1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 3: NHỮNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHĂM SÓC - GIÁO DỤC TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP - TP HẢI PHÒNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.39 MB, 102 trang )


Thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước BộGD&ĐT đã xác định một loạt

các quan điểm tầm chiến lược về phát triển GDMN đến năm 2020 như sau:

- Phát triển GDMN là nền tảng cho sự phát triển nguồn lực con người, phục vụ

trực tiếp cho mục tiêu phổ cập tiểu học và trung học cơ sở của thế kỷ 21.

- GDMN theo hướng đa dạng hoá các loại hình để đảm bảo cho số trẻ em được

hưởng sự CS-GD theo khoa học. Đồng thời đa dạng hoá các loại hình nhằm thu

hút thêm các nguồn lực đầu tư cho GDMN.

- Không ngừng nâng cao chất lượng CS-GD trẻ phù hợp với đòi hỏi của sự phát

triển KT - XH đối với GD&ĐT trong điều kiện CNH, HĐH đất nước.

Với mục tiêu: thực hiện CS-GD có chất lượng trẻ em từ 0 – 5 tuổi để phát

triển toàn diện về thể lực, trí tuệ, xã hội, hình thành nhân cách trẻ em Việt Nam,

trên cơ sở xây dựng một đội ngũ GV giỏi có chuyên môn cũng như kỹ năng tư

vấn tại gia đình và các loại hình GDMN đa dạng, phong phú tương ứng với một

hệ thống CSVC phù hợp hướng tới đảm bảo công bằng cho mọi trẻ em.

[24, tr. 34 - 35]

3.1.2. Định hướng phát triển kinh tế xã hội thành phố Hải Phòng

Nghị quyết đại hội thành phố lần thứ XII đã xác định mục tiêu phát triển

KT - XH đến năm 2010: "Xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố cảng văn

minh, hiện đại, một trung tâm đô thị cấp quốc gia, cửa chính ra biển, trung tâm

công nghiệp du lịch - dịch vụ, thuỷ sản ở miền Bắc, có kinh tế, văn hoá,

GD&ĐT, khoa học - công nghệ, cơ sở hạ tầng phát triển, quốc phòng an ninh

vững chắc, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân".

Trên cơ sở mục tiêu chung, thành phố phấn đấu đạt được các mục tiêu cơ bản:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế: cao hơn mức trung bình cả nước với tốc độ tăng

bình quân hàng năm của thời kỳ 2001 - 2010 là 10 - 11%( gấp 1,5 lần mức trung

bình cả nước ).

- Nền kinh tế thể hiện rõ theo hướng xuất khẩu. Đến năm 2010 kim ngạch xuất

khẩu đạt 1,3 - 1,6 tỷ USD( gấp 4,6 - 5,5 lần năm 2000 ).



60



- Đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân được cải thiện, văn minh hiện đại:

+ GDP theo đầu người năm 2010 gấp 2,4 lần năm 2000.

+ Phổ cập trung học phổ thôngvào năm 2010, đưa tin học và ngoại ngữ vào

chương trình tiểu học và trung học cơ sở . Đảm bảo 100% số trẻ em trong độ

tuổi đến lớp MG và 100% số cháu 6 tuổi vào lớp Một.

+ Vào năm 2010, đảm bảo 95% số lao động có nhu cầu việc làm, cơ cấu

lao động và chất lượng lao động có sự thay đổi cơ bản theo hướng tăng nhanh tỷ

trọng lao động làm việc trong các lĩnh vực sản xuất phi nông nghiệp (từ 50,5%

năm 2000 đến năm 2010 lên 66,8%) lao động làm nông – ngư nghiệp đến năm

2010 còn 33,2% (năm 2000 là 49,5%).

- Cùng với quá trình phát triển KT và tiến hành CNH, quá trình đô thị hoá

được gia tăng với tốc độ nhanh. Đến năm 2010, số dân đô thị (quận, thị xã, thị

trấn, thị tứ) chiếm tỷ trọng 50,8% (năm 2000 là 34,4%).

Với mục tiêu cơ bản, dựa vào các lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên

biển và nguồn nhân lực: thành phố Hải Phòng đã định hướng phát triển KT - XH

đến năm 2010, hình thành một nền kinh tế gắn với biển (trước hết là gắn với

cảng biển) tạo thành một tổ hợp công nghiệp cảng.

Trên cơ sở định hướng phát triển KT - XH, định hướng chiến lược phát

triển GD của cả nước, phát triển KT - XH của thành phố đến năm 2010, định

hướng phát triển GD&ĐT phải được xây dựng, hướng tới góp phần tích cực

trong quá trình triển khai thực hiện phát triển KT - XH của thành phố.

3.1.3. Định hướng phát triển GD & ĐT thành phố Hải Phòng

Quán triệt tư tưởng chỉ đạo phát triển GD&ĐT của Đảng, Nhà nước và

thành phố trong thời kỳ CNH - HĐH, Nghị quyết 4 của Thành uỷ Hải Phòng

khoá XI đã xác định quan điểm chỉ đạo phát triển GD&ĐT Hải Phòng đến năm

2010:

- "GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, GD phải đi trước một bước", "đầu tư

cho GD là đầu tư phát triển".



61



- "GD&ĐT đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước phù hợp với xu thế tiến bộ

của thời đại để tạo ra nguồn nhân lực đủ khả năng tiếp cận kỹ thuật tiên tiến và

công nghệ hiện đại, đủ sức cạnh tranh trên thị trường lao động khu vực và quốc

tế ".

Giữ vững mục tiêu và định hướng XHCN, chú trọng giáo dục và phát triển

toàn diện nhân cách phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước, thời đại

nói chung và Hải Phòng nói riêng. Bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội, xây

dựng ngành GD&ĐT Hải Phòng xứng đáng với vị trí và tầm chiến lược của

thành phố lớn thứ 3 của cả nước, là đô thị cấp quốc gia nằm trong cực tăng

trưởng phía Bắc.

Phát triển GD&ĐT đảm bảo cân đối và hợp lý giữa các bậc học, cấp học,

ngành học và các lĩnh vực KT - XH nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH

và tiến bộ khoa học công nghệ của Hải Phòng và của cả nước đến năm 2010,

đồng thời góp phần đẩy mạnh công cuộc đổi mới và tiến trình hội nhập khu vực

và quốc tế.

Thực hiện công bằng xã hội trong GD&ĐT, với tư duy mới, GD&ĐT vừa

thuộc cơ sở hạ tầng xã hội, vừa là phúc lợi xã hội, vừa đóng góp trực tiếp vào

làm tăng giá trị sức lao động. Nhà nước chủ yếu chịu trách nhiệm trang trải phần

chi của GD&ĐT để tạo cơ sở phát triển lâu dài của đất nước và đảm bảo phúc

lợi cho nhân dân.

Huy động mọi lực lượng xã hội để phát triển GD&ĐT và xây dựng một

XH học tập. Trong bối cảnh kinh tế xã hội hiện nay, cần thực hiện có hiệu quả

chủ trương XHHGD với nội dung toàn diện: huy động các tổ chức xã hội, doanh

nghiệp, cộng đồng, gia đình và cá nhân cùng quan tâm đến GD, tham gia xây

dựng và quản lý GD&ĐT, hình thành môi trường thuận lợi cho phát triển

GD&ĐT, đóng góp trí tuệ, sức lực và tiền của cho GD&ĐT. Với quan điểm chỉ

đạo như vậy tại Nghị quyết đại hội Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ XII đã

xác định mục tiêu phát triển GD&ĐT đến năm 2010: Nâng cao dân trí, đào tạo

nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH và khoa học



62



công nghệ của thành phố, chuẩn bị cho thế hệ trẻ bước vào giai đoạn mới của

công cuộc phát triển theo hướng CNH, HĐH.

Hình thành phát triển nhân cách con người Hải Phòng văn minh, năng

động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm xứng đáng với truyền thống thành phố Cảng

Trung dũng - quyết thắng.

3.1.4 Định hướng phát triển GDMN thành phố Hải Phòng

Trên cơ sở các quan điểm chiến lược về phát triển GDMN của Bộ GD&ĐT.

Phát triển GDMN là nền tảng cho sự phát triển nguồn lực con người, phục vụ

trực tiếp cho mục tiêu phổ cập tiểu học và trung học cơ sở của thế kỷ 21.

GDMN theo hướng đa dạng hoá các loại hình để đảm bảo cho số trẻ em

đều được hưởng sự chăm sóc GD theo khoa học. Đồng thời đa dạng hoá các loại

hình nhằm thu hút thêm các nguồn đầu tư cho GDMN.

Không ngừng nâng cao chất lượng CS&GD trẻ phù hợp với đòi hỏi của sự

phát triển kinh tế, xã hội đối với GD&ĐT trong điều kiện CNH, HĐH đất nước.

GDMN thành phố Hải Phòng đã xây dựng chiến lược phát triển đến năm 2010:

 Quy mô:

- Tăng nhanh tỷ lệ huy động trẻ đến trường sao cho đến năm 2010:

+ Nhà trẻ: 30% (so với độ tuổi)

+ Mẫu giáo: 90% (so với độ tuổi)

- GDMN phát triển theo hướng cân đối, đa dạng loại hình trường lớp gắn với

khu dân cư. Xây dựng hệ thống trường điểm làm trung tâm bồi dưỡng thực

hành, bồi dưỡng tay nghề cho đội ngũ GV và chỉ đạo các chuyên đề của ngành

học. Chuyển đổi các trường MN công lập, dân lập sang bán công:

Năm 2005: 100% trường dân lập nông thôn sang bán công.

Năm 2010: 30% số trường MN công lập chuyển sang bán công.

- Xoá bỏ những nhóm nhỏ manh mún không đủ điều kiện CS-GD, hạn chế nhóm

lớp lẻ, ghép nhiều độ tuổi.



63



 Các điều kiện đảm bảo thực hiện:

- Đội ngũ GV:

Đủ số lượng (đảm bảo đủ định biên GV trên số trẻ)

- Cơ sở vật chất:

+Quy hoạch đủ diện tích đất cho các trường MN, ngoại thành( 10m2/cháu),

nội thành, thị xã( 6m2/cháu ).

+ Xây dựng đủ các phòng học, nâng cấp phòng học cấp 4, đến năm 2010,

cơ bản hoàn thành các phòng học kiên cố và bán kiên cố, đảm bảo môi

trường GD và từng bước hiện đại hoá theo yêu cầu trường chuẩn quốc gia.

Đặc biệt đầu tư cho hệ thống trường điểm từ thành phố xuống các quận huyện để làm nòng cốt chỉ đạo GDMN.

+ Tăng cường đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống trường chuẩn

quốc gia. Phấn đấu đến năm 2005 mỗi quận có ít nhất 1 trường và từ năm

2005 đến 2010, mỗi huyện có từ 3 -5 trường.

+ Nâng cấp chuyển đổi những trường quá nhỏ, lớp lẻ không có đủ điều kiện

CS-GD trẻ. Tiếp tục xoá bỏ phòng học xuống cấp, phòng học cấp 4 để xây

dựng thành phòng học kiên cố hoặc bán kiên cố( bình quân mỗi năm đầu tư

xây dựng thêm 100 - 180 phòng học bao gồm các loại hình trường lớp ).

- Về tài chính:

+ Định mức chi cho học sinh các cấp trong đó đối với hệ công lập: định

mức chi cho 1 cháu MN ở năm 2000 - 2001 là 1,69 triệu đồng/cháu, tăng

lên 2,37 triệu đồng/cháu vào năm 2005 và cuối năm 2005 là 2,7 triệu đồng.

+ Ngoài chi ngân sách thường xuyên, thành phố sẽ có tỷ lệ kinh phí thích

hợp để đầu tư cho hệ thống trường học trọng điểm của thành phố, quận

huyện. ( Hàng năm bình quân 150 - 200 triệu đồng/trường ).

+ Hỗ trợ một phần kinh phí cho việc đầu tư mua sắm trang thiết bị cho

GDMN khu vực ngoại thành và cho các cháu MG 5 tuổi (100 – 150.000đ/cháu).



64



Đầu tư nâng cấp cho các trường MN ngoại thành, bình quân 1,5 - 2 tỷ

đồng/năm.

3.1.5. Thực tiễn phát triển GDMN ở Hải Phòng, đặc biệt thực trạng các

trường MN ngoài công lập

Từ sau chuyển đổi cơ chế, xoá bỏ bao cấp cùng với sự ra đời của một loạt

các chính sách của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, đến nay sự

nghiệp GDMN Hải Phòng đã ổn định từng bước, phát triển vững chắc với

phương châm thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường lớp MN (công lập và

ngoài công lập), số trẻ huy động ra trường lớp ngày một tăng, cơ bản đáp ứng

được phần nào nhu cầu gửi trẻ của nhân dân.

Giáo dục mầm non tuy là bậc học mang sắc thái riêng, không phải là bậc

học bắt buộc, nhưng đã được khẳng định là bậc học trong hệ thống GDQD nên

đã xoá dần được cơ chế xin - cho từ các nguồn đầu tư cho việc phát triển ngành

học. Tỷ lệ ngân sách Nhà nước cấp cho GDMN so với ngân sách GD ngày một

tăng, công tác XHHGD được tăng cường, một số cơ chế chính sách phát triển

GDMN, đặc biệt đối với GDMN ngoài công lập đã giúp cho GDMN Hải Phòng

tháo gỡ được nhiều khó khăn:

Cơ sở vật chất trang thiết bị, đội ngũ CBQL- GV của GDMN Hải Phòng đã có

sự chuyển biến rõ rệt làm tiền đề tạo những điều kiện cơ bản cho việc nâng cao

chất lượng CS-GD trẻ. Uy tín, vị trí của ngành học được khẳng định đối với các

cấp lãnh đạo, các bậc phụ huynh và cộng đồng xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình

phát triển, GDMN Hải Phòng còn gặp nhiều bất cập

 Quy mô, mạng lưới trường lớp:

Phát triển chưa đồng đều giữa các loại hình trường, giữa nội thành và ngoại

thành, giữa khu vực đời sống kinh tế khá với khu vực đời sống kinh tế khó

khăn. Chưa thật tương xứng với yêu cầu phát triển KT -XH của thành phố. Tỷ

lệ huy động trẻ NT, MG 3 ; 4 tuổi ra lớp còn thấp (một mặt do thiếu CSVC, mặt

khác do đời sống của nhân dân ở nông thôn và ở vùng kinh tế khó khăn chỉ có

khả năng tập trung cho trẻ 5 tuổi đi học để chuẩn bị vào lớp Một).



65



 Điều kiện GD:

Ở nội thành, không có điều kiện giành quỹ đất cho GDMN phát triển về

quy mô, còn ở nông thôn, có điều kiện giành đủ quỹ đất cho GDMN, nhưng

kinh phí đầu tư xây dựng CSVC, trang thiết bị gặp khó khăn hạn hẹp

Ở các trường MN ngoài công lập:

+ Điều kiện CSVC, trang thiết bị đã được tăng cường đầu tư bằng nhiều

nguồn lực, nhưng mới chỉ đảm bảo những yêu cầu tối thiểu cần thiết trong việc

CS-GD trẻ, còn nhiều bất cập so với sự phát triển của ngành học và trước yêu

cầu đổi mới GDMN.

+ Đội ngũ GV: chế độ chính sách, công tác bồi dưỡng đã được tăng cường,

nhưng vẫn chưa đủ điều kiện để đảm bảo định biên theo Điều lệ trường MN.

Cường độ lao động của GV bị quá tải, thu nhập thấp, đời sống khó khăn, đây là

những yếu tố cơ bản làm giảm đi niềm say mê, yêu nghề mến trẻ, sự năng động

sáng tạo, tích cực nghiên cứu học tập của đội ngũ GV, ảnh hưởng không nhỏ

đến sự ổn định, vững vàng của đội ngũ, ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng

CS-GD trẻ.

Với sự bất cập về các điều kiện GD như vậy nên chất lượng CS-GD trẻ ở

các trường MN công lập và ngoài công lập ở Hải Phòng còn có khoảng cách lớn.

Vì vậy, để thực hiện Nghị quyết 4 khoá XI của Thành uỷ Hải Phòng trong sự

nghiệp phát triển GDMN, cần phải có những biện pháp quy hoạch mạng lưới

trường lớp, có chính sách phát triển hợp lý đối với từng loại hình trường trong

điều kiện nguồn ngân sách còn hạn hẹp, sao cho trong sự phát triển chung của

GDMN Hải Phòng đạt được sự điều hoà chất lượng CS-GD trẻ giữa các trường

MN công lập và ngoài công lập.



66



3.2 Hệ thống các biện pháp nâng cao chất lƣợng CS-GD trong các trƣờng

MN ngoài công lập thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay

3.2.1 Tuyên truyền nâng cao nhận thức đúng về loại hình GDMN ngoài công

lập đối với các cấp lãnh đạo, các bậc phụ huynh và cộng đồng xã hội

Hiện nay, ở Hải Phòng nhu cầu gửi trẻ đến trường lớp MN ngày càng cao

trong khi điều kiện ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp. Vì thế việc phát triển

mạnh mẽ cả về quy mô và chất lượng các trường MN ngoài công lập được đặt ra

hết sức cấp bách. Muốn vậy công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về loại

hình này tới các cấp lãnh đạo, các bậc phụ huynh và cộng đồng xã hội là rất cần

thiết.

Để có được những hình thức, nội dung tuyên truyền phù hợp và hiệu quả

cao, tác giả đã làm công tác điều tra xã hội học bằng phương pháp phỏng vấn tới

các đối tượng: cán bộ quản lý trong và ngoài ngành GDMN( Phòng GD, Hiệu

trưởng, Hiệu phó, giáo viên đang dạy ở trường MN tư thục, lãnh đạo phường xã

và một số cơ quan xí nghiệp ), phụ huynh.

1. Phụ huynh: ở 4 hoàn cảnh khác nhau với các câu hỏi tương ứng từng

trường hợp (Vì sao anh (chị) chọn trường này gửi con? Vì sao không cho con

đến trường? Anh (chị) mong muốn gì trong vấn đề lựa chọn hình thức gửi con?).

Trường hợp 1: Gửi con ở trường, lớp tư thục gần nhà.

Trả lời: đưa, đón tiện, chăm sóc cẩn thận, dạy chữ trước nên khi vào lớp 1

là yên tâm.

Trường hợp 2: Gửi con ở một trường MN công lập cách xa nhà trong khi

gần nhà có trường, lớp MN tư thục.

Trả lời: điều kiện và chất lượng nuôi, dạy ở trường MN công lập tốt hơn

trường MN tư thục...

Trường hợp 3: mang con (3 - 4 tuổi) theo mẹ ngồi bán hàng ở vỉa hè.

Trả lời: Vì không có việc làm ổn định, kinh tế khó khăn, không có tiền cho

cháu đi học ở trường, cố gắng đến năm 5 tuổi mới cho cháu đi học để vào lớp 1.



67



Trường hợp 4: Thuê người đưa đón con gửi ở một trường công lập xa nhà

có chất lượng tốt trong thành phố.

Trả lời: rất mong ước có 1 trường tư thục điều kiện cơ sở vật chất, nuôi dạy

các cháu có chất lượng tốt và có thể nhận các cháu theo nhu cầu của phụ huynh

về thời gian, chăm sóc cả ngày hoặc cả tuần với kinh phí đóng góp không quá

hạn hẹp, tương ứng phù hợp với việc đảm bảo nhu cầu của phụ huynh.

2. Lãnh đạo của một số cơ quan xí nghiệp đã cổ phần hoá

Hỏi: Tình trạng trường MN của cơ quan( xí nghiệp...) đã và đang xuống

cấp, cơ quan( xí nghiệp ...) có kế hoạch như thế nào để giúp nhà trường tháo gỡ

khó khăn khôi phục lại chất lượng về mọi mặt của nhà trường.

Trả lời: Công việc kinh doanh( ở cơ quan ) rất khó khăn, bận rộn, kinh phí

đầu tư cơ sở vật chất và chi phí thường xuyên cho trường MN không có hoặc

không đáng kể. Trường tự thu, tự chi, tình trạng xuống cấp cũng phải chấp nhận,

đến lúc giải thể, thu hồi lại cơ sở vật chất chuyển sang hoạt động kinh doanh...

3. Cán bộ quản lý ngành GDMN

Hỏi: Theo anh(chị) công tác quản lý chỉ đạo của Phòng GD, trường MN

cùng nằm trên địa bàn với các trường lớp MN tư thục đã có ảnh hưởng nhiều

trong việc nâng cao chất lượng CS-GD trẻ chưa?

Trả lời: Công tác quản lý chỉ đạo các trường MN công lập trong địa bàn đã

rất vất vả, biên chế tổ MN Phòng GD ít nên việc quản lý chỉ đạo các trường lớp

MN tư thục và nhóm trẻ gia đình cũng chỉ là kiêm nghiệm, không thường xuyên,

công tác quản lý chỉ đạo của Phòng GD tới loại hình trường, lớp này chưa có tác

dụng mạnh.

4. Giáo viên

Hỏi: Anh (chị) có yên tâm dạy ở loại hình trường này không?

Trả lời: Không yên tâm vì ở trường ngoài công lập không đủ điều kiện để

tổ chức các hoạt động như trường công lập nên ít tổ chức được các phong trào,

hoạt động sôi nổi. Hơn nữa, một số quyền lợi đảm bảo ổn định và lâu dài không

được hưởng như GV trường công lập.



68



Qua kết quả điều tra như vậy, làm công tác quản lý trong ngành, tác giả đã

tìm ra một số hình thức và nội dung tuyên truyền tới các cấp lãnh đạo, các ban

ngành, các bậc phụ huynh và cộng đồng xã hội để hiểu rõ hơn về loại hình

trường MN ngoài công lập và xác định được trách nhiệm, bổn phận trong việc

tạo mọi điều kiện phát triển loại hình này, đảm bảo cho mọi trẻ trong độ tuổi

MN đều được hưởng những dịch vụ CS-GD một cách công bằng.

3.2.1.1 Nội dung - hình thức tuyên truyền

 Nội dung:

- Tuyên truyền rộng rãi trong cộng đồng xã hội:

+ Nhận thức được vị trí vai trò của GDMN.

+ Hiểu rõ được các hoạt động CS-GD trẻ trong các cơ sở GDMN và tình

hình phát triển GDMN của thành phố.

+ Hiểu được GDMN là ngành học tự nguyện, không bắt buộc, trong điều

kiện ngân sách Nhà nước còn khó khăn hạn hẹp, yêu cầu công tác XHHGD phải

được tăng cường.

+ Các loại hình trường MN (công lập - ngoài công lập) đều phải thực hiện

mục tiêu GD&ĐT, nội dung chương trình CS-GD trẻ theo quy định của Bộ

GD&ĐT.

+ Phổ biến chính sách ưu đãi, khuyến khích các tập thể, tổ chức cá nhân...

mở trường theo các loại hình ngoài công lập.

+ Phổ biến các chế độ chính sách, quyền lợi của GV dạy ở các loại hình

trường MN ngoài công lập.

+ Xác định bổn phận trách nhiệm của từng thành viên trong cộng đồng xã

hội (phải làm gì và làm như thế nào để 100% trẻ trong độ tuổi MN đều được

hưởng các dịch vụ CS-GD theo khoa học).



69



 Hình thức:

- Tổ chức hội thảo: Cùng với các ban ngành liên quan ở các cấp trong thành phố

thảo luận, tìm những giải pháp cụ thể để phát triển và nâng cao chất lượng CSGD trẻ cho các loại hình trường MN ngoài công lập.

- Tuyên truyền bằng nhiều hình thức:

+ Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, kết hợp với các hoạt

động của các tổ chức cơ sở ở địa phương: hội Phụ nữ, hội Cựu chiến binh, Đoàn

thanh niên..., xây dựng các bảng tin, góc tuyên truyền trong các cơ sở GDMN và

địa phương.

+ Thông qua các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của ngành học.

+ Thông qua việc báo cáo tình hình chất lượng CS-GD trẻ trong các cơ sở

GDMN với lãnh đạo các cấp, các ngành, các bậc phụ huynh và cộng đồng XH

dưới nhiều hình thức: tổ chức mời thăm lớp, dự giờ, thăm các hoạt động của trẻ

trong trường MN hoặc tham dự các chương trình liên hoan, hội thi thể hiện tài

năng, hiểu biết, linh hoạt và sáng tạo của trẻ.

3.2.1.2. Thực hiện

Để thực hiện được những nội dung và các hình thức tuyên truyền đạt hiệu

quả cần:

- Sự phối kết hợp, quan tâm ủng hộ của lãnh đạo các cấp, các ban ngành

liên quan trong thành phố: HĐND, UBND các cấp, Liên đoàn lao động, UB dân

số Gia đình & Trẻ em, thành Hội Phụ nữ, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch Đầu tư, cơ

quan báo chí, Đài phát thanh & truyền hình..., một số cơ quan xí nghiệp có

trường MN, Sở GD&ĐT, Phòng GD các quận - huyện - thị xã.

- Sự hướng dẫn chỉ đạo cụ thể của: Vụ GDMN, phòng MN Sở GD&ĐT

cùng với sự nghiêm túc triển khai thực hiện một cách linh hoạt, sáng tạo của

phòng GD các quận - huyện, đội ngũ CBQL - GV các trường, lớp MN trong

việc khắc phục khó khăn nâng cao chất lượng CS-GD trẻ.

Thực hiện cụ thể như sau:



70



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (102 trang)

×