1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

2 Hệ thống các biện pháp nâng cao chất lượng CS-GD trong các trường MN ngoài công lập thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.39 MB, 102 trang )


Trường hợp 4: Thuê người đưa đón con gửi ở một trường công lập xa nhà

có chất lượng tốt trong thành phố.

Trả lời: rất mong ước có 1 trường tư thục điều kiện cơ sở vật chất, nuôi dạy

các cháu có chất lượng tốt và có thể nhận các cháu theo nhu cầu của phụ huynh

về thời gian, chăm sóc cả ngày hoặc cả tuần với kinh phí đóng góp không quá

hạn hẹp, tương ứng phù hợp với việc đảm bảo nhu cầu của phụ huynh.

2. Lãnh đạo của một số cơ quan xí nghiệp đã cổ phần hoá

Hỏi: Tình trạng trường MN của cơ quan( xí nghiệp...) đã và đang xuống

cấp, cơ quan( xí nghiệp ...) có kế hoạch như thế nào để giúp nhà trường tháo gỡ

khó khăn khôi phục lại chất lượng về mọi mặt của nhà trường.

Trả lời: Công việc kinh doanh( ở cơ quan ) rất khó khăn, bận rộn, kinh phí

đầu tư cơ sở vật chất và chi phí thường xuyên cho trường MN không có hoặc

không đáng kể. Trường tự thu, tự chi, tình trạng xuống cấp cũng phải chấp nhận,

đến lúc giải thể, thu hồi lại cơ sở vật chất chuyển sang hoạt động kinh doanh...

3. Cán bộ quản lý ngành GDMN

Hỏi: Theo anh(chị) công tác quản lý chỉ đạo của Phòng GD, trường MN

cùng nằm trên địa bàn với các trường lớp MN tư thục đã có ảnh hưởng nhiều

trong việc nâng cao chất lượng CS-GD trẻ chưa?

Trả lời: Công tác quản lý chỉ đạo các trường MN công lập trong địa bàn đã

rất vất vả, biên chế tổ MN Phòng GD ít nên việc quản lý chỉ đạo các trường lớp

MN tư thục và nhóm trẻ gia đình cũng chỉ là kiêm nghiệm, không thường xuyên,

công tác quản lý chỉ đạo của Phòng GD tới loại hình trường, lớp này chưa có tác

dụng mạnh.

4. Giáo viên

Hỏi: Anh (chị) có yên tâm dạy ở loại hình trường này không?

Trả lời: Không yên tâm vì ở trường ngoài công lập không đủ điều kiện để

tổ chức các hoạt động như trường công lập nên ít tổ chức được các phong trào,

hoạt động sôi nổi. Hơn nữa, một số quyền lợi đảm bảo ổn định và lâu dài không

được hưởng như GV trường công lập.



68



Qua kết quả điều tra như vậy, làm công tác quản lý trong ngành, tác giả đã

tìm ra một số hình thức và nội dung tuyên truyền tới các cấp lãnh đạo, các ban

ngành, các bậc phụ huynh và cộng đồng xã hội để hiểu rõ hơn về loại hình

trường MN ngoài công lập và xác định được trách nhiệm, bổn phận trong việc

tạo mọi điều kiện phát triển loại hình này, đảm bảo cho mọi trẻ trong độ tuổi

MN đều được hưởng những dịch vụ CS-GD một cách công bằng.

3.2.1.1 Nội dung - hình thức tuyên truyền

 Nội dung:

- Tuyên truyền rộng rãi trong cộng đồng xã hội:

+ Nhận thức được vị trí vai trò của GDMN.

+ Hiểu rõ được các hoạt động CS-GD trẻ trong các cơ sở GDMN và tình

hình phát triển GDMN của thành phố.

+ Hiểu được GDMN là ngành học tự nguyện, không bắt buộc, trong điều

kiện ngân sách Nhà nước còn khó khăn hạn hẹp, yêu cầu công tác XHHGD phải

được tăng cường.

+ Các loại hình trường MN (công lập - ngoài công lập) đều phải thực hiện

mục tiêu GD&ĐT, nội dung chương trình CS-GD trẻ theo quy định của Bộ

GD&ĐT.

+ Phổ biến chính sách ưu đãi, khuyến khích các tập thể, tổ chức cá nhân...

mở trường theo các loại hình ngoài công lập.

+ Phổ biến các chế độ chính sách, quyền lợi của GV dạy ở các loại hình

trường MN ngoài công lập.

+ Xác định bổn phận trách nhiệm của từng thành viên trong cộng đồng xã

hội (phải làm gì và làm như thế nào để 100% trẻ trong độ tuổi MN đều được

hưởng các dịch vụ CS-GD theo khoa học).



69



 Hình thức:

- Tổ chức hội thảo: Cùng với các ban ngành liên quan ở các cấp trong thành phố

thảo luận, tìm những giải pháp cụ thể để phát triển và nâng cao chất lượng CSGD trẻ cho các loại hình trường MN ngoài công lập.

- Tuyên truyền bằng nhiều hình thức:

+ Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, kết hợp với các hoạt

động của các tổ chức cơ sở ở địa phương: hội Phụ nữ, hội Cựu chiến binh, Đoàn

thanh niên..., xây dựng các bảng tin, góc tuyên truyền trong các cơ sở GDMN và

địa phương.

+ Thông qua các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của ngành học.

+ Thông qua việc báo cáo tình hình chất lượng CS-GD trẻ trong các cơ sở

GDMN với lãnh đạo các cấp, các ngành, các bậc phụ huynh và cộng đồng XH

dưới nhiều hình thức: tổ chức mời thăm lớp, dự giờ, thăm các hoạt động của trẻ

trong trường MN hoặc tham dự các chương trình liên hoan, hội thi thể hiện tài

năng, hiểu biết, linh hoạt và sáng tạo của trẻ.

3.2.1.2. Thực hiện

Để thực hiện được những nội dung và các hình thức tuyên truyền đạt hiệu

quả cần:

- Sự phối kết hợp, quan tâm ủng hộ của lãnh đạo các cấp, các ban ngành

liên quan trong thành phố: HĐND, UBND các cấp, Liên đoàn lao động, UB dân

số Gia đình & Trẻ em, thành Hội Phụ nữ, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch Đầu tư, cơ

quan báo chí, Đài phát thanh & truyền hình..., một số cơ quan xí nghiệp có

trường MN, Sở GD&ĐT, Phòng GD các quận - huyện - thị xã.

- Sự hướng dẫn chỉ đạo cụ thể của: Vụ GDMN, phòng MN Sở GD&ĐT

cùng với sự nghiêm túc triển khai thực hiện một cách linh hoạt, sáng tạo của

phòng GD các quận - huyện, đội ngũ CBQL - GV các trường, lớp MN trong

việc khắc phục khó khăn nâng cao chất lượng CS-GD trẻ.

Thực hiện cụ thể như sau:



70



 Phòng MN sở GD&ĐT:

1. Cung cấp, hướng dẫn, triển khai một số Văn bản, Quyết định của Nhà nước,

Quyết định của Bộ GD&ĐT, của UBND thành phố về những vấn đề liên quan đến

sự nghiệp GDMN và hướng dẫn nhiệm vụ năm học của Vụ GDMN - Bộ GD&ĐT

tới cơ sở thông qua lớp tập huấn bồi dưỡng hè vào tháng 8 hàng năm.

2. Tham mưu với lãnh đạo cơ quan Sở GD&ĐT Hải Phòng, Công đoàn ngành GD

và các phòng ban liên quan Sở:

+ Phối kết hợp với Liên đoàn lao động thành phố tổ chức hội thảo có sự tham

gia của lãnh đạo một số cơ quan xí nghiệp có trường, lớp MN để bàn và đi đến kết

luận về hướng giải quyết các trường, lớp MN khối cơ quan xí nghiệp.

+ Tổ chức hội thảo, thành phần gồm: Lãnh đạo các cấp Uỷ đảng, Chính quyền

địa phương; ngành GD( phòng ban cơ quan Sở GD&ĐT, phòng GD các quận huyện ); các cơ quan liên quan( Sở tài chính, Sở nội vụ, Sở kế hoạch đầu tư, cơ

quan báo chí phát thanh và truyền hình ... ).

- Nội dung hội thảo: Ngành GD đưa ra thực trạng của GDMN nói chung và

GDMN ngoài công lập nói riêng. Hội thảo tìm những giải pháp, thống nhất cơ chế

chung và cơ chế riêng cho từng năm học giúp các cơ sở GDMN ngoài công lập có

điều kiện nâng cao chất lượng CS-GD trẻ.

- Thời gian tổ chức hội thảo: Trong khoảng tháng 8; 9; 10 hàng năm.

3. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo chí, Đài phát thanh và truyền hình Hải

Phòng làm các chương trình, bài viết, phóng sự:

+ Đưa tin, giới thiệu về một số hoạt động trong các cơ sở GDMN, về việc

thực hiện chương trình CS-GD trẻ do Bộ GD&ĐT chỉ đạo đối với các loại hình

trường.

+ Trích dẫn một số văn bản hướng dẫn, các Quyết định của Nhà nước, của

Bộ GD&ĐT, của UBND thành phố về quy chế tổ chức và hoạt động của các

trường MN ngoài công lập, chế độ ưu đãi, khuyến khích mở trường, lớp MN ngoài

công lập và chế độ chính sách của Nhà nước đối với đội ngũ GV ở các loại hình

trường, lớp MN ngoài công lập.



71



* Công việc này cần được tiến hành từ cuối năm học để chuẩn bị cho năm

học mới (tháng 7; 8 hàng năm) và ở một số thời điểm tổ chức các hoạt động chuyên

môn theo chuyên đề từng năm học.

3.2.2. Quy hoạch và phát triển mạng lưới trường lớp mầm non ngoài

công lập phù hợp, đáp ứng với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu

của từng địa bàn dân cư

3.2.2.1. Nội dung

Hiện nay mạng lưới trường, lớp MN ở Hải Phòng đã phủ kín trên các xã,

phường trong địa bàn thành phố, nhưng các loại hình trường, lớp phát triển và

phân bổ chưa hợp lý: trường MN công lập nằm ở các quận nội thành và khu

trung tâm huyện, thị trấn, thị xã, khu có điều kiện KT-XH phát triển. Gần đây,

thành phố mới thành lập và chuyển đổi 10 xã thuộc huyện đảo Cát Hải sang loại

hình công lập theo Quyết định số 161/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Còn lại các trường MN ngoài công lập hầu hết nằm ở khu vực ngoại thành, khu

dân cư có điều kiện kinh tế khó khăn. Đặc biệt các trường MN bán công ở nông

thôn có nhiều điểm lẻ nằm rải rác ở các thôn, rất khó khăn trong việc tập trung

kinh phí đầu tư xây dựng CSVC trang thiết bị CS-GD trẻ.

Mặt khác để đáp ứng được nhu cầu gửi trẻ ngày càng tăng, theo thực tế và dự

báo quy mô trẻ MN đến năm 2010 của Sở GD&ĐT Hải Phòng ở năm học 2004 2005( NT: 17.240 cháu; MG: 50.733 cháu ), đến năm học 2010 - 2011



(NT:



22.426 cháu; MG: 70.240 cháu). Như vậy, đến năm học 2010 - 2011 số trẻ NT ra

lớp tăng 4.186 cháu tương đương 200 nhóm; Số trẻ MG ra lớp tăng 19.507 cháu

tương đương 600 lớp. Hơn nữa, thực hiện chương trình xây dựng trường MN đạt

chuẩn quốc gia yêu cầu đảm bảo định biên số trẻ trên lớp, các trường MN khu vực

nội thành phải tiến hành dãn bớt số cháu, tình trạng thiếu phòng học một cách trầm

trọng ở nội thành sẽ xảy ra trong tương lai.

Để giải quyết vấn đề này khi nguồn ngân sách của Nhà nước còn khó khăn,

hạn hẹp, một điều tất yếu đặt ra cho lãnh đạo các cấp, các nhà quản lý trong

ngành GD&ĐT, GDMN là phải xây dựng kế hoạch và tìm ra các biện pháp phát



72



triển mô hình GDMN ngoài công lập, đặc biệt, phát triển các loại hình trường,

lớp MN tư thục, dân lập. Chính vì vậy, cần phải quy hoạch sắp xếp và phát triển

mạng lưới trường, lớp MN ngoài công lập cho phù hợp, đáp ứng với điều kiện

phát triển KT - XH và nhu cầu của từng địa bàn dân cư. Vấn đề này được tập

trung vào một số việc sau:

1. Các trường MN khối CQXN có thể lựa chọn chuyển sang 02 hình thức:

+ Loại hình dân lập: Với CQXN nào đủ điều kiện tiếp tục quản lý trường

MN thì yêu cầu tiếp tục đầu tư nâng cấp CSVC, có trách nhiệm trả lương cho

GV và các chi phí khác cho hoạt động của nhà trường đủ điều kiện để nâng cao

chất lượng CS-GD trẻ.

+ Loại hình bán công: Giao toàn bộ tài sản, CSVC, đội ngũ GV hiện có của

trường cho Uỷ ban nhân dân các quận - huyện, nơi trường đóng để quản lý như

các trường MN bán công khác.

Để chuyển đổi loại hình trường lớp này cần phải chuẩn bị nghiên cứu kỹ,

thảo luận dân chủ của đơn vị sở tại, có sự tham gia ý kiến của Liên đoàn Lao

động thành phố kết hợp với ngành GD, xác định cụ thể trách nhiệm của các bên

liên quan trên cơ sở các văn bản quy định của Nhà nước và đảm bảo cho sự phát

triển của GDMN, phù hợp với điều kiện sản xuất và kinh doanh của đơn vị

CQXN.

2. Sắp xếp lại mạng lưới trường lớp MN bán công ở nông thôn theo quy mô tập

trung, mỗi xã một trường MN hoặc quy mô tập trung 2 - 3 lớp theo thôn, liên

thôn, thuận tiện cho việc gửi trẻ, hạn chế nhóm lớp lẻ, lớp ghép nhiều độ tuổi

(trừ vùng sâu, vùng xa).

3. Đầu tư CSVC theo hướng tập trung: cải tạo, nâng cấp, xây mới nhằm tăng số

phòng học, mở rộng diện tích phòng học, các phòng chức năng tiến tới áp chuẩn

và đạt chuẩn quốc gia.

4. Chuyển đổi toàn bộ các trường MN công lập ở khu vực nội thành, nội thị sang

loại hình bán công, chỉ giữ lại 27 trường MN công lập trong toàn thành phố làm



73



nòng cốt chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ và bồi dưỡng thực hành cho CBQL và

GV.

5. Bám sát các dự án phát triển đầu tư đô thị, khu kinh tế, tăng cường công tác

tham mưu với các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương có những cơ chế chính

sách ưu tiên cụ thể hấp dẫn, khuyến khích cho sự hình thành và phát triển loại

hình MN tư thục.

3.2.2.2. Thực hiện

Thực hiện kế hoạch quy hoạch sắp xếp và phát triển mạng lưới trường lớp

MN ngoài công lập cho phù hợp đáp ứng với yêu cầu trong hiện tại và tương lai

ở Hải Phòng, cần có sự phối kết hợp với các ban ngành liên quan, có sự thống

nhất, ủng hộ của lãnh đạo các cấp, các ngành: HĐND, UBND các cấp, Sở Nội

vụ, Sở Xây dựng, Liên đoàn Lao động, một số CQXN có trường lớp MN, Sở

GD&ĐT, Phòng GD các quận, huyện và thị xã. Kế hoạch này được tiến hành

trên cơ sở triển khai thực hiện: Nghị quyết TW2 Đại hội Đảng lần thứ 8; Quyết

định 161/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Luật GD; Điều lệ trường

MN; Quy chế công nhận trường MN đạt chuẩn quốc gia của Bộ trưởng Bộ

GD&ĐT; định hướng phát triển KT -XH thành phố Hải Phòng đến năm 2010;

quy hoạch phát triển GDMN của thành phố Hải Phòng giai đoạn 2001-2010; sự

ủng hộ nhiệt tình của các bậc phụ huynh và cộng đồng XH trong việc giành ưu

tiên cho trẻ em.

- Kế hoạch tiến hành triển khai thực hiện:

+ Năm học 2005 - 2006: Phòng GD các huyện tham mưu trình UBND

huyện chỉ đạo UBND xã và các trường MN thực hiện tiến hành quy hoạch sắp

xếp mạng lưới trường lớp MN bán công khu vực nông thôn và hoàn thành vào

năm học 2007 - 2008.

+ Năm học 2006 - 2007: Phòng GD các quận căn cứ vào điều kiện thực tế

của các trường xây dựng đề án lộ trình chuyển đổi các trường MN công lập sang

bán công trình UBND quận và ra Quyết định. Đảm bảo đến năm học 2010 2011 có 30% số trường công lập chuyển sang bán công.



74



+ Thực hiện chỉ tiêu xây dựng trường chuẩn quốc gia theo quyết định

161/2002/QĐ-TTg: Trên cơ sở thực tế của địa phương, UBND, phòng GD các

quận - huyện và các trường xây dựng đề án thông qua Sở GD&ĐT báo cáo Ban

chỉ đạo xây dựng trường chuẩn quốc gia thành phố, tiến trình thực hiện được

Ban chỉ đạo thẩm định và trình UBND thành phố ra Quyết định.

 Đến năm học 2004 - 2005: 17 trường

 Đến năm học 2010 - 2011: 123 trường

Các đề án được xây dựng theo từng giai đoạn của các năm học: tháng 4, 5, 8, 9,

11,12 hàng năm

+ Phòng GD các quận - huyện bám sát các dự án xây dựng trên địa bàn của

địa phương, khai thác khả năng của các cá nhân, các tập thể ... làm công tác

tuyên truyền, tham mưu, tư vấn cho các đơn vị, cá nhân ... xây dựng mở trường,

lớp MN tư thục, ủng hộ cho GD... cùng tham gia phát triển sự nghiệp GDMN.

 Năm học 2005 – 2006 phát triển thêm 01 trường MN tư thục

 năm học 2010 – 2011 phát triển thêm từ 3 – 5 trường MN tư thục.

3.2.3. Định rõ trách nhiệm và thẩm quyền của các cấp quản lý đối với các

trường MN ngoài công lập

Thực hiện theo tư tưởng chỉ đạo phát triển GD&ĐT trong thời kỳ CNH HĐH của BCH Trung ương Đảng khóa VIII: "Thực sự coi GD-ĐT là quốc sách

hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển..."

"Thực hiện công bằng xã hội trong GD&ĐT: Tạo điều kiện để ai cũng

được học hành. Người nghèo được Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để học ".

Trong Nghị quyết đã xác định rõ giải pháp tăng cường các nguồn lực cho GD&ĐT:

Ngân sách Nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực cho GD&ĐT và

phải được sử dụng tập trung, ưu tiên. Trong đó ưu tiên trợ giúp cho GD ở

những vùng khó khăn và diện chính sách.

Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước đã xác định rất rõ ràng: yêu

cầu toàn Đảng, toàn dân, mọi tổ chức xã hội phải có trách nhiệm trong việc

CS&GD thế hệ trẻ. Nhưng vấn đề đặt ra là làm như thế nào để tiến trình thực



75



hiện được nhanh nhất, hiệu quả nhất, đảm bảo cho hầu hết trẻ em trong độ tuổi

MN được hưởng CS-GD theo chương trình khoa học. Cho đến nay điều đó

không thể còn chỉ là sự tuyên truyền vận động một cách chung chung mà cần

phải thể chế hóa, cụ thể hóa các quan điểm, định rõ trách nhiệm và thẩm quyền

của các cấp quản lý đối với GDMN và đặc biệt là GDMN ngoài công lập – loại

hình trường ở Hải Phòng hầu hết nằm trong khu vực có điều kiện KT - XH khó

khăn, khu dân cư có đời sống kinh tế thấp.

3.2.3.1. Nội dung

" Dù một xã hội trở lên giàu có đến đâu cũng vẫn tồn tại những cá nhân,

những hộ gia đình nghèo. Sự khác biệt giữa hai cực: giàu - nghèo có thể được

xích lại gần thông qua một loạt các công cụ chính sách ".



[26, Tr. 4]



Vì vậy cần:

 Có những chính sách cơ chế đối đãi bình đẳng giữa các loại hình trường

MN công lập và ngoài công lập phù hợp với điều kiện thực tế từng giai đoạn, tạo

nên được sự bình đẳng tối ưu nhất khi nguồn vốn ngân sách của Nhà nước còn

hạn hẹp:

- Thể chế hóa vai trò điều hòa, điều tiết quản lý Nhà nước về mặt huy động phân

bổ nguồn lực cho GDMN nói chung, cụ thể cho GDMN công lập và từng loại

hình trường MN ngoài công lập.

- Ban hành quy chế, cơ chế, ra quyết định chuyển đổi trường MN công lập khu

vực nội thành, nội thị, khu có vùng kinh tế phát triển sang mô hình trường MN

bán công sao cho:

+ Khi chuyển sang cơ chế hoạt động theo mô hình trường mới, các

trường này không gặp thêm nhiều khó khăn mà vẫn có những điều kiện phát

triển tốt hơn.

+ Có điều kiện tập trung ngân sách điều tiết phân bổ ngân sách phù hợp

hơn, có điều kiện để ưu tiên những trường MN thuộc khu vực có nền kinh tế

chậm phát triển.



76



- Ban hành chính sách giao trách nhiệm khuyến khích các lực lượng XH (gia

đình, cộng đồng, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội...) đóng góp nguồn lực

tạo môi trường cho GDMN ngoài công lập phát triển mạnh mẽ toàn diện về mọi

mặt. Quy định mức đóng góp của phụ huynh phù hợp với điều kiện kinh tế địa

phương, huy động toàn cộng đồng xã hội trên địa bàn trường đóng góp quỹ hỗ

trợ phát triển giáo dục tuổi thơ.

- Ban hành các quyết định, hướng dẫn các dự án phát triển đô thị, phát triển kinh

tế giành quỹ đất và xây dựng phương án hình thành trường lớp MN hoặc hỗ trợ

kinh phí phát triển GDMN phục vụ con em trên địa bàn, con em các cán bộ công

nhân viên của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn trường. Xác định đây là trách

nhiệm, bổn phận của các đơn vị để góp phần xây dựng và phát triển KT -XH của

thành phố, chứ không phải là việc xin – cho.

 Có quyết định phân công, phân cấp quản lý chỉ đạo các hoạt động của

trường MN ngoài công lập để đảm bảo chất lượng CS-GD trẻ đồng đều ở mọi

lứa tuổi, mọi điều kiện, loại hình trường: công tác tổ chức quản lý; hoạt động

chuyên môn và chăm sóc – nuôi dưỡng; công tác quản lý tài chính; các hoạt

động công đoàn, đoàn thể...

3.2.3.2. Thực hiện

- Ngành GD&ĐT làm tốt công tác tham mưu, trình HĐND, UBND thành phố về

thực trạng và các vấn đề liên quan đến việc phát triển GDMN nói chung,

GDMN ngoài công lập nói riêng để UBND thành phố có kế hoạch, quyết định

hướng dẫn triển khai tới các địa phương (quận - huyện - thị xã; xã - phường) và

phối kết hợp giữa các ban ngành liên quan trong thành phố (SởGD&ĐT, Sở Nội

vụ, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Xây

dựng, Liên đoàn Lao động...) tập trung thống nhất tạo môi trường thuận lợi cho

các trường MN ngoài công lập phát triển.

- Ngành GD&ĐT từng cấp (từ Sở, Phòng đến các trường, lớp MN) có sự phân

công cụ thể trong việc chỉ đạo triển khai mọi hoạt động: tổ chức quản lý, CS-GD

trẻ, quản lý tài chính, các hoạt động đoàn thể... được tiến hành thực hiện một



77



cách nghiêm nghặt, đồng bộ ở tất cả các loại hình trường lớp MN (đặc biệt chú

trọng trường lớp MN dân lập và tư thục).

Thực hiện biện pháp này cần bám sát vào việc triển khai thực hiện Nghị

quyết Trung ương II của Đảng, dựa vào Luật Giáo dục và các Văn bản hướng

dẫn, Quyết định của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT (Điều lệ trường MN, quy chế tổ

chức hoạt động của các trường ngoài công lập...); định hướng phát triển KTXH, phát triển GDMN của thành phố Hải Phòng. Cùng phối kết hợp trách nhiệm

và thẩm quyền của các ban ngành, các cấp có những ưu sách cho các trường lớp

MN ngoài công lập phù hợp với điều kiện thực tế.

Đối với ngành GD&ĐT từ các cấp (Sở, Phòng, Trường ...) phải tổng hợp

nắm bắt tình hình thường xuyên, kịp thời theo từng kỳ (sơ kết học kỳ I, tổng kết

năm học...) và báo cáo, tham mưu, đệ trình lên cấp trên để các cấp quản lý có

những chủ trương, cơ chế, chính sách kịp thời cho năm học mới.

3.2.4. Tham mưu xây dựng các chính sách cụ thể hỗ trợ các trường MN

ngoài công lập có điều kiện hoạt động tốt hơn đảm bảo nâng cao chất lượng

CS-GD trẻ

Do đặc điểm cơ chế, điều kiện thực tế của các trường, lớp MN ngoài công

lập Hải Phòng, thu nhập của giáo viên và kinh phí đầu tư CSVC mua sắm trang

thiết bị, đồ dùng dạy học và đồ dùng đồ chơi phụ thuộc phần lớn vào mức đóng

góp của phụ huynh.

Ở Hải Phòng, các trường, lớp MN ngoài công lập hầu hết là huy động

con em các gia đình nằm trên địa bàn kinh tế khó khăn, đặc biệt là các

trường, lớp MN tư thục. Vì vậy cần có một số chính sách hỗ trợ cho các

trường MN ngoài công lập có điều kiện hoạt động tốt hơn đảm bảo nâng cao

chất lượng CS -GD trẻ.

3.2.4.1. Nội dung

 Chính sách hỗ trợ về tài chính:



78



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (102 trang)

×