1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.29 MB, 106 trang )


về mặt lý luận như: các chức năng của QLGD; chức năng, phẩm chất, tiêu

chuẩn của người QLGD; vai trò, công việc cuả người hiệu trưởng và đội ngũ

cán bộ QLGD trong nhà trường ... Có thể kể tên một số tác giả tiêu biểu như:

Nguyễn Văn Lê, Hồ Sĩ Thế, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn

Thị Mỹ Lộc, Đặng Bá Lãm, ….

Ý kiến của nhiều tác giả đều cho rằng: trong nhà trường hiệu trưởng

phải là người biết kết hợp một cách hữu cơ sự QL dạy và học (nghĩa rộng)

với sự quản lí các quá trình bộ phận, hoạt động dạy và học các môn học và

các hoạt động khác hỗ trợ cho hoạt động dạy và học nhằm làm cho công tác

giáo dục được hoàn chỉnh, trọn vẹn. Các tác giả Nguyễn Ngọc Thanh và Lê

Ngọc Trà cùng nhấn mạnh vai trò của công tác QL đối với việc nâng cao chất

lượng giáo dục là các nhà làm công tác giáo dục phải không ngừng cải tiến,

nâng cao chất lượng điều hành và QL của mình để qua đó tác động một cách

hiệu quả vào quá trình cải tiến chất lượng ở các khâu, các bộ phận của hệ

thống giáo dục ở cấp vi mô cũng như vĩ mô. Các tác giả Lê Tuấn và Hồ Sĩ

Thế cũng khẳng định rằng: trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo, việc QL

dạy và học là nhiệm vụ trung tâm của nhà trường.

Hiện nay trong các nhà trường, người hiệu trưởng và đội ngũ cán bộ

QLGD cũng dành nhiều quan tâm, đầu tư thời gian tìm hiểu, nghiên cứu về

các biện pháp QL nhà trường, QL HĐDH với mục đích nâng cao chất lượng

và hiệu quả của hoạt động này. Đó là những đề tài rất có ý nghĩa cả về mặt lý

luận và thực tiễn, giúp người hiệu trưởng có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về

công việc của mình từ đó xác định được cách làm đúng quy luật, phù hợp với

thực tế, tình hình của cơ sở giáo dục mình QL. Tuy nhiên có rất ít đề tài

nghiên cứu, tìm hiểu về biện pháp QL HĐDH ở các nhà trường phổ thông

thuộc vùng khó khăn, khu vực miền núi, dân cư chủ yếu là người dân tộc

thiểu số, điều kiện kinh tế xã hội có nhiều khó khăn. Vì vậy trong trong

khuôn khổ luận văn này tác giả muốn dựa trên cơ sở lý luận về QL HĐDH để

tìm hiểu thực trạng QL HĐDH ở Trường THPT Bình Độ tỉnh Lạng Sơn. Từ

6



đó đề xuất một số biện pháp QL giúp hiệu trưởng Nhà trường nâng cao hiệu

quả và chất lượng dạy học.

1.2. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

1.2.1. Quản lý và các khái niệm liên quan đến vấn đề quản lý

1.2.1.1. Quản lý

QL xuất hiện, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người.

Đây là một trong những loại hình lao động lâu đời và quan trọng nhất của con

người, là công vệc cần thiết trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội,

có tính chất quyết định đến sự phát triển của toàn xã hội. Song chỉ những

năm gần đây người ta mới thừa nhận tính chất khoa học của nó và QL mới

được coi là một ngành khoa học theo đúng nghĩa. Bất kì một tổ chức, một tập

thể nào cũng đều có yếu tố QL trong đó và điều đó quyết định tới hiệu qủa

hoạt động của tổ chức theo mục tiêu đề ra.

Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về QL tùy theo quan điểm và

cách tiếp cận. Có người cho rằng QL là sự chỉ huy, lãnh đạo, sự cai quản, sự

điều khiển, điều chỉnh… Tuy nhiên có thể nêu lên một số quan điểm có tính

chất cốt lõi của một số tác giả như sau:

K.Marx cho rằng: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động

chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự

chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng

chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận

động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều

khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [25].

Như vậy bản chất của QL là một hoạt động lao động có tính tất yếu, vô

cùng quan trọng trong quá trình lao động, phát triển của loài người.

Henry Fayol (1841 – 1925) nhấn mạnh: QL là một hệ thống phát huy

tác dụng có tính chất độc lập không thể thay thế. Theo ông: “quản lý là lập kế

hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” [24, tr.17]

7



Mary ParKer Follett (1868 - 1933) nổi tiếng với thuyết hành vi trong

quản lý cho rằng: “Quản lý là một quá trình lao động, liên tục, kế tiếp nhau

chứ không tĩnh tại” [24, tr.24].

Tác giả H. Koontz cũng nhấn mạnh: “Quản lý là một hoạt động thiết

yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục

đích của nhóm (tổ chức). Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi

trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với

thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [22, tr.33].

Các tác giả Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về khoa học

QL và thể hiện nhiều quan điểm về vấn đề này như sau:

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng “Quản lý là sự tác động có

mục đích tới tập thể những người lao động nhằm đạt được những kết quả

nhất định và mục đích đã định trước” [27, tr.33].

Theo tác giả Nguyễn Văn Lê: “Quản lý với tư cách là một hệ thống xã

hội, là khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ bằng các

phương pháp thích hợp, nhằm đạt các mục tiêu đề ra cho hệ và cho từng

thành tố của hệ” [23, tr.28].

Tác giả Phạm Văn Kha khẳng định: “Quản lý là quá trình lập kế

hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một

hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục

đích đã định” [20, tr.6].

Theo các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ thì: “Quản lý là một

quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý có hệ thống là quá trình

tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục

tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong

muốn” [19, tr.17].

Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì hoạt

động quản lý là: “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý

8



(người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một tổ chức –

nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [10, tr.1].

Còn tác giả Đặng Quốc Bảo thì khẳng định : Bản chất của hoạt động

QL nhằm làm cho hệ thống vận hành theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các

trạng thái có tính chất lượng mới”.

Quản lý = Quản + Lý

Trong đó : - Quản là chăm sóc, giữ gìn sự ổn định .

- Lý là sửa sang, sắp xếp, đổi mới phát triển.

Hệ ổn định mà không phát triển thì tất yếu dẫn đến suy thoái. Hệ phát

triển mà không ổn định tất yếu dẫn đến rối ren.

Vậy: Quản lý = ổn định + phát triển

Theo từ điển tiếng việt thì QL là hoạt động của con người tác động vào

tập thể người khác để phối hợp, điều chỉnh, phân công thực hiện mục tiêu chung.

Từ rất nhiều quan điểm khác nhau nêu trên, chúng ta có thể hiểu khái

quát về QL như sau: QL là sự tác động, chỉ huy điều khiển hướng dẫn các

quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người, nhằm đạt được mục

đích đề ra. Sự tác động của QL bằng cách nào đó để người bị QL luôn tự

giác, phấn khởi đem hết năng lực, trí tuệ của mình tạo nên lợi ích cho bản

thân, cho tổ chức và cả xã hội. Khái niệm QL bao hàm những khía cạnh sau:

Đối tượng tác động của QL là một hệ thống xã hội hoàn chỉnh như một

cơ thể sống gồm nhiều yếu tố liên kết hữu cơ theo một quy luật nhất định, tồn

tại trong không gian, thời gian cụ thể.

Hệ thống QL gồm hai phân hệ: Chủ thể QL và khách thể QL, giữa

chúng có sự tác động tương hỗ, biện chứng với nhau.

QL bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định.

Tác động quản lí thường mang tính tổng hợp, bao gồm nhiều phương pháp

khác nhau.



9



QL là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp quy luật

khách quan. Đó là các hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo bằng những quyết

định đúng quy luật và có hiệu quả, nhưng cũng phải tuân theo những nguyên

tắc nhất định, hướng đến mục tiêu.

QL xét đến cùng, bao giờ cũng là QL con người. Mục tiêu cuối cùng

của QL là chất lượng, sản phẩm vì lợi ích phục vụ con người. Người QL tựu

chung lại là nghiên cứu khoa học, nghệ thuật giải quyết các mối quan hệ giữa

con người với nhau vô cùng phức tạp, không chỉ giữa chủ thể và khách thể

trong hệ thống mà còn là mối quan hệ tương tác với các hệ thống khác.

Như vậy QL thể hiện rõ bản chất khoa học ở chỗ: hoạt động này luôn

có tính tổ chức, dựa trên những quy luật, nguyên tắc và phương pháp hoạt

động nhất định. Đồng thời hoạt động QL cũng chứa đựng sự sáng tạo, mềm

dẻo, linh hoạt trong việc xử lí tình huống với các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể,

để đạt được mục tiêu đề ra. Điều này cho thấy QL cũng có tính nghệ thuật,

đòi hỏi người QL phải không ngừng học tập, trau dồi, tích lũy kinh nghiệm,

rèn luyện các kĩ năng cần thiết.

Nếu mổ xẻ khái niệm QL ta cần phải thấy được đầy đủ các thành tố

sau đây:

Chủ thể quản lý: là một cá nhân, một nhóm người hay tổ chức tạo ra

những tác động quản lý. Nó trả lời câu hỏi: ai quản lý ?

Khách thể quản lý: là đối tượng tiếp nhận các tác động quản lý. Khách

thể quản lý có thể là người (trả lời câu hỏi: quản lý ai?), là vật (trả lời câu hỏi:

quản lý cái gì?) hoặc sự việc (trả lời câu hỏi: quản lý việc gì?)

Mục tiêu quản lý là quỹ đạo đặt ra cho các đối tượng và chủ thể, chính

mục tiêu là căn cứ cho chủ thể tạo ra các tác động quản lý.

Nói một cách tổng quát QL là một quá trình tác động gây ảnh hưởng

của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đạt được mục tiêu chung.



10



Các yếu tố trên có quan hệ tác động qua lại với nhau, ràng buộc chặt

chẽ với nhau thành một chỉnh thể toàn vẹn. Mỗi yếu tố đều giữ một vai trò

quan trọng tham gia quyết định đến hiệu quả và chất lượng của cả quá trình.

Mối quan hệ này có thể được sơ đồ hóa như sau:



CÔNG CỤ



KHÁCH THỂ

QUẢN LÝ



CHỦ THỂ

QUẢN LÝ



MỤC TIÊU



PHƢƠNG PHÁP



Hình 1.1: Quan hệ chủ thể QL, khách thể QL và mục tiêu QL

1.2.1.2. Các chức năng cơ bản của quản lý

Chức năng của quản lí là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ định

của chủ thể QL lên đối tượng QL. Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau

mà chủ thể QL phải tiến hành trong quá trình QL. Có thể hiểu chức năng QL

là một nội dung cơ bản trong quá trình QL, là nhiệm vụ trọng tâm của người

QL. Nói tới các chức năng chủ yếu của QL, hiện nay có nhiều quan điểm

khác nhau nhưng nhìn chung đa số các tác giả đều thống nhất ở bốn chức

năng sau:

* Kế hoạch hoá: Đây là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng

QL. Kế hoạch hoá bao gồm việc XD mục tiêu, chương trình hành động và

quyết định cách thức, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của

một hệ thống QL để đạt được mục tiêu. Kế hoạch hoá giúp nhà QL có cái

nhìn tổng thể, toàn diện, từ đó thấy được hoạt động tương tác giữa các bộ

phận. Việc lập kế hoạch cho phép lựa chọn những phương án tối ưu, tiết kiệm

nguồn lực, tạo hiệu quả hoạt động cho toàn bộ tổ chức và có khả năng ứng phó

với sự thay đổi. Ngoài ra, nó còn tạo điều kiện dễ dàng cho việc kiểm tra.

11



Không có kế hoạch sẽ không thể xác định được tổ chức hướng đúng hay chệch

mục tiêu và không biết khi nào đạt được mục tiêu. Do đó, kiểm tra trở thành vô

căn cứ. Nhà QL thông qua kế hoạch có thể nhìn thấy tương lai, có thể điều chỉnh

những quyết định trước đó, bảo đảm hướng vào mục tiêu đã định.

* Tổ chức: Tổ chức là việc biến những ý tưởng trừu tượng của kế

hoạch thành hiện thực. Xét về mặt chức năng QL, tổ chức là quá trình hình

thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong tổ

chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục

tiêu tổng thể của tổ chức. Tổ chức làm cho các chức năng khác của hoạt động

QL thực hiện có hiệu quả. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào

năng lực của người QL. Họ cần thiết kế cơ cấu các bộ phận, sử dụng các

nguồn nhân lực và vật lực sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức.

* Chỉ đạo: Đây là quá trình sử dụng quyền lực QL để tác động đến đối

tượng bị QL một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của họ

hướng vào mục tiêu chung. Chỉ đạo là chức năng thể hiện năng lực của người

QL. Việc chỉ đạo không chỉ bắt đầu sau việc lập kế hoạch và cơ cấu tổ chức

đã hoàn tất, mà nó hoà quyện và ảnh hưởng đến hai chức năng kia.

* Kiểm tra: Đây là chức năng quan trọng xuyên suốt quá trình QL. Mục

đích của KT nhằm bảo đảm các kế hoạch thành công, phát hiện kịp thời

những sai lệch, tìm nguyên nhân và biện pháp điều chỉnh các sai lệch nhằm

làm cho toàn bộ hệ thống đạt mục tiêu đã định. KT là một quá trình bao gồm

các bước: xây dựng các tiêu chuẩn; đo lường việc thực hiện; đánh giá các tiêu

chuẩn so với các kế hoạch. KT là “tai mắt” của QL, là việc làm bình thường,

không được cản trở đối tượng thực hiện mục tiêu.

Tất cả các chức năng trên đều cần đến yếu tố thông tin. Thông tin đầy

đủ, kịp thời, chính xác là một căn cứ để hoạch định kế hoạch. Thông tin cũng

cần cho các bộ phận trong cơ cấu tổ chức, nó tạo nên mối quan hệ giữa các

bộ phận trong tổ chức. Nó giúp truyền tải mệnh lệnh chỉ đạo và phản hồi hai



12



chiều trong một tổ chức, giúp người QL thực hiện các chức năng của mình

nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.



Lập kế hoạch



Kiểm tra



Thông tin



Tổ chức



Lãnh đạo/Chỉ đạo



Hình 1.2: Mối quan hệ giữa thông tin với các chức năng trong chu trình QL

1.2.1.3. Các nguyên tắc quản lý

Nguyên tắc QL là một hệ thống các qui tắc mang tính chỉ đạo, những

qui định, tiêu chuẩn, điều kiện đòi hỏi người QL phải tuân thủ mới mong đạt

được mục tiêu đề ra. Có nhiều lí thuyết về nguyên tắc QL, tuy nhiên các nhà

QL cần tập trung đảm bảo các nguyên tắc chủ yếu sau đây:

Nguyên tắc tập trung dân chủ: sự tập trung phải được thể hiện là tất

cả các hoạt động dù lớn hay nhỏ của một tổ chức đều phải hướng vào cơ

quan quyền lực cao nhất. Vì cơ quan này giữ vai trò hoạch định đường lối,

chủ trương, xác định mục tiêu, xây dựng các chính sách, biện pháp để chỉ đạo

các bộ phận của tổ chức thực hiện các hoạt động nhắm tới mục tiêu cao nhất

của tổ chức. Tính dân chủ trong một tập thể được thể hiện trong một tổ chức

là mọi thành viên đều được quyền và có nghĩa vụ tham gia đóng góp trí tuệ

của mình vào hoạt động của tổ chức. Tất cả các thành viên trong tổ chức đều

được tham gia ý kiến của mình vào các công việc trung, để đưa ra các quyết

định có tính chất quan trọng của tập thể. Mọi người đều được đóng góp trí tuệ

để tham gia vào tất cả các chức năng của quá trình QL. Đó là việc xây dựng

kế hoạch, tổ chức bộ máy, chỉ đạo thực hiện và KT - ĐG hoạt động của tổ

13



chức. Sự kết hợp giữa tập trung và dân chủ sẽ giúp thu được hiệu quả QL tích

cực, vừa phát huy được sức mạnh quyền lực của cơ quan, lại vừa huy động

được sức mạnh trí tuệ của các thành viên, để thực hiện thành công mục tiêu

QL. Có tập trung và dân chủ thì mới thúc đẩy được tính sáng tạo, tinh thần

trách nhiệm, khích lệ được đông đảo các thành viên cùng nỗ lực tạo thành

sức mạnh tổng thể cho tổ chức. Tuy nhiên khi vận dụng nguyên tắc này đòi

hỏi người QL phải linh hoạt, khéo léo điều chỉnh cho phù hợp để công việc

đạt hiệu quả cao nhất. Nếu quá coi trọng tính tập trung dễ dẫn đến quan liêu,

cửa quyền, xa rời thực tế. Ngược lại, nếu dân chủ quá trớn cũng làm mờ nhạt

vai trò lãnh đạo của cơ quan quyền lực, dễ dẫn đến tình trạng lộn xộn, gây

khó khăn cho người QL trong quá trình đạt tới mục tiêu chung. Bởi vậy,

trong tổ chức, người QL cần phải biết phối hợp hài hòa sự tập trung và dân

chủ sao cho vừa phát huy được trí tuệ của tập thể, vừa giữ đúng quan điểm

lãnh đạo, không chệch hướng mục tiêu.

Nguyên tắc kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể trong

tổ chức. Mỗi thành viên trong một tổ chức đều có nhu cầu, nguyện vọng,

những đòi hỏi quyền lợi nhất định. Chỉ khi nào lợi ích cá nhân được đáp ứng

thì mới thúc đẩy được các thành viên nỗ lực đóng góp trí tuệ của mình cho

công việc và lợi ích chung của tập thể. Tuy nhiên, không thể quá coi trọng lợi

ích cá nhân mà xem nhẹ hoặc bỏ qua lợi ích chung của tổ chức. Điều đó dễ

dẫn đến thói cơ hội, ỉ lại, thiếu tinh thần trách nhiệm và như thế sẽ thật khó

để đạt được mục tiêu chung. Vì vậy người QL nên biết phối hợp hài hòa lợi

ích riêng của các thành viên trong tổ chức với lợi ích chung của cả tập thể,

sao cho trong lợi ích của tập thể có quyền lợi của cá nhân và mọi người đều

thấy được quyền lợi của mình chính là phải đóng góp cho tổ chức.

Nguyên tắc hiệu quả. Tính hiệu quả thể hiện ở việc người QL tổ chức

và điều hành công việc sao cho những đầu tư về con người, thời gian, tài lực

... là ít nhất mà vẫn đạt được kết quả công việc như mong muốn, hoàn thành

được mục tiêu đề ra. Như vậy tính hiệu quả lao động của một tổ chức cho

14



thấy tính khoa học, sự hợp lí của việc điều hành qua đó thể hiện năng lực,

trình độ của người QL. Chỉ khi đảm bảo được tính hiệu quả thì mới duy trì và

phát triển được tổ chức, thực hiện được mục tiêu nhanh nhất.

Nguyên tắc nắm khâu trọng yếu. Trong quá trình QL nếu chủ thể QL

không biết phân tích tình hình, tính chất quan trọng, cấp thiết của các nội

dung công việc sẽ dẫn đến tình trạng dàn trải, ôm đồm, không trọng tâm,

thiếu quyết đoán trong chỉ đạo, điều hành dẫn đến không hoàn thành công

việc. Bởi thế, người QL phải tùy giai đoạn, trạng thái, tình huống công việc

để phân tích và đưa ra quyết định chính xác, kịp thời trong những khâu then

chốt, những vấn đề trọng tâm của công việc. Có như vậy mới phân phối hợp

lí và phát huy được hiệu quả các nguồn lực.

Nguyên tắc kiên định mục tiêu. Kiên định theo mục tiêu đã đề ra sẽ

tạo cho người QL có sức mạnh tinh thần, đủ bản lĩnh để lãnh đạo tổ chức

vượt qua được những khó khăn trong quá trình phát triển. Trong thực tế

không phải khi nào hoạt động của tổ chức cũng thuận lợi mà nhiều khi phải

đối mặt với rất nhiều thách thức, khó khăn, những tác động trái chiều từ môi

trường bên ngoài, thậm chí ngay cả bên trong tổ chức. Nếu không kiên định,

người QL dễ thiếu quyết đoán, nản trí, thất bại.

Các nguyên tắc QL nêu trên tuy có tính chất độc lập nhưng lại có mối

quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại, ràng buộc lẫn nhau, là

điều kiện và động lực thúc đẩy nhau. Đảm bảo được đầy đủ các nguyên tắc

này sẽ là người QL thành công.

1.2.1.4. Các biện pháp quản lý

Theo Đại từ điển tiếng Việt (1999) thì biện pháp là cách làm, cách thức

tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể, một công việc cụ thể nào đó.

Biện pháp QL là tổ hợp nhiều cách thức tác động của chủ thể QL lên

đối tượng QL nhằm giải quyết những vấn đề trong công tác QL, làm cho hệ

QL vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể đã đề ra, phù hợp với quy luật khách

quan để nâng cao khả năng hoàn thành có kết quả các mục tiêu đã đặt ra.

15



Trong biện pháp QL có sự tác động tương hỗ, biện chứng giữa chủ thể và

khách thể QL. Khi thực hiện biện pháp QL, người QL sử dụng các chức

năng, công cụ QL một cách phù hợp cho từng tình huống và đối tượng để đưa

đối tượng, đơn vị mình QL đạt mục tiêu mà chủ thể mong muốn, đưa chất

lượng QL lên một vị trí mới, tình trạng mới tốt hơn hiện tại.

Trong thực tế, các biện pháp QL rất đa dạng và phải luôn được nhà QL

sử dụng linh hoạt, sáng tạo để xử lý các tình huống cụ thể trong một môi

trường luôn biến đổi. Điều đó đòi hỏi ở người QL phải có kiến thức sâu rộng,

có kinh nghiệm để gắn kết những biện pháp với nhau, giải quyết những mâu

thuẫn giữa các biện pháp, biết tiên liệu trước các hoàn cảnh, tình huống mà

đối tượng QL đặt ra. Có biện pháp đúng đắn sẽ giúp các tổ chức hạn chế

được các nhược điểm của mình, liên kết gắn bó mọi con người trong tổ chức,

tạo niềm tin, sức mạnh và truyền thống của tổ chức. Biện pháp QL cần được

xây dựng trên cơ sở vận dụng những kinh nghiệm đã được đúc kết, khái quát

hoá thành những nguyên tắc, phương pháp và kỹ năng QL nhất định.

Như vậy, có thể hiểu biện pháp QL là tổng thể cách thức tác động

của chủ thể QL lên đối tƣợng QL trong quá trình tiến hành các hoạt

động nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra.

Có thể dựa vào sự tác động của chủ thể đến đối tượng quản lý, để chia

biện pháp QL thành các nhóm cơ bản như sau đây:

- Biện pháp thuyết phục: là cách tác động vào nhận thức của con

người bằng lý lẽ làm cho con người nhận thức đúng đắn và tự nguyện thừa

nhận các yêu cầu của QL, từ đó có thái độ và hành vi phù hợp với các yêu

cầu đó. Đây là biện pháp cơ bản để giáo dục con người, nhà QL chỉ tác động

đến đối tượng bằng lời lẽ của mình để thay đổi nhận thức của đối tượng.

- Biện pháp tổ chức - hành chính: là cách tác động trực tiếp của hệ

QL đến hệ bị QL trên cơ sở quan hệ tổ chức và quyền lực hành chính bằng

mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định. Biện pháp này dựa vào quyền uy tổ chức của



16



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (106 trang)

×