1. Trang chủ >
  2. Văn Hóa - Nghệ Thuật >
  3. Điêu khắc - Hội họa >

Mỹ thuật Trung Quốc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (714.9 KB, 40 trang )


kỹ thuật, những trào lưu tư tưởng lớn, … đã là cơ sở hình thành nền văn minh

Trung Hoa cổ đại. Lịch sử Trung Quốc được chia ra làm nhiều thời kỳ:

- Thời Tam hoàng ngũ đế (theo truyền thuyết): tam hoàng gồm Phục Hy, Nữ Oa,

Thần Nông. Khoảng thế kỷ 27 TCN có nhiều bộ lạc lớn do liên minh nhiều bộ lạc nhỏ.

Đây cũng chính là thời kỳ Ngũ đế gồm: Hoàng đế, Đế Cao Dương, Đế Cốc, Đế Nghiêu,

Đế Thuấn.

- Nhà Hạ (21 - 16T CN): Thời kỳ chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc.

- Nhà Thương: là thời kỳ phát triển của chế độ chiếm hữu nô lệ. Qua các lần khai quật

các di chỉ cho nhiều di vật quý. Đặc biệt là “giáp cốt văn” - đó là các bản văn tự, những lời

khấn nguyện, … về sinh hoạt chính trị, xã hội Trung Quốc thời nhà Thương.

- Nhà Chu (1066 - 221 TCN): Gốm Tây Chu, Đông Chu (Xuân Thu, Chiến Quốc)

- Nhà Tần (221 - 206 TCN): Mở đầu cho thời kỳ phong kiến.

- Nhà Hán (206 TCN - 220 SCN) là thời kỳ phát triển thịnh trị của chế độ phong kiến

Trung Quốc. Là một đế quốc hùng mạnh nhất, rộng lớn trong lịch sử Trung Quốc.

- Thời Tam Quốc (220 – 280) gồm 3 nước: Nguỵ - Thục - Ngô

- Nhà Tấn (265 - 420)

- Thời Nam Bắc Triều (420 - 589)

- Nhà Tuỳ (581 - 618). Tiếp đó là một loạt các triều đại lần lượt thay thế nhau.

Sang nhà Tuỳ đến nhà Đường (618 - 907). Thời Ngũ đại ở miền Bắc và Thập quốc ở miền

Nam (907 - 960). Tống (960 - 1279). Nguyên (1271 - 1368). Minh (1368 - 1644) và nhà

Thanh do người Mãn Châu thành lập từ 1644 - 1911 kết thúc. Đồng thời đây cũng là triều

đại phong kiến cuối cùng của Trung Quốc. Suốt từ khi nhà Hạ ra đời đến 1911 với cuộc

cách mạng tư sản Tân Hợi lịch sử Trung Quốc trải qua hai thời kỳ: Chiếm hữu nô lệ và

phong kiến.

1.2. Những quan niệm, học thuyết tư tưởng có ảnh hưởng trực tiếp tới mỹ thuật Trung

Quốc cổ

1.2.1. Nho gia

Trong thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc ở Trung Quốc xuất hiện nhiều nhà tư tưởng

lớn, trong đó có Khổng Tử, người sáng lập ra Nho gia. Sau ông có nhiều nhà tư tưởng

khác như Mạnh Tử, Đổng Trọng Thư, … đã hoàn chỉnh học thuyết này.

Khổng Tử (551 - 479 TCN) tên thật là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni, người nước

Lỗ. Ông sống thời Xuân Thu. Tư tưởng của ông gồm triết học, đạo đức, đường lối trị

nước và giáo dục. Triết học có thể chi phối mọi mặt của con người. Đạo đức theo Khổng

32



Tử gắn với các mặt Nhân - Lễ - Nghĩa - Tín - Dũng. Trong đó quan trọng nhất là Nhân.

Hạt nhân đạo lý của Khổng Tử là khái niệm người quân tử. Ông đề cao lối sống tôn trọng

trật tự xã hội đồng thời là phù hợp với trật tự thiên nhiên. Khổng Giáo đề cao lý trí. Nó

cung cấp cho nghệ thuật, thơ ca một diện rộng đề tài về đạo đức xã hội mang nhiều ý nghĩa

giáo huấn. Nó hướng con người vào những hoạ sĩ để khôi phục trật tự xã hội và xây dựng

quốc gia vững mạnh. Người quân tử phải là tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Mỹ thuật

Trung Quốc bị ảnh hưởng của tử tưởng Nho gia thể hiện ở hai đặc điểm, đó là tính mực

thước và tính đăng đối. Hình tượng các hiền nhân quân tử các hiền nữ, … thường xuất hiện

trong mỹ thuật, nhất là ở các lăng mộ đời Hán.

1.2.2. Đạo gia

Người đề xướng học thuyết đạo gia là Lão Tử, sống vào thời kỳ Xuân Thu và

Trang Tử là người kế tục. Học thuyết của Lão Tử lại nặng nề việc giải thích vũ trụ, vạn

vật. Ông cho rằng nguồn gốc vạn vật, vũ trụ là một vật sinh ra trước trời đất gọi là Đạo.

Từ Đạo mà sinh ra tất cả. Lão Tử còn đưa ra các mặt đối lập trong thế giới khách quan

như cứng - mềm, tĩnh - động, yếu - mạnh… Đạo vừa là nhịp điệu, vừa là sự chuyển động

của vũ trụ, vừa là cuộc sống vừa là hư không. Lão Tử lấy ví dụ về sự thống nhất của: “có không”. Ông ví như cái nhà: hình thể là có, nhưng trong có là khoảng trống không và như

vậy mới tạo thành nhà, … Tinh thần này cũng ảnh hưởng đến một thể loại tranh Trung Quốc.

ở loại tranh này khoảng trống nhiều hơn khoảng vẽ màu. Điều đó tạo ra sự hài hoà, thống

nhất giữa có và không. Theo tinh thần của đạo gia, sự cân bằng giữa các mặt đối lập như tĩnh

- động (dáng), cứng - mềm (khối), nóng - lạnh (màu sắc), chắc chắn - chông chênh (thế), …

đã tạo ra các kiệt tác mỹ thuật. Phải chăng những tác phẩm như thế đã mang theo tư tưởng

triết học biện chứng của Lão Tử.

1.2.3. Phật giáo

Phật giáo có nguồn gốc từ ấn Độ, vào Trung Quốc từ đầu công nguyên. Đến đời

Đường phát triển thành quốc giáo. Khi vào Trung Quốc, Phật giáo đã được Trung Quốc

hoá, vì vậy mang theo tinh thần và tư tưởng của dân tộc Trung Hoa. Nó gặp tư tưởng của

Đạo giáo và cùng tác động mạnh mẽ đến thơ và hoạ. Do Đạo phật phát triển, nhiều kiến

trúc chùa được xây dựng. Cùng với kiến trúc Phật giáo là nghệ thuật bích hoạ và điêu

khắc Phật giáo cũng phát triển. Bích hoạ Đôn Hoàng là mảng tranh rất nổi tiếng của mỹ

thuật Trung Quốc, mang tinh thần Phật giáo và phục vụ cho Phật giáo.

Từ thời cổ đại, ở Trung Quốc đã xuất hiện nhiều trường phái tư tưởng. Đặc biệt

thời Xuân Thu - Chiến Quốc đã diễn ra sự tranh giành nhau ảnh hưởng giữa các trường

phái đó. Tuy vậy, đối với mỹ thuật ba trào lưu tư tưởng triết học và tôn giáo là Nho gia,

33



Đạo gia, Phật giáo đã trực tiếp ảnh hưởng và góp phần tạo nên những đặc điểm của mỹ

thuật Trung Quốc.

1.3. Sự phát triển của các loại hình nghệ thuật

1.3.1. Kiến trúc

1.3.1.1 Kiến trúc cung điện

Trong danh sách các di sản văn hoá thế giới, Trung Quốc có nhiều công trình nghệ

thuật được ghi nhận bên cạnh các công trình nổi tiếng của nhiều nước khác trên thế giới như:

Lăng Hoàng đế - Khu di tích Khổng Tử - Vạn Lý Trường Thành - Lăng mộ nhà Tần Trường An, Tháp Lục Hoà, Tam Lăng, Cố cung, Thiên đàn, Di Hoà viên, …

Nghệ thuật kiến trúc cổ đại Trung Quốc phát triển với sáu thể loại kiến trúc gồm

kiến trúc cung điện, tôn giáo, lăng mộ, làm viên, đàn miếu và nhà ở.

Ngay từ thời nhà Thương, nhà Chu đã có những kiến trúc cung điện với quy mô

nhỏ. Từ thời nhà Trần trở đi, kiến trúc cung điện đã phát triển và được xây dựng thành

một quần thể kiến trúc với nhiều chức năng riêng biệt. Có thể kể đến một số kinh đô nổi

tiếng như Lạc dương, Khai phong, Trường An, Tử cấm thành. Từ thế kỷ XIII, nhà

Nguyên đã cho xây dựng Hoàng Thành gồm các cung điện có quy mô lớn ở trung tâm

Bắc Kinh. Đến thời nhà Minh Hoàng Thành được xây dựng với vật liệu chính là gỗ.

Ngoài ra còn có đá, ngói lưu ly, gạch, … Năm 1417, triều đình huy động số lượng nhân

công, thợ rất lớn để xây dựng Tử cấm thành với diện tích rộng 720.000 m 2: 1.000 ngôi

nhà, 9.000 gian, rộng 160.000 m. Công trình này được xây dựng trong 3 năm gồm các

công trình chính như: Ngọ Môn, Điện Thái Hoà, cung Càn Thanh, điện Giao Thái, Ngự

hoa viên, điện Dương Tâm, … Đến thời nhà Thanh, trong thành Bắc Kinh còn được xây

dựng thêm nhiều cung điện, lâu đài tráng lệ. Từ khi nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa

ra đời vẫn lấy Bắc Kinh làm thủ đô. Thủ đô Bắc Kinh với Cố cung, Di hoà viên, Vạn lý

trường thành, Thập tam lăng, Thiên đàn, … đã trở thành những di sản văn hoá thế giới thu

hút đông đảo du khách quốc tế khi đến thăm Trung Quốc.

1.3.1.2. Kiến trúc Phật giáo

Vật liệu chủ yếu của kiến trúc cổ Trung Quốc là gỗ. Kiến trúc gỗ có nhiều ưu điểm

nhưng không tránh khỏi một số hạn chế. Hạn chế lớn nhất là tồn tại không được lâu như

kiến trúc gạch hay đá. Gỗ dễ bị mối mọt, cháy, … Vì vậy kiến trúc cổ Trung Quốc hầu

hết đã bị phá huỷ. Đến nay còn rất ít các di tích cổ. Có thể kể một vài công trình chùa cổ

như: Nam thuyền tự (xây dựng năm 782), Phật Quang Tự (857), … Trong kiến trúc Phật

giáo Trung Quốc có một thể loại kiến trúc đặc biệt. Đó là thể loại chùa được tạo ra từ

34



những quả núi, thường được gọi là chùa hang như chùa hang Mạc Cao, hay còn gọi là

Thiên Phật động (động ngàn Phật) ở tỉnh Cam Túc. Thiên Phật động được bắt đầu xây

dựng từ thế kỷ IV đến tận thế kỷ XIV. Trong X thế kỷ đó các nhà tu hành đã đào được

một nghìn hang nhỏ trong lòng núi và trang trí cho Thiên Phật động bằng tranh vẽ trên

vách hang và tượng cũng được đục ra từ núi. Đến nay Trung Quốc còn bảo tồn được 496

hang. Năm 1987 động nghìn Phật được ghi vào danh sách các di sản của văn hoá thế giới.

Kiến trúc Phật giáo của Trung Quốc thường được xây dựng theo đồ án đơn giản. Phần

quan trọng nhất trong chùa là Phật điện. Ngôi chùa sớm nhất của kiến trúc Phật giáo

Trung Quốc là chùa Bạch mã. Tương truyền đây là nơi đầu tiên các cao tăng ấn Độ đến

truyền đạo Phật. Điện Phật nổi tiếng còn lại đến ngày nay là điện phật chùa Phật Quang ở

Ngũ Đài Sơn, thuộc tỉnh Sơn Tây, một trong hai công trình lớn bằng gỗ được xây dựng

sớm nhất.

Một phần khác không kém phần quan trọng trong kiến trúc chùa là tháp. Tháp được

truyền từ ấn Độ vào Trung Quốc. Nhưng vào Trung Quốc, nó kết hợp với kiến trúc Trung

Quốc và tạo ra phong cách riêng cho tháp Trung Quốc.

Trong nghệ thuật kiến trúc Trung Quốc còn các thể loại kiến trúc khác như kiến

trúc đàn miếu thờ núi sông, trời đất, đế vương, tổ tiên và cầu mùa. Đền miếu là nơi thờ

các danh thần, danh tướng, văn nhân có công với dân, với nước. Gia miếu, từ đường cúng

tế tổ tiên. Về thể loại đàn miếu có thể kể đến công trình kiến trúc nổi tiếng là “Thiên đàn”

xây dựng năm Minh Vĩnh Lạc thứ 18 (1420). Rộng 4184 mẫu, gấp 4 lần diện tích Tử

Cấm Thành. Kiến trúc Thiên Đàn gồm 2 phần: phần kiến trúc dành cho việc tế trời, nằm ở

phía Đông, phía Tây là Trai cung, nơi Hoàng đế đến tắm gội và ăn chay trước khi làm lễ

tế trời vào ngày Đông chí hàng năm. Đàn là một đài cao 3 tầng, xây bằng đá, một nhóm

kiến trúc khác ở Thiên đàn là điện Kỳ niên, nơi vua đến làm lễ cầu được mùa hàng năm

vào giữa mùa hạ.

1.3.1.3. Kiến trúc lăng tẩm của các Hoàng đế Trung Hoa

Người Trung Quốc cũng như mọi tộc người Châu á khác đều rất coi trọng việc xây

dựng lăng mộ cho người chết. Các Hoàng đế lo việc này từ khi mới lên ngôi. Những lăng

tẩm còn lại của các hoàng đế cho ta biết lăng một Trung Hoa cổ thường gồm 2 phần: Phần

nổi trên mặt đất và phần chìm trong lòng đất (ngoại cung hoặc địa cung). Thập tam lăng

là khu lăng mộ của nhà Minh đã được ghi vào danh sách di sản thế giới. Chu vi của Thập

Tam lăng là 40km, ba mặt Bắc - Đông - Tây là núi. Vào lăng phải qua cổng gồm 5 cửa,

cao 29m, có 6 cột chạm khắc rồng mây tinh xảo. Hai bên đường thần đạo có 12 cặp tượng

thú bằng đá và 12 tượng người đá gồm 4 văn, 4 võ và 4 công thần. ở khu Thập tam lăng

35



còn có Định lăng hay còn gọi là cung điện ngầm rất nổi tiếng. Cung điện ngầm được xây

dựng ở độ sâu cách mặt đất 27m, diện tích 1195m 2. Tất cả những điều trên cho ta thấy tài

năng của người Trung Hoa cổ về mặt kiến trúc. Thập tam lăng của nhà Minh chỉ là một ví

dụ. Ngoài ra còn rất nhiều công trình lăng tẩm khác.

Ngoài các công trình kiến trúc gỗ, trong kiến trúc Trung Hoa cổ còn thể loại kiến

trúc gạch, đá. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của thể loại này là Vạn lý trường

thành. Trường thành được xây dựng từ 3, 4 trăm năm TCN. Năm 221 TCN Tần Thuỷ

Hoàng cho xây dựng nối liền các đoạn thành ở phía Bắc ba nước Tần - Yên - Triệu, đồng

thời cho xây dài thêm hoàn thành dãy trường thành dài trên 5.000km. Đây là công trình

lớn nhất thế giới do sức người xây dựng nên. Chiều cao bình quân của trường thành là

9m, nóc rộng 5,5m, đủ cho 10 người dàn hàng hoặc 5 kỵ binh một hàng qua lại dễ dàng.

Trải qua mấy nghìn năm Trường thành vẫn đứng sừng vững và thu hút mọi người ở Trung

Quốc cũng như trên thế giới đến đây chiêm ngưỡng.

1.4 . Nghệ thuật Điêu khắc

Nghệ thuật điêu khắc của Trung Quốc xuất hiện từ rất sớm. Sớm nhất là thể loại

điêu khắc trên ngọc hay còn gọi là ngọc điêu có cách đây 6.000 năm. Điêu khắc đá được

phát hiện sớm nhất ở An Dương Hầu gia trang (Hà Nam), cuối đời Thương như bức

Thạch điêu đầu hổ mình người cao hơn 37cm. Ngay từ thời Ân Chu đã tìm thấy nhiều đồ

đồng, đồ chạm ngọc, đồ gốm trắng hình dáng đẹp, trang trí tỉ mỉ. Các hoa văn rồng, hoa

lá, chim thú được cách điệu cao. Từ thời Hán, đạo Phật được truyền vào Trung Quốc.

Cùng với việc xây dựng các công trình kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc cũng phát triển với

nhiều thể loại: tượng phật, tượng thờ, tượng sư tử và các bức phù điêu rất đẹp thể hiện đề

tài lịch sử như Chu Công giúp Thành Vương, … Nhà điêu khắc nổi tiếng thời Đường là

Dương Huệ Chi, ông là người mở đầu cho điêu khắc tượng Phật nghìn mắt, nghìn tay và

500 tương la hán.



36



Trong số các tượng Phật có pho rất to lớn như tượng Phật Đại lư xá ở Long môn

cao 17m thể hiện Phật ngồi tĩnh toạ bằng chất liệu đá, tỷ lệ đẹp và tình cảm tự nhiên. Tuy

vậy đấy chưa phải là bức tượng lớn nhất. ở Nhạc Sơn -Tứ Xuyên có pho tượng Phật đứng

cao 36m, ở Đông Hoàng (Cam Túc), có tượng Phật bằng đá mềm cao 33m, …

Bức tượng phật được coi là bức tượng khổng lồ, lớn nhất thế giới là pho tượng phật

Di Lặc ngồi cao 71m tại vùng núi Lạc Sơn (tỉnh Tứ Xuyên), được tạc vào đời Đường thế

kỷ thứ VIII.

Tượng Phật ngồi lưng tựa vào vách núi phía Tây lăng Văn Sơn. Do đó tượng phật

được gọi là Lăng Vân Đại phật hay Lạc Sơn Đại Phật. Đầu tượng cao 14m, rộng 10m,

chân dung siêu phàm, lý tưởng nét mặt phương phi, kỳ vĩ. Mỗi mắt dài 3,3m, cân đối với

độ cao từ bàn chân lên đầu gối (28m).

Cùng với tượng, phù điêu cũng biểu hiện tài năng của người Trung Hoa cổ. Bức

phù điêu “Chiêu lăng lục tuấn” (Lăng Đường Thái Tông) diễn tả 6 con ngựa mà khi còn

sống Đường Lý Thế Dân thường cưỡi đi chinh chiến. Sáu con tuấn mã được diễn tả trong

6 tư thế đứng, đi, chạy, rong ruổi, … rất sinh động. Nhà nghiên cứu mỹ thuật phi Hoanh

đã ví “Chiêu lăng lục tuấn” với ngựa ở đền Pác tê nông (Hy Lạp).

Năm 1974 ở gần Lâm Đồng (Trung Quốc) những người nông dân đã vô tình phát

hiện một số tượng đất nung người và ngựa. Sau đó tiến hành khai quật, Trung Quốc đã

tìm được hàng ngàn pho tượng to bằng người thật. Có tất cả 8.000 pho tượng đất nung,

cao từ 1,6m đến 1,7m trong trang phục của nhiều binh chủng như bộ binh, xạ thủ bắn

cung, nỏ đá, kỵ binh, chiến xa, chiến mã. Họ được chôn bên cạnh Tần Thuỷ Hoàng.

37



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (40 trang)

×