1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP QUẢN LÝ &KINH DOANH HÀ NỘI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.29 MB, 106 trang )


CHƢƠNG 2



THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN CỦA

TRƢỜNG ĐẠI HỌC DÂN LẬP QUẢN LÝ &KINH DOANH HÀ NỘI

2.1. Khái quát về phát triển Đại học dân lập ở Việt Nam

Hệ thống giáo dục nước ta được xây dựng và phát triển theo định hướng

xã hội chủ nghĩa. Từ năm 1990 trở về trước, tất cả các trường đại học, cao đẳng

ở nước ta là các trường công lập do Nhà nước quản lý. Bộ GD-ĐT là cơ quan

quản lý Nhà nước, trực tiếp tổ chức và điều hành hoạt động giáo dục đại học

nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và góp phần nâng

cao dân trí cho đất nước. Từ năm 1990 đến nay, để đáp ứng yêu cầu ngày càng

cao về đào tạo nhân lực có trình độ cao đẳng trở lên cho nhu cầu phát triển kinh

tế - xã hội của đất nước nói chung và yêu cầu phát triển giáo dục đại học nói

riêng, ngành giáo dục và đào tạo đã thực hiện đổi mới căn bản cả về mục tiêu,

nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo; mở nhiều hình thức, loại hình

đào tạo nhằm tạo cơ hội cho mọi người được đi học và học tập suốt đời. Đồng

thời, làm cho mỗi người dân cũng như cả cộng đồng có sự quan tâm hơn, trách

nhiệm hơn đối với sự nghiệp giáo dục.

Hiện nay, trong giáo dục đại học ở nước ta có hai loại trường: trường đại

học công lập (ĐHCL) và trường đại học ngoài công lập (ĐHNCL). Trường

ĐHCL là trường do nhà nước trực tiếp tổ chức, điều hành và chịu trách nhiệm

trách nhiệm chính. Còn trường ĐHNCL là trường do tổ chức xã hội, hay cá nhân

đứng ra xin phép thành lập, tổ chức, điều hành, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết

bị và chịu trách nhiệm về vấn đề thu chi tài chính đảm bảo cho sự hoạt động của

trường. Hệ thống trường ĐHNCL ở nước ta hiện nay gồm ĐHDL và ĐH bán

công (ĐHBC). Sắp tới, khi quy chế “Trường đại học tư thục” được ban hành sẽ

hình thành nên một loại trường ĐHNCL mới, đó là trường đại học tư thục.

Các trường ĐHDL là loại hình đào tạo ra đời trong thời kỳ đổi mới.

38



Trường ĐHDL Thăng Long là trường ĐHDL đầu tiên đượcthành lập ở nước ta

vào năm 1988 với tên gọi lúc đầu là Trung tâm ĐHDL Thăng Long. Sau đó, một

loạt các trường khác đượcthành lập như trường ĐHDL Phương Đông (1994),

ĐHDL Đông Đô (1994), ĐHDL Duy Tân (1994), ĐHDL Ngoại ngữ - Tin Học

(1994), ĐHDL Quản lý và Kinh doanh Hà Nội (1996)... Đến nay, nước ta có 15

trường ĐHDL (theo số liệu thống kê của Bộ giáo dục và đào tạo) và rất nhiều hồ

sơ xin mở trường ĐHDL đang chờ quyết định của Chính phủ. Điều đó cho thấy,

mô hình ĐHDL đang có xu hướng phát triển. “Sự ra đời và phát triển của mô

hình trường ĐHDL là một bước thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục của

Nhà nước, thoả mãn nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân; đồng thời

đáp ứng kịp thời nhu cầu về phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp công

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Mặt khác, nó cũng tạo ra một sự “cạnh tranh”

với hệ thống trường công lập về quản lý, về tính năng động trong đào tạo…

nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng ngày càng tốt hơn về chất lượng

nguồn nhân lực cho thị trường lao động đang phát triển ở nước ta hiện

nay”.[37,97-98]

Với ưu điểm được tự chủ về bộ máy tổ chức, về tuyển dụng lao động và

về tài chính nên các trường ĐHDL có bộ máy điều hành tinh gọn, đội ngũ cán

bộ, nhân viên đượctuyển lựa kỹ càng, có điều kiện lựa chọn những GVTG giỏi,

có trình độ cao, tâm huyết với nghề. Phương thức đào tạo ở các trường này khá

linh hoạt, bám sát yêu cầu của đổi mới đào tạo. Vì thế, trong 15 năm qua, các

trường ĐHDL đã “chia sẻ” một cách hiệu quả gánh nặng cùng hệ thống đại học

công lập. Các trường ĐHDL đã góp phần đào tạo đượckhoảng 12% tổng số SV

trong cả nước, kế hoạch trong tương lai, tỷ lệ này sẽ được nâng lên 40% (Chiến

lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001 - 2010).

Tuy nhiên, các trường ĐHDL còn đang gặp khó khăn về cơ sở vật chất,

ĐNGV, về số lượng SV, về tài chính… Chính vì vậy, bên cạnh sự nỗ lực của

các trường, Nhà nước cần có những biện pháp trợ giúp, tạo điều kiện cho các

39



trường ĐHDL phát huy thế mạnh, khắc phục khó khăn, từng bước phát triển

sánh vai với các trường ĐHCL trong nước và các trường ĐH trong khu vực và

trên thế giới.

2..2. Quá trình hình thành và phát triển Trƣờng ĐHDL Quản lý

&Kinh doanh Hà Nội.

Trường ĐHDL QL&KD Hà Nội được thành lập theo Quyết định số

405/TTg ngày 15 tháng 6 năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ. Trường trực

thuộc Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ GD

& ĐT. Trường ĐHDL QL&KD Hà Nội là một tổ chức hợp tác của những người

lao động trí óc, tự nguyện góp sức góp vốn để xây dựng và phát triển Trường vì

mục tiêu đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, không vì mục đích lợi nhuận.

Trường ĐHDL QL&KD Hà Nội lấy việc đào tạo nhà kinh tế thực hành làm

mục tiêu, tạo nguồn nhân lực cho việc hình thành một dàn cán bộ chủ chốt cho

các doanh nghiệp (giám đốc, trợ lý, thư ký, quản lý mạng máy tính, người phụ

trách thương mại, người phụ trách tài chính, kế toán, đối ngoại - gọi chung là

nhà quản lý kinh doanh), qua đó góp phần vào công cuộc CNH, HĐH, xây dựng

và phát triển đất nước.

Phương châm đào tạo của Trường là lấy chất lượng làm trọng, đào tạo

không chỉ nhằm trau dồi kiến thức mà phải chú trọng rèn luyện kỹ năng thực

hành, tư duy phân tích, tinh thần sáng tạo và nâng cao nhân cách cho SV.

Cơ cấu tổ chức của trường ĐHDL QL&KD Hà Nội bao gồm: các khoa

(Khoa Triết và khoa học xã hội, Khoa Kinh tế, Khoa Luật, Khoa Tài chính – kế

toán, KhoaThương mại, Khoa Quản lý doanh nghiệp, Khoa Toán, Khoa Tin học,

Khoa Tiếng Anh), mỗi khoa phụ trách nghiên cứu và giảng dạy một hoặc một số

môn học, các đơn vị khác như Khoa văn bằng 2, Khoa hướng nghiệp, Trung tâm

bồi dưỡng cán bộ quản lý, Trung tâm tin học, Trung tâm tiếng anh, Phòng

nghiên cứu chiến lược và đào tạo, Viện nghiên cứu quản lý kinh doanh, Công ty

tư vấn quản lý và phát triển. Ngoài ra, trường có các phòng chức năng giúp việc

40



Ban Giám hiệu: Giáo vụ, Công tác SV, Tổ chức cán bộ, Tài vụ, Quản trị, Hành

chính đối ngoại, Thư viện – tư liệu, Y tế, Xây dựng.

Qua 8 năm phát triển, Trường ĐHDL QL&KD Hà Nội đã có nhiều đổi

thay so với ngày đầu thành lập:

- Cơ sở vật chất của trường (tuy là đi thuê) nhưng cũng khang trang hơn

(2 cơ sở với tổng diện tích là 11.000m2, trường cũng đang tiến hành xây dựng cơ

sở mới và dự kiến sẽ đưa vào sử dụng trong năm học 2005-2006). Nhà trường đã

đầu tư mua sắm trang thiết bị, máy móc, phương tiện giảng dạy – học tập hiện

đại: bình quân 10sv/máy vi tính, có nhiều phòng máy đa năng sử dụng để dạy

Tin học và Tiếng Anh, mỗi phòng học được trang bị một máy chiếu hắt

(overhead) và một số phòng có máy projector, vô tuyến để trợ giúp cho việc cải

tiến phương pháp giảng dạy.

- Quy mô đào tạo tăng lên: trước kia, nhà trường chỉ đào tạo hệ đại học

chính quy và chủ yếu là ngành Quản lý Kinh doanh, hiện nay, trường ĐHDL

QL&KD Hà Nội đã đào tạo SV ở 3 ngành chính là Tiếng Anh Kinh doanh, Tin

học Quản lý và Quản lý Kinh doanh (với 9 chuyên ngành như Tài chính – Kế

toán, Kinh doanh thương mại quốc tế, Marketing, Kinh tế đối ngoại, Quản lý

doanh nghiệp, Kế hoạch và nghiệp vụ kinh doanh, Quản lý nhân sự, Tư vấn

pháp luật kinh doanh, Quản trị văn phòng). Ngoài ra, để đáp nhu cầu của xã hội

đối với nguồn nhân lực có trình độ tay nghề cao, nhà trường còn đào tạo trình độ

cao đẳng quản lý kinh doanh với 2 chuyên ngành Tài chính – kế toán, Thương

mại – marketing, cao đẳng tin học, trung cấp kế toán, trung cấp tin học.

- Hệ thống giáo trình của Nhà trường về cơ bản đã đảm bảo cho giảng dạy

và học tập, bước đầu đáp ứng được mục tiêu đào tạo, tiếp cận tính hiện đại và

phù hợp với thực tiễn Việt Nam (56 bộ giáo trình đã được biên soạn).

- Về phương pháp giảng dạy: đa số GV của trường giảng dạy theo phương

pháp đối thoại, phân tích tình huống, sử dụng các phương tiện trợ giúp cho giảng

dạy như máy chiếu hắt, projector..., giảng dạy lý thuyết đi đôi với thực hành.

41



- Đến nay, trường đã tuyển sinh đến khoá thứ 9 đối với trình đại học và

cho ra trường 5 khoá SV (từ khoá 1 đến khoá 5) với tổng số khoảng 4700 SV.

Hầu hết SV khi ra trường đều có xin được việc làm hoặc tự tạo ra việc làm cho

mình và cho bạn bè, người thân (đây là một trong những kỹ năng mà nhà trường

chú trọng đào tạo cho SV). Nhiều SV đã trở thành giám đốc một doanh nghiệp,

một xưởng sản xuất của riêng mình hoặc giữ vị trí cao trong các doanh nghiệp tư

nhân, liên doanh cũng như của nhà nước…

Để có những những thành công ban đầu đó, lãnh đạo, cán bộ và GV Nhà

trường đã nỗ lực phấn đấu, rèn luyện, khắc phục khó khăn. Trong t ương lai, với

sự đòi hỏi khắt khe của xã hội đối với giáo dục và đào tạo, đặc biệt là đào tạo đại

học, trường ĐHDL QL&KD Hà Nội phải không ngừng nâng cao chất lượng đào

tạo, phát triển lâu dài và bền vững.

2.3. Thực trạng đội ngũ giảng viên trƣờng ĐHDL QL&KD Hà Nội.

Thực trạng ĐNGV trường ĐHDL QL&KD Hà Nội sẽ được luận văn xem

xét qua số lượng, chất lượng và cơ cấu của ĐNGV. Qua phân tích thực trạng,

làm nổi bật điểm mạnh, điểm yếu của ĐNGV trường ĐHDL QL&KD Hà Nội,

tìm hiểu nguyên nhân, luận văn đưa ra giải pháp nhằm xây dựng và phát triển

đội ngũ ngày càng lớn mạnh.

2.3.1. Số lượng giảng viên

Đảm bảo đủ số lượng GV là một trong những điều kiện để hoàn thành tốt

nhiệm vụ của các trường đại học nói chung và trường ĐHDL QL&KD Hà Nội

nói riêng. Việc tính toán đủ số lượng giảng viên đáp ứng nhu cầu giảng dạy

thường xuyên cũng như trong mọi trường hợp đột xuất còn tuỳ thuộc vào nhiều

yếu tố như khối lượng giảng dạy của từng khoa, số lượng môn học, đặc thù môn

học. Tuy nhiên, người ta đã sử dụng kết quả phân tích thống kê về ĐNGV, SV

và nghiên cứu khoa học từ năm 1998 đến 2000 của 47 trường đại học trong cả

nước để đưa ra quy định chung về tỷ lệ SV/GV đối với các nhóm ngành (xem

bảng 2.1). Từ đó có thể tính toán số lượng giảng viên cần thiết đối với một

42



trường đại học.

Bảng 2.1: Bảng số liệu quy định tiêu chuẩn tỷ lệ SV/GV trong các

trƣờng ĐH tại Việt Nam

Nhóm ngành



Tỷ lệ SV/GV



1. Khoa học cơ bản



14 - 20



2. Sư phạm



10 - 16



3. Kỹ thuật



12 - 18



4. Nông - Lâm - Ngư



12 - 18



5. Y - Dược



4 - 10



6. Kinh tế - tài chính - pháp lý



20 - 26



7. Nghệ thuật - thể dục thể thao



10 - 16



Như vậy, đối với nhóm ngành kinh tế, tỷ lệ SV/GV cao nhất (từ 20 đến 26

SV/GV) bởi lẽ hầu hết các môn học cho ngành này là các môn xã hội, có thể

giảng tại giảng đường lớn.

Thực tế, trong học kỳ I năm học 2004 - 2005, số SV hiện có của trường

ĐHDL QL&KD Hà Nội là 6400 SV, với tổng số giảng viên là 308 người thì tỷ

lệ SV/GV tính trung bình trong toàn trường là 20,8 SV/GV. So với tỷ lệ tiêu

chuẩn, tỷ lệ GV/SV của trường nằm trong khoảng cho phép.

Trong tổng số 308 GV của trường ĐHDL QL&KD Hà Nội, có 152

GVCH và 156 GVTG. Bảng 2.2 và biểu đồ 2.1, cho thấy Khoa Tiếng Anh có số

lượng GV đông nhất (69 GV), tiếp đó là Khoa Tài chính - kế toán (52 GV), Tin

học (44GV), Toán kinh tế (33GV), Thương mại (29) và Quản lý doanh nghiệp

(27GV). Trong đó, Khoa Tiếng Anh, Khoa Quản lý doanh nghiệp và Khoa Kinh

tế là có số lượng GVCH nhiều hơn GVTG nên chủ động hơn trong khâu phân

công giảng dạy, còn lại các Khoa khác số lượng GVTG nhiều nên khó có sự ổn

định hơn.

Ngoài ra, Bảng 2.2 cũng cho thấy sự tương quan tỷ lệ thuận giữa số lượng

giảng viên và khối lượng giảng dạy của một khoa. Như vậy, khi Nhà trường

43



chưa có quy chế về định biên cho các đơn vị nhưng lãnh đạo các đơn vị bước

đầu đã có những động thái đúng đắn trong việc quy hoạch số lượng và quản lý

đội ngũ cán bộ, giảng viên của đơn vị mình.

Tóm lại, về mặt số lượng, ĐNGV của trường về cơ bản đã đảm bảo nhu

cầu giảng dạy thường xuyên trong thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, lãnh đạo

trường ĐHDL QL&KD Hà Nội cũng cần có những biện pháp quy hoạch, tuyển

chọn lực lượng GV dự phòng cho những nhu cầu đột xuất cũng như sự mở rộng

quy mô đào tạo trong tương lai.

Bảng 2.2: Số lƣợng GV trƣờng ĐHDL QL&KD năm học 2004 - 2005

Stt



Khoa/bộ môn



KLGD

(ĐVHT)



GVCH



GVTG



Tổng cộng



1



Triết và KHXH



14



06



10



16



2



Kinh tế



24



10



09



19



3



Tài chính - kế toán



18



22



30



52



4



Thương mại



21



08



21



29



5



QLDN



29



17



10



27



6



Luật kinh tế



12



04



05



09



7



Toán kinh tế



15



03



31



34



8



Tiếng Anh



72



64



05



69



9



Tin học



25



14



30



44



10 GDTC



09



04



05



09



239



152



156



308



Tổng cộng



Nguồn: Phòng tổ chức cán bộ

2.3.2. Cơ cấu giảng viên

Để biết được cơ cấu của một đội ngũ có phù hợp với lĩnh vực hoạt động,

với số lượng và chất lượng của đội ngũ hay không chúng ta cần xem xét trên

nhiều phương diện khác nhau. Đối với ĐNGV cũng vậy, cần được xét dưới

nhiều góc độ như: cơ cấu GVCH và GVTG theo đơn vị quản lý giảng dạy; cơ

44



cấu GV theo trình độ; cơ cấu GV theo chức danh; cơ cấu GV theo độ tuổi, cơ

cấu GV theo giới tính...

* Cơ cấu GVCH - GVTG theo đơn vị quản lý giảng dạy (Khoa/bộ môn)

Bảng 2.3 cho thấy, tỷ lệ GVCH và GVTG phân bổ tại các Khoa/bộ môn

không đều (sau đây gọi tắt là các Khoa vì nhà trường chỉ có 01 bộ môn trực

thuộc Ban Giám Hiệu là bộ môn Giáo dục thể chất).

- Khoa Tiếng Anh có số lượng GVCH đông nhất (chiếm 92,7% trong tổng

số giảng viên của Khoa), về cơ bản đảm bảo 100% khối lượng giảng dạy. Ngoài

ra, mỗi học kỳ, Khoa tiếng Anh tiếp nhận từ 3 – 5 tình nguyện viên đến từ các

nước nói tiếng Anh có quan hệ hợp tác với nhà trường tham gia giảng dạy.

Chúng tôi tạm gọi những tình nguyện viên này là GVTG của Khoa. Sở dĩ Khoa

Tiếng Anh có số lượng nhiều như vậy là do nhiều nguyên nhân khối lượng giảng

dạy lớn (tiếng Anh chiếm 72ĐVHT = 24,8% khối lượng kiến thức toàn khoá đối

với ngành Quản lý Kinh doanh và 149 ĐVHT đối với ngành Tiếng Anh kinh

doanh). Thêm vào đó, do đặc thù giảng dạy ngoại ngữ phải giảng dạy lớp nhỏ

(lớp giảng dạy ngoại ngữ theo tiêu chuẩn tối đưa là 12SV/lớp, nhưng do điều

kiện về cơ sở vật chất của nhà trường còn hạn hẹp nên môn tiếng Anh giảng dạy

30 SV/lớp). Hơn thế, nguồn tuyển dụng nhiều GVCH dạy Tiếng Anh dồi dào

hơn so với nguồn tuyển GV cho các môn học khác bởi lẽ tiếng Anh là ngôn ngữ

quốc tế, hiện rất thông dụng ở Việt Nam nên số người biết và có khả năng giảng

dạy Tiếng Anh nhiều hơn. Tuy nhiên, việc Khoa tiếng Anh không sử dụng

GVTG làm cho GVCH tiếng Anh ít được tiếp xúc với các GV của trường

chuyên ngữ khác, hạn chế cơ hội học hỏi, giao lu kinh nghiệm giảng dạy.

- Trong khi đó, Khoa Toán với khối lượng giảng dạy 15 ĐVHT, lớp học

chia nhỏ hơn so với các môn học về kinh tế xã hội (60SV/lớp) nhưng c hỉ có 03

GVCH, còn lại là GVTG (92,1%). Việc phụ thuộc quá nhiều vào GVTG gây

khó khăn cho công tác bố trí, phân công và theo dõi giảng dạy, đôi khi ảnh

hưởng đến tiến độ chung của toàn trường. Các Khoa còn lại có tỷ lệ GVCH xê

45



dịch từ 27,6% đến 62,9% đã phần nào đảm bảo sự ổn định trong hoạt động

giảng dạy.

Nhìn chung, về tỷ lệ GVCH – GVTG tính trung bình toàn trường là gần

50% song sự phân bố giữa các khoa không đồng đều. Vì vậy, Nhà trường cần

quan tâm hơn nữa và có những biện pháp thích hợp về vấn đề này.

Bảng 2.3: Cơ cấu GVCH - GVTG theo đơn vị quản lý giảng dạy



Stt



Khoa/bộ môn



GVCH



GVTG



Tổng số

GV



SL



%



SL



%



1



Triết và KHXH



16



06



37,5



10



62,5



2

3



Kinh tế

Tài chính - kế toán



19

52



10

22



52,6

42,3



09

30



47,4

57,7



4

5



Thương mại

QLDN



29

27



08

17



27,6

62,9



21

10



72,4

37,1



6

7



Luật kinh tế

Toán kinh tế



09

34



04

03



44,4

8,8



05

31



55,6

91,2



8



Tiếng Anh



69



64



92,7



05



7,3



9

10



Tin học

GDTC



44

09



14

04



31,8

44,4



30

05



68,2

55,6



308



152



49,3



156



50,7



Tổng số



Nguồn: Phòng tổ chức cán bộ

* Cơ cấu đội ngũ giảng viên theo trình độ học vấn

Đối với GV đại học, mức tối thiểu về trình độ học vấn phải tốt nghiệp đại

học. Do vậy, cơ cấu GV theo trình độ học vấn là trình độ đại học, trình độ thạc

sỹ và trình độ tiến sỹ.

Bảng 2.4: Cơ cấu GV theo trình độ học vấn

stt



GV



Cử nhân

SL



%



Thạc sỹ

SL



%



Tiến sỹ

SL



%



Tổng

số GV

46



1



GVCH



106



69,7



21



13,8



25



16,5



152



2



GVTG



73



46,8



38



24,3



45



28,9



156



Cộng/tỷ lệ TB



179



57,7



59



19,6



70



22,7



308



Nguồn: Phòng tổ chức cán bộ

Bảng 2.4 cho biết số lượng và tỷ lệ về trình độ học vấn của ĐNGV của

trường ĐHDL QL&KD Hà Nội, qua đó, nhận thấy rằng:

- Số GVTG của trường có trình độ học vấn trên đại học tương đối cao

(53,2%). Điều đó cho thấy, với cơ chế tự chủ về tài chính và tuyển dụng lao

động, các trường dân lập đã lợi thế trong việc mời GVTG. Họ có quyền lựa chọn

và trả thù lao cao hơn những trường công lập để mời những GV có trình độ học

vấn cao.

- Bên cạnh đó, tỷ lệ GVCH của trường lại có trình độ học vấn sau đại học

(30,3%) thấp hơn so với tỷ lệ này trong GVTG. Có hiện tượng này là do phần

lớn GVCH được tuyển dụng từ những sinh viên xuất sắc từ Khóa 1 đến Khóa 4

của trường và những cán bộ văn phòng khoa có trình độ chuyên môn, có lòng

yêu nghề và ý chí học hỏi – hầu hết đều đang tham gia các khóa đào tạo sau đại

học trong nước và nước ngoài. Điều này hứa hẹn trong tương lai không xa, Nhà

trường sẽ có đội ngũ GVCH vừa trẻ vừa có trình độ học vấn cao.

* Cơ cấu đội ngũ giảng viên theo chức danh

Trường ĐHDL QL&KD Hà Nội là một trường ĐHDL nên không thực

hiện việc thi tuyển nâng ngạch bậc GV như các trường đại học công lập. Do vậy,

chức danh GV chính hiện không thống kê được. Tuy nhiên, đối với chức danh

GS và PGS trường ĐHDL QL&KD Hà Nội đạt tỷ lệ khá cao trong đội ngũ GV:

GVCH 8,7%, GVTG 5,8%. Điều đó chứng tỏ nhà trường đã tập hợp được rất

nhiều nhà khoa học tham gia công tác giảng dạy. Tuy nhiên, trong số các GVCH

có chức danh PGS, GS thì chỉ có 01 GV là không tham gia công tác quản lý, số

còn lại đều giữ một chức vụ trong bộ máy quản lý của nhà trường và không phải

47



thực hiện nghĩa vụ giảng dạy (300 tiết giảng/năm) như các GV trẻ. Do đó, nên

thời gian và khối lượng giảng dạy không nhiều – là một thiệt thòi lớn đối với

nhà trường và sinh viên.

Bảng 2.5: Cơ cấu đội ngũ giảng viên theo chức danh

Stt



ĐNGV



GV

SL



GVC



%



PGS



Tổng số



GS



SL



%



SL



%



SL



%



GV



1



GVCH



133 87,5



0



0



11



7,2



08



1,5



152



2



GVTG



147 94,2



0



0



05



3,2



04



2,6



156



Cộng



280 90,9



0



0



16



5,1



12



4



308



Nguồn: Phòng tổ chức cán bộ

* Cơ cấu đội ngũ giảng viên theo độ tuổi:

Nếu xem xét cơ cấu ĐNGV của trường ĐHDL QL&KD Hà Nội theo độ

tuổi thì sẽ thấy một sự cách biệt rất lớn. Bảng 2.6 sẽ cho chúng ta thấy rõ về điều

đó.

Bảng 2.6: Cơ cấu ĐNGV theo độ tuổi (tuổi đời)

stt



ĐNGV



Dới 35



Từ 35-50



Từ 51-60



Trên 60



Tổng



SL



%



SL



%



SL



%



SL



%



số GV



1



GVCH



98



64,5



9



5,9



30



19,7



15



9,9



152



2



GVTG



36



17.7



59



37,8



40



25,6



21 13,5



156



Cộng



134



43.6



68



22



70



22,7



36 11,7



308



Nguồn: Phòng tổ chức cán bộ

Qua bảng cơ cấu tuổi đời của ĐNGV trường ĐHDL QL&KD Hà Nội

chúng ta thấy có sự mất cân đối trong ĐNGVCH. Số lượng GVCH nhiều ở độ

tuổi dưới 35 và trên 50, còn ở độ tuổi từ 35 – 50 - độ tuổi sung sức nhất cả về

thể chất lẫn năng lực công tác thì chỉ có 9 người (chiếm 5,8%). Do vậy, Nhà

trường cần có những biện pháp thu hút nhân tài, nếu không sẽ dẫn đến tình trạng

48



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (106 trang)

×