1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.39 MB, 111 trang )


PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU



CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ

NGHIÊN CỨU

1.1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ .



Thái độ và sự thay đổi thái độ là một trong những đề tài được nghiên

cứu nhiều nhất trong tâm lý học . Các nhà tâm lý học đã cố gắng nghiên cứu

nhằm đưa ra những định nghĩa , quan điểm , cấu trúc của thái độ và mối quan hệ

giữa thái độ và hành vi nhằm hiểu rõ , dự đoán , kiểm soát và thay đổi hành vi

của con người .

1.1.1 Các nghiên cứu liên quan đến thái độ.

Thái độ là một hiện tượng tâm lý khá phức tạp trong đời sống tâm lý

của con người và của các nhóm người ,và đã được các nhà tâm lý học phương

Tây quan tâm nghiên cứu từ rất sớm ;từ đầu thế kỷ XX gắn với tên tuổi của hai

nhà tâm lý học Mỹ là Thomas.W.I và Znaniecki. F một công trình nghiên cứu về

người nông dân Ba Lan sống ở Châu Âu và di cư sang Mỹ.Hai ông đã đặc biệt

chú ý đến sự thích ứng cũng như thái độ của những người nông dân này trước

những thay đổi về giá trị của cuộc sống và đưa đến nhận địmh :thái độ là trạng

thái tinh thần của cá nhân đối với một giá trị nào đó.

Về sau ,các công trình nghiên cứu về thái độ ngày càng nhiều gắn với tên

tuổi của nhiều nhà tâm lý học nổi tiếng



như La Piere,G.W.Allport,Leon



Festinger, Daryl Bem ,W.Mc .Guire .... bởi lẽ hiện tượng này đã đụng chạm đến

nhiều hiện tượng khác của cuộc sống xã hội ,đụng chạm dến các quan hệ xã hội

như dư luận xã hội ,tâm trạng xã hội truyền thông đại chúng. ...

Năm 1934 ,La Piere trong một công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng

những điều con người nói và trên thực tế không phải lúc nào cũng luôn đồng nhất.



-6-



Kết luận này sau này được mang tên là "nghịch lý LaPiere".Điều này đã cho con

người ta suy nghĩ về mối quan hệ giữa thái độ bên trong và hành vi biểu hiện ra

bên ngoài.Việc giải quyết về mối quan hệ này có ý nghĩa to lớn cho giáo dục đạo

đức và điều chỉnh hành vi của con người trong cuộc sống cộng đồng. Điều này

cho đến nay vẫn được nhiều nhà tâm lý học của nhiều nước trên thế giới tiếp tục

khám phá. Về sau này ,vào năm 1957 Leon Festinger với thuyết " Bất đồng nhận

thức " đã đi đến quan điểm cho rằng con người có thể xuất hiện trạng thái khó

chịu ,căng thẳng khi thái độ và hành vi của bản thân có sự mâu thuẫn.Cần phải

nhận thấy là theo ý hướng của Festinger đã có rất nhiều các công trình trong

nhiều năm từ thập kỷ 60 đến 80 của thế kỷ tập trung vào làm rõ thêm vấn đề này:

Các nghiên cứu về những " công nhân quý tộc "ở Anh doGoldthorpe và

Lockwood tiến hành đã cho thấy thái độ trong công việc của người công nhân

liên quan đến các định hướng mà người công nhân này đem đến lao động của họ.

Các định hướng có thể được biến đổi từ người này sang người khác trong cùng

một công việc ,theo một cung cách mà nếu chỉ quy chiếu vào những chỉnh hợp kỹ

thuật và các điều kiện lao động khác thì sẽ không đủ để giải thích sự thoả mãn

hay bất mãn của người công nhân đối với lao động nghề nghiệp mà họ thực hiện

hàng ngày.

Năm 1985, William MC Guire cũng đi sâu nghiên cứu về "thái độ và sự

thay đổi thái độ "và đã đi đến nhận định rằng thái độ và và các vấn đề liên quan

đến sự thay đổi thái độ ,kiểm soát và thay đổi hành vi người thuộc loại đề tài

được quan tâm nhiều nhất trong tâm lý học nói chung và tâm lý học xã hội nói

riêng. Đây là vấn đề rất khó vì bản thân phạm trù này còn nhiều khía cạnh cần

phải tiếp tục bàn cãi.

Nghiên cứu về thái độ ở Liên Xô trước đây chủ yếu dựa trên nền tảng của

tâm lý học hoạt động và trường phái tâm thế ,hoặc trong tâm lý học nhân cách .



-7-



Khái niệm thái độ chủ quan của cá nhân lần đầu tiên được đặt ra trong tâm lý học

A.F.Laguski đề xuất khi nghiên cứu tính cách .Trong những bài viết năm 1909 1910 về năng lực và trong những cuốn sách sau đó của ông như ""Công trình

nghiên cứu nhân cách trong quan hệ với môi trường""(1912)và trong cuốn" Phân

loại nhân cách " (1917-1924) ,"Bút ký khoa học về tính cách "(1916) ông đã đưa

ra quan niệm về thái độ chủ quan của con người với môi trường .Theo ông khi

phân tích nhân cách không chỉ dừng lại ở góc độ tâm lý tâm sinh lý mà còn phải

lưu ý cả góc độ tâm lý -xã hội. Ông cho rằng thái độ là khía cạnh quan trọng của

nhân cách .Ông đặc biệt quan tâm tới thái độ của cá nhân đối với nghề nghiệp

với sở hữu và với người khác , với xã hội . Sau này dựa trên tư tưởng của ông và

xuất phát từ lập trường Mác xit nhà tâm lý học V.N.Miasixex đã đề ra học thuyết

"Thái độ nhân cách " .Từ đó vấn đề thái độ của con người trong xã hội được

nhiều nhà tâm lý học khác chú ý nghiên cứu và đề cao như: A.I.Gecxen,

N.G.Checnưsevski,N.A.Đobrôliubôv,I.M.Xechenov, V.M.Becherev.

Nghiên cứu của trường phái tâm thế. Người mở đầu là D. N.Udơnate đã

đưa vào những thực nghiệm để đề ra thuyết tâm thế nhằm khắc phục tính đơn

giản, cơ học và quan điểm tính trực tiếp của hành vi. Theo ông tâm thế là cơ sở

của tính tích cực có chọn lọc, có định hướng của chủ thể là trạng thái trọn vẹn của

chủ thể, sẵn sàng tri giác các sự kiện và thực hiện các hành động theo hướng xác

định. Tâm thế là trạng thái vô thức xuất hiện khi có sự gặp gỡ của nhu cầu và tình

huống thoả mãn nhu cầu, quy định mọi biểu hiện của tâm lý và hành vi của các

nhân, giúp cá nhân thích ứng với điều kiện bên ngoài. Sau này, thuyết tâm thế đã

được các đồng nghiệp khác của ông phát triển, ứng dụng trong Tâm lý học tuyên

truyền. Dựa vào đó, người ta đưa ra khái niệm Tâm thế xã hội tương đương với

khái niệm Thái độ - Attitude để giải thích hành vi xã hội của con người.



-8-



Ngoài trường phái tâm thế, thái độ còn được nghiên cứu trong tâm lý học

nhân cách và đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Nhà tâm lý học MỹV.N.Miasiev

đã đưa ra thuyết thái độ nhân cách coi nhân cách là một hệ thống thái độ. Ông là

một trong những người đặt nền móng cho Tâm lý học thái độ theo quan điểm

Macxit. Ông đã khẳng định cơ sở sinh lý học của thái độ có ý thức của con người

hiện thực là phản xạ có điều kiện. Dưới góc độ Tâm lý học,thì theo ông thái độ là

một trong những hình thức thể hiện tâm lý người, là điều kiện khái quát bên trong

các hành động của con người. Ông quy nhu cầu, hứng thú, tình cảm, tính cách, sự

đánh giá.. đều là thái độ. Ông coi tất cả các dạng hoạt động tâm lý hiểu theo nghĩa

rộng có thể xem là một dạng nào đó của thái độ như vậy điểm hạn chế của thuyết

này chính là chỗ xếp ngang hàng quan hệ xã hội với thái độ và nhận thức, xúc

cảm ý chí, thị hiếu, nét tính cách.

Nhà tâm lý hoc V.A. Iadov đã phát triển khái niệm tâm thế, đưa ra lý

thuyết hệ thống định vị điều chỉnh hoạt động xã hội của cá nhân , khắc phục các

sai lầm của các phương pháp nghiên cứu thái độ và tâm thế như chỉ nghiên cứu

trong phòng thí nghiệm, trong nhóm nhỏ. Thuyết này đã đưa ra cách tiếp cận hệ

thống vào các công trình nghiên cứu thái độ . Theo thuyết này thì hành vi xã hội

của cá nhân dược điều chỉnh bởi hệ thống định vị (Tâm thế, tâm thế xã hội , xu

hướng cơ bản của hứng thú, hệ thống định hướng giá trị). Hệ thống định vị này

được xếp theo thứ bậc từ thấp đến cao, điều chỉnh hành vi xã hội của cá nhân

tương ứng với các điều kiện hoạt động ngày càng được mở rộng và ổn định như

các định vị ở thứ bậc cao hơn sẽ quy định các định vị ở thứ bậc thấp hơn.

Gần đây khi nghiên cứu nhân cách như một phạm trù cơ bản của tâm lý

học, các nhà tâm lý học Xô viết đã đề cập tới thái độ sử dụng chủ quan của

nhân cách, sự hình thành thái độ chủ quan qua hoạt động và giao tiếp.



-9-



Ở Việt Nam cũng có các công trình nghiên cứu về thái độ . Thái độ là

khái niệm tâm lý khó xác định và gây nhiều tranh cãi, do đó cũng là khái niệm

được quan tâm nghiên cứu nhiều. Các tác giả đã nghiên cứu theo nhiều quan

điểm và hướng đi khác nhau nhằm : chỉ ra cấu trúc tâm lý của thái độ , mối quan

hệ giữa thái độ và hành vi, những yếu tố tác động tới thái độ,tuy nhiên phần lớn

lại tập trung nghiên cứu thái độ học tập của học sinh , sinh viên.Những nghiên

cứu này đã xác định được một số quan hệ cơ bản về vị trí vai trò của thái độ trong

hoạt động dạy và học tại các nhà trường . Đồng thời cũng đã khẳng định thái độ

học tập là bộ phận cấu thành , cũng là thuộc tính cơ bản của ý thức học tập , là

yếu tố qui định tính tự giác học tập và biểu hiện bằng cảm xúc và hành động

tương ứng. Có thể kể tới một số đề tài nghiên cứuvề thái độ như :

+ Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Hoa :"Nghiên cứu thái độ đối

với việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên cao đẳng mầm non Thanh

Hoá." Trong luận án , ngoài việc chỉ ra thái độ của sinh viên đối với việc rèn

luyện nghiệp vụ sư phạm , tác giả đã làm rõ các mối quan hệ của thái độ và các

thuộc tính tâm lí khác của nhân cách như : ý thức , nhu cầu , hứng thú ..... và đặc

biệt là với hoạt động.

+ Tác giả Lê Ngọc Lan đã có nghiên cứu về :"Quan hệ giữa khả năng tự

đánh giá phù hợp của học sinh với thái độ học tập và động cơ hoạt động."Trong

đó tác giả nêu lên mối quan hệ chặt chẽ giữa khả năng tự đánh giá năng lực với

thái độ học tập. Khả năng đánh giá đúng sẽ dẫn tới một thái độ và động cơ học

tập đúng đắn. Thái độ , quan niệm của gia đình đối với việc học tập của con cũng

có ảnh hưởng nhiều tới thái độ và động cơ học tập.

+ Luận văn thạc sỹ của tác gỉa Lâm Thị Sang nghiên cứu :" Thực trạng thái

độ đối với việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên cao đẳng sư phạm Bạc

Liêu." Bên cạnh việc chỉ ra thực trạng thái độ của sinh viên với việc rèn luyện



- 10 -



nghiệp vụ sư phạm, tác giả đã tập hợp được nhiều quan hệ khác nhau về thái độ ,

chỉ ra được những đặc điểm , chức năng của thái độ.Ngoài ra còn có một số

nghiên cứu về thái độ học tập như :Tác giả Lê Thị Bừng với đề tài :"Tự đánh giá

thái độ học tập của sinh viên sư phạm trong điều kiện có phân cấp học bổng'.

Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Đức Hưởng ."Nghiên cứu thái độ học tập

của sinh viên đại học an ninh nhân dân"." Nghiên cứu về tính tích cực nhận thức

như là thái độ" của tác giả Nguyễn Ngọc Bảo . Ngoài ra còn có nghiên cứu :"vận

dụng các chỉ báo của Frank nghiên cứu tự đánh giá thái độ học tập môn Toán của

sinh viên sư phạm" của tác giả Đào Lan Hương.

Về phương pháp nghiên cứu thái độ , tác giả Trần Trọng Thuỷ có nghiên

cứu :" Phương pháp đo thái độ ,tinh thần trách nhiệm đối với lao động, sự thống

nhất về định hướng giá trị của tập thể học sinh"

Tóm lại: Đã có một số công trình nghiên cứu về thái độ ở Việt Nam, nhưng

phần lớn tập trung vào nghiên cứu thái độ học tập của học sinh ,sinh viên . Điều

đáng lưu ý ở đây là chưa có nghiên cứu nào đề cập tới thái độ đối với hiện tượng

sử dụng ma tuý nói chung và của trẻ em lang thang nói riêng. Vì vậy việc chọn

đề tài nghiên cứu thái độ đối với việc dùng ma tuý ở trẻ lang thang là cần thiết và

có ý nghĩa thực tiễn đặc biệt trong điều kiện hiện nay .

1.1.2 Nghiên cứu về vấn đề trẻ lang thang .

Đề tài của luận văn là nghiên cứu của trẻ lang thang trên địa bàn Hà nội

đối với vấn dề sử dụng ma tuý, do đó ngoài việc tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu

thái độ, cũng cần làm rõ các nghiên cứu vấn đề trẻ lang thang và thái độ của trẻ

lang thang đối với việc sử dụng ma tuý.

Đã có rất nhiều nghiên cứu, khảo sát về vấn đề trẻ lang thang của các tổ

chức phi chính phủ như UNICEF. Plan.. của các cơ quan làm công tác chăm sóc,

bảo vệ trẻ em của các viện nghiên cứu như viện nghiên cứu Thanh niên... Như



- 11 -



nghiên cứu về đặc điểm của trẻ lao động sớm tại Thành phố Hồ Chí Minh của

Viện nghiên cứu Thanh niên, trong đó đã đề cập tới nguyên nhân, hoàn cảnh, kinh

tế xã hội và điều kiện lao động của trẻ lang thang lao động sớm.

Nghiên cứu về hành vi giao tiếp của trẻ lang thang do nhóm tác giả Viện

Khoa học Giáo dục kết hợp với Uỷ ban chăm sóc – bảo vệ trẻ em Hà Nội tiến

hành. Nghiên cứu này đã chỉ ra những đặc điểm trong quan hệ giao tiếp của trẻ

lang thang. Trên cơ sở đó đề ra những nội dung và biện pháp giáo dục hành vi

giao tiếp có văn hoá cho trẻ lang thang. Từ nghiên cứu này tác giả Hoàng Bích

Hường – chuyên viên UB bảo vệ chăm sóc trẻ em Hà Nội đã phát triển và bảo vệ

thành công Luận án tiến sĩ của mình.

Khảo sát về thực trang trẻ em lang thang trên địa bàn Hà Nội do Unicep

tài trợ kinh phí năm 1998. Khảo sát này đã đợc tổng kết số trẻ, độ tuổi, trình độ

văn hoá, quê quán, giới tính, nghề nghiệp…. của trẻ lang thang tại địa bàn Hà

Nội.

Nghiên cứu xã hội học về tình trạng trẻ em lang thang sử dụng ma tuý do

Viện Nghiên cứu thanh niên tiến hành.

Khảo sát về tình trạng trẻ em lang thang và lao động sớm trên địa bàn

Quận Hai Bà Trưng do UB dân số – gia đình và trẻ em Quận Hai Bà Trưng thực

hiện với sự giúp đỡ về kinh phí của tổ chức nhân đạo Quốc tế Plan International .

Khảo sát này đã chỉ ra thực trạng về số trẻ em lang thang và lao động sớm trên

đại bàn Quận Hai Bà Trưng ( về độ tuổi, giới tính, trình độ văn hoá, nghề nghiệp).

Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu chỉ tập trung tìm hiểu nguyên

nhân để trẻ đi lang thang , đặc điểm tâm lý của trẻ lang thang và tình trạng trẻ

lang thang phải lao động sớm hoặc có nguy cơ vướng vào các TNXH chứ chưa

đề cập tới thái độ của trẻ lang thang đối với vấn đề sử dụng ma tuý.



- 12 -



1.2.TÌNH TRẠNG TRẺ LANG THANG VÀ TRẺ LANG THANG TRÊN ĐỊA

BÀN HÀ NỘI CÓ SỬ DỤNG MA TUÝ .



1.2.1.Một số vấn đề khái quát về tình hình trẻ lang thang trên địa bàn

Hà Nội .

Khái niệm trẻ lang thang thường được coi là những trẻ em phải kiếm

tiền bằng các hoạt động thường xuyên trên đường phố như đánh giày , bán

báo , nhặt rác ...trẻ lang thang là hậu quả của sự phân hoá giàu nghèo và quá trình

đô thị hoá nhanh chóng .Thực trạng trẻ lang thang ở nước ta ngày càng tănng

với tốc độ chóng mặt . Năm 1996 cả nước có 14.596 trẻ lang thang , tới

năm 1997 đã có 16.263 em và tới năm 2000 đã có khoảng 50 000 trẻ lang thang .

Số trẻ lang thang chủ yếu tập trung ở những thành phố lớn .Theo số liệu

khảo sát của Bộ lao động thương binh và xã hội và UB Bảo vệ và chăm sóc trẻ

em thành phố Hà Nội thì số trẻ lang thang tại Hà Nội ngày càng tăng theo cấp

số nhân . Năm 1996 cả thành phố có 1054 em thì năm 1997 đã là 2772 em , và

tới năm 1999 là 4558 em và năm 2000 con số này đã là khoảng 6000 em .

Qua khảo sát số trẻ lang thang kiếm sống do nghèo đói là 46,2% ,do bố mẹ

ly dị , bạn bè rủ rê , do gia đình bỏ rơi là 53,8% .Số trẻ lang thang ở Hà Nội chủ

yếu có nguồn gốc xuất thân từ các tỉnh Thanh Hoá (21%), Hà tây(14%)và Nam

Định (9,4%), trong đó có hơn 27.000em liên tục ở Hà Nội .

-Xét về cơ cấu giới và độ tuổi thì số trẻ nam gần bằng số trẻ em nữ (nam

59%, nữ 47%) và độ tuổi chủ yếu là từ 12 đến16 tuổi (65,3%).

-Xét về trình độ văn hóa , đa số các em đều có trình độ văn hoá thấp, chỉ

học hết câp I (34%), cấp II(58%)và cá biệt có 4,7% trẻ mù trữ. Tuy nhiên 80% số

trẻ lang thang đã bỏ học hẳn, số còn lại được học trong các lớp học linh hoạt.



- 13 -



- Về cơ cấu nghề nghiệp có 24.2% giúp việc gia đình, có 24.2% làm nghề

đánh giầy, 11.2% bán hàng rong, 2.3% ăn xin (có giảm 3.9% so với năm 1997).

Số trẻ bán hàng rong và giúp việc gia đình, bán hàng chủ yếu là trẻ gái.

- Tỷ lệ trẻ em lang thang làm việc quá sức mình khá lớn:46.4% trẻ làm việc

trên 8 giờ/ngày, tập trung ở nhóm trẻ ngủ vỉa hè, chợ, bến xe. Tuy phải lao động

vất vả, nặng nhọc như vậy nhưng thu nhập của các em lại không cao, khoảng

44.2% có thu nhập thấp hơn 5.000 đồng/ngày. Mức thu nhập từ 5.000-10.000

đồng/ngày khoảng 41.2%, từ 10.000-20.000 đồng/ngày khoảng 6.1%, trên 20.000

đồng/ngày khoảng 0.8%. Tuy thu nhập của các em còn quá ít ỏi nhưng do nhu

cầu sinh hoạt thấp nên đa phần các em đủ ăn và một số còn để dành tiền giúp đỡ

gia đình. Phần đông các em có thu nhập sau khi đã trừ ăn uống còn lại 500

0đồng/ngày. Đây là mức thu nhập các em chấp nhận vì dẫu sao cũng không thể có

thu nhập như thể ở quê. Vì vậy khi hỏi nguyện vọng đã có 94.3% trẻ em muốn ở

lại Hà Nội và có việc làm ổn định.

Các em sống xa gia đình, ban ngày lang thang kiếm sống bằng đủ mọi nghề

trên đường phố, buổi tối thì ngủ ở nhà trọ, hoặc ngủ ở vỉa hè, bến tàu bến xe. Đa

số các em ngủ ở nhà trọ hay nhà chủ thuê làm việc (76.6%) số trẻ được thu hút

vào các mái ấm tình thương chỉ có 5.1%. Trẻ lang thang và trẻ vi phạm pháp luật

có ranh giới rất mỏng manh. Tuy nhiên theo thống kê, tỷ lệ trẻ em lang thang bị

mắc các tệ nạn xã hội chưa nhiều (11%) song cũng đáng báo động do môi trường

sống và làm việc của trẻ luôn tiếp xúc với các tệ nạn xã hội. Số trẻ hút thuốc lá là

8,6%, đánh cờ bạc 1,39%, sử dụng ma tuý: 0,4%, trộm cắp: 0,5%, số trẻ vi phạm

pháp luật và đã bị xử phạt như cảnh cáo, phạt tiền, giam giữ là 3,3%.

Tóm lại số trẻ lang thang ở Hà nội ngày càng gia tăng và tập trung chủ yếu

là các nghề như đánh giầy, bán báo, bán hàng rong, giúp việc. Các em đều có

trình độ văn hoá thấp và có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Các em thường trọ và



- 14 -



làm việc ở những môi trường có nguy cơ cao, mắc phải các tệ nạn xã hội. Mặt

khác, các em ít có cơ hội tiếp xúc với các thông tin tuyên truyền, giáo dục về

quyền trẻ em, và về các tệ nạn xâm hại đến trẻ em. Vì vậy đã có một số các em đã

tham gia vào các tệ nạn xã hội như trộm cắp, cờ bạc và đặc biệt là sử dụng, vận

chuyển, mua bán chất ma tuý.

2.2.2 Những kết luận bƣớc đầu:

- Tình hình trẻ lang thang kiếm sống ngày càng gia tăng theo cấp số nhân.

Các trẻ em lang thang trên dịa bàn Hà Nội chủ yếu sống và làm việc trong những

môi trường có nguy cơ cao tham gia vào các tệ nạn xã hội.

- Tình hình thanh thiếu niên sử dụng ma tuý ngày càng gia tăng và đã có

một số trẻ lang thang tham gia vào việc sử dụng, mua bán, vận chuyển ma tuý.

1.3. NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN



1.3.1 Khái niệm về thái độ:

A. Một số khái niệm về thái độ:

Ngay từ năm 1935, trong "Sổ tay Tâm lý học xã hội", G.W. Allport đã cho

rằng khái niệm thái độ là khái niệm phân biệt nhất và quan trọng nhất trong tâm

lý học hiện đại Mỹ.

Có rất nhiều định nghĩa về thái độ. Năm 1935 trong một bài viết tổng kết

các nghiên cứu về thái độ, Allport đã liệt kê ra 17 định nghĩa về thái độ trong

tiếng Anh từ "thái độ" là Attitude và được dịch là tư thế - thái độ. Trong đời

thường khái niệm: "thái độ" được dùng gần với nghĩa" mối quan hệ" dùng để dự

báo hay giải thích hành vi của con người như " thái độ học tập"," Thái độ nghiêm

túc". Trong tâm lý học khái niệm "thái độ" có một ý nghĩa chặt chẽ hơn và có lịch

sử nghiên cứu khá lâu. Sự cố gắng của các nhà tâm lý học trong các nghiên cứu

về thái độ nhằm hiểu rõ, dự đoán, kiểm soát và thay đổi thái độ, hành vi của con

người. Tuy nhiên phải thừa nhận rằng thái độ là một khái niệm tâm lý học khó

xác định một cách chính xác. Chính vì vậy mặc dù được nghiên cứu nhiều, nhất là



- 15 -



về mặt xã hội nhưng những thang bậc đo lường thái độ còn gây ra nhiều tranh

cãi.G.W.Allport cho rằng"Thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần

kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, sử dụng sự điều chỉnh hoặc ảnh hưởng

năng động trong phản ứng của cá nhân với tất cả các khách thể và tình huống mà

nó có mối quan hệ".

Như vậy trong định nghĩa này Allport đã quy thái độ về trạng thái sẵn sàng

về mặt tâm thần kinh cho hoạt động của chủ thể, thái độ là sự định hướng, chuẩn

bị cho hoạt động của chủ thể? Theo quan niệm này thì một thái độ tích cực đối

với việc phòng tránh ma tuý của một cá nhân sẽ làm cho cá nhân đó có thiên

hướng tham gia tích cực vào các hoạt động mà ở đó thái độ tích cực trên được thể

hiện.

Đồng tình với quan niệm trên, Newcome cho rằng thái độ bao giờ cũng có

đối tượng cụ thể. Thái độ của một cá nhân là “thiên hướng, hành động, nhận thức,

tư duy, cảm nhận của chủ thể với khách thể có liên quan”. Định nghĩa này cũng

quy thái độ về sự sẵn sàng phản ứng.

Uznatze cũng cho rằng thái độ là trạng thái sẵn sàng hướng tới một hoạt

động nhất định, là cơ sở của tính tích cực có sự lựa chọn của chủ thể. Theo ông

thái độ là phản ứng cơ bản đầu tiên của chủ thể đối với tác động của tình huống,

trong đó chủ thể phải đặt ta và giải quyết nhiệm vụ. Thái độ là trạng thái toàn vẹn

nhất định của chủ thể, không phải là nội dung riêng nào đó của tâm lý bị tách rời

khỏi các trạng thái tâm lý khác. Theo ông, tâm thế hay thái độ chỉ xuất hiện khi

có nhu cầu và hoàn cảnh thoả mãn nhu cầu. Cá nhân chỉ có thái độ đối với một

đối tượng nào đó khi anh ta có nhu cầu với đối tượng đó và ở trong hoàn cảnh có

thể thoả mãn nhu cầu đó.

Cho dù có nhiều định nghĩa khác nhau về thái độ do sự khác nhau khi xuất

phát, nhưng những quan điểm trên đều khẳng định:



- 16 -



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (111 trang)

×