỳ đó, thậm chí

sớm hơn, cũng có nhiều nền văn minh phát triển như văn minh Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật

Bản, ... Mặc dù cũng là những nước ở châu Á, nhưng do đặc điểm về dân tộc, phong tục,

tôn giáo, lịch sử của từng nước khác nhau, sự phát triển về nghệ thuật cũng rất khác nhau.

Điều đó tạo nên sự phong phú đa dạng cho nghệ thuật châu Á. Văn minh Trung Quốc và

Ấn Độ được coi là những nền văn minh đầu tiên của loài người cùng với nền văn minh

Lưỡng Hà, Ai Cập. Có một điểm giống nhau giữa các nền văn minh này, đó là tất cả mọi

trung tâm văn minh kể trên đều nằm ở lưu vực của các con sông lớn như Ti-grơ, Ơ-phrát,

sông Nin, sông Ấn, sông Hằng, sông Hoàng Hà. Mặc dù vậy mỗi nền văn minh lại mang

những bản sắc dân tộc đậm đà. Chương này sẽ giúp các bạn tìm hiểu về nghệ thuật

phương Đông với ba nền mỹ thuật tiêu biểu:

- Mỹ thuật Trung Quốc

- Mỹ thuật Ấn Độ

- Mỹ thuật Nhật Bản.

Tuy vậy, để phù hợp với chương trình mỹ thuật ở trung học cơ sở, chương này chỉ

đi vào giới thiệu một cách khái quát về ba nền mỹ thuật này và một số tác giả, tác phẩm

tiêu biểu của nó, để giúp sinh viên có đủ kiến thức giảng dạy phù hợp với đối tượng học

sinh Trung học cơ sở.

Mục tiêu:

- Giúp sinh viên nắm được một cách khái quát về ba nền mỹ thuật ở Châu Á: Ấn

Độ, Trung Quốc, Nhật Bản.

- Những nhân tố hình thành ba nền mỹ thuật Châu Á tiêu biểu.

- Đặc điểm của từng nền mỹ thuật.

- Một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu của Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản.



30



BÀI 1 : MỸ THUẬT TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI

1. Mỹ thuật Trung Quốc

1.1. Văn hóa, xã hội.

Nếu ở Phương Tây thời kỳ cổ đại có những nền văn minh phát triển để lại

nhiều tác phẩm nghệ thuật kiệt xuất cho thế giới thì ở Phương Đông vào thời kỳ đó

cũng có nhiều nền văn minh phát triển như văn minh ấn Độ, Trung Quốc và Nhật

Bản. Mặc dù cùng là những nước ở Châu á, nhưng do đặc điểm về dân tộc, phong

tục, tôn giáo, lịch sử của từng nước khác nhau, do đó sự phát triển về nghệ thuật

cũng rất khác nhau. Điều đó tạo nên sự phong phú đa dạng cho nghệ thuật châu á.

Văn minh Trung Quốc và ấn Độ được coi là hai trong những nền văn minh đầu tiên

của loài người cùng với văn minh Lưỡng Hà, Ai Cập.

Trung Quốc là một nước lớn ở phía Đông của châu á. Cách chúng ta khoảng

500.000 năm ở vùng Chu Khẩu Điếm (phía Tây Nam Bắc Kinh) đã có con người sinh

sống. Đó là người vượn Bắc Kinh. Qua những dấu vết còn lại được tìm thấy ta biết

người Bắc Kinh đã biết dùng lửa. Theo truyền thuyết, vào khoảng ba, bốn ngàn năm

trước đây có một tộc người sinh sống ở dưới chân núi Hoa và ven sông Hạ. Cộng

đồng này được gọi là người Hoa, mặc người Hạ ngày nay. Thời kỳ phát triển của

người Hoa Hạ là thời kỳ Tam Hoàng ngũ đế. Ở đây truyền thống văn hoá của dân tộc

mình. Ngay từ thời kỳ xa xưa họ đã có nhiều thành tựu về thiên văn học, lịch pháp, y

học, triết học và các khoa học tự nhiên, văn học. Bốn phát minh lớn của Trung Quốc

trong khoa học kỹ thuật là phát minh ra giấy, kỹ thuật in chữ rời, là bàn và thuốc

súng. Số Pi được Acsimet tính tới số thập phân thứ 4 và người phương Tây đã

dừng lại ở vị trí số xấp xỉ của số Pi. Vào thế kỷ thứ V, cha con nhà toán học Tổ

Xung Chi đã dùng một cách tính tìm ra trị số pi đến con số thập phân thứ 10. Ngoài

ra về mặt nghệ thuật tạo hình Trung Quốc cũng cống hiến cho nhân loại nhiều tác

phẩm nổi tiếng. Trung Quốc có nhiều loại hình tạp kỹ, hội hoạ, bích hoạ, điêu khắc

kiến trúc vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Đặc biệt ở thời kỳ cổ đại Trung Quốc có

nhiều nhà tư tưởng đã cho ra đời nhiều học thuyết, trào lưu tư tưởng lớn như Khổng

Tử, Mặc Tử, Lão Tử, Trang Tử, Mạnh Tử, … với những học thuyết như Nho gia,

Mặc gia, Đạo gia, Pháp gia, … Những học thuyết tư tưởng này sẽ có ảnh hưởng đến

sự hình thành đặc điểm của nền mỹ thuật Trung Quốc. Tất cả mọi yếu tố: điều

kiện địa lý, dân cư, lịch sử, sự xuất hiện chữ viết, những thành tựu về khoa học



31



kỹ thuật, những trào lưu tư tưởng lớn, … đã là cơ sở hình thành nền văn minh

Trung Hoa cổ đại. Lịch sử Trung Quốc được chia ra làm nhiều thời kỳ:

- Thời Tam hoàng ngũ đế (theo truyền thuyết): tam hoàng gồm Phục Hy, Nữ Oa,

Thần Nông. Khoảng thế kỷ 27 TCN có nhiều bộ lạc lớn do liên minh nhiều bộ lạc nhỏ.

Đây cũng chính là thời kỳ Ngũ đế gồm: Hoàng đế, Đế Cao Dương, Đế Cốc, Đế Nghiêu,

Đế Thuấn.

- Nhà Hạ (21 - 16T CN): Thời kỳ chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc.

- Nhà Thương: là thời kỳ phát triển của chế độ chiếm hữu nô lệ. Qua các lần khai quật

các di chỉ cho nhiều di vật quý. Đặc biệt là “giáp cốt văn” - đó là các bản văn tự, những lời

khấn nguyện, … về sinh hoạt chính trị, xã hội Trung Quốc thời nhà Thương.

- Nhà Chu (1066 - 221 TCN): Gốm Tây Chu, Đông Chu (Xuân Thu, Chiến Quốc)

- Nhà Tần (221 - 206 TCN): Mở đầu cho thời kỳ phong kiến.

- Nhà Hán (206 TCN - 220 SCN) là thời kỳ phát triển thịnh trị của chế độ phong kiến

Trung Quốc. Là một đế quốc hùng mạnh nhất, rộng lớn trong lịch sử Trung Quốc.

- Thời Tam Quốc (220 – 280) gồm 3 nước: Nguỵ - Thục - Ngô

- Nhà Tấn (265 - 420)

- Thời Nam Bắc Triều (420 - 589)

- Nhà Tuỳ (581 - 618). Tiếp đó là một loạt các triều đại lần lượt thay thế nhau.

Sang nhà Tuỳ đến nhà Đường (618 - 907). Thời Ngũ đại ở miền Bắc và Thập quốc ở miền

Nam (907 - 960). Tống (960 - 1279). Nguyên (1271 - 1368). Minh (1368 - 1644) và nhà

Thanh do người Mãn Châu thành lập từ 1644 - 1911 kết thúc. Đồng thời đây cũng là triều

đại phong kiến cuối cùng của Trung Quốc. Suốt từ khi nhà Hạ ra đời đến 1911 với cuộc

cách mạng tư sản Tân Hợi lịch sử Trung Quốc trải qua hai thời kỳ: Chiếm hữu nô lệ và

phong kiến.

1.2. Những quan niệm, học thuyết tư tưởng có ảnh hưởng trực tiếp tới mỹ thuật Trung

Quốc cổ

1.2.1. Nho gia

Trong thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc ở Trung Quốc xuất hiện nhiều nhà tư tưởng

lớn, trong đó có Khổng Tử, người sáng lập ra Nho gia. Sau ông có nhiều nhà tư tưởng

khác như Mạnh Tử, Đổng Trọng Thư, … đã hoàn chỉnh học thuyết này.

Khổng Tử (551 - 479 TCN) tên thật là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni, người nước

Lỗ. Ông sống thời Xuân Thu. Tư tưởng của ông gồm triết học, đạo đức, đường lối trị

nước và giáo dục. Triết học có thể chi phối mọi mặt của con người. Đạo đức theo Khổng

32



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (40 trang)

×