1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC Ở TRưỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.39 MB, 138 trang )


quan điểm của ông được thể hiện trong tác phẩm “Đạo đức mới” (Nhà xuất bản

Khoa học xã hội, Hà Nội – 1974);

Bàn về giáo dục đạo đức thì tiêu biểu nhất là GS Nguyễn Lân; Hà Thế Ngữ;

Nguyễn Thị Đoan; Nguyễn Khánh. Đó là những cán bộ giảng dạy của trường Đại

học Sư phạm Hà Nội, đã viết giáo trình về lý luận giáo dục đạo đức, giáo dục đạo

đức cho học sinh, sinh viên, giáo dục gia đình từ những năm 60, 70 của thế kỷ XX.

Trong những công trình nghiên cứu của các cán bộ nghiên cứu ở thời kỳ này cũng

đã bàn về mục tiêu, nội dung, phương pháp, các nguyên tắc của quá trình giáo dục

đạo đức, đã quan tâm tới đặc điểm của giáo dục đạo đức và xác định sự cần thiết kết

hợp các lực lượng trong giáo dục (thường gọi là ba kết hợp, đó là kết hợp gia đình,

nhà trường, xã hội), phân tích vai trò của Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên tiền

phong trong hoạt động giáo dục đạo đức.

Bước vào giai đoạn đổi mới đất nước và chuẩn bị cuộc “cách mạng” giáo

dục nhằm thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, yêu cầu nghiên cứu đạo đức và

đổi mới giáo dục đạo đức trở thành một vấn đề cấp thiết trong mô hình nhân cách

và phát triển nhân cách con người Việt Nam. Trong giai đoạn này có rất nhiều

người nghiên cứu, nhưng tiêu biểu nhất là GS Phạm Minh Hạc và đội ngũ cán bộ

của “Trung tâm nghiên cứu giáo dục đạo đức và công dân” ở Viện Khoa học Giáo

dục. Tiêu biểu nhất cho kết quả nghiên cứu về giáo dục đạo đức ở thời kỳ này tập trung

trong công trình nghiên cứu cấp nhà nước “Phát triển toàn diện con người thời kỳ công

nghiệp hoá, hiện đại hoá” do giáo sư Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm kéo dài mười

năm (1990 – 2000) chia làm hai chu kỳ. Kết quả xác định mục đích giáo dục đạo đức

và nêu lên trên bốn mươi giá trị, dựa trên năm quan hệ của chủ thể (quan hệ với bản

thân, với người khác, với công việc, với môi sinh và với lý tưởng của cộng đồng dân

tộc) là cơ sở xây dựng mục tiêu và các phương thức giáo dục đạo đức cho học sinh

trung học phổ thông trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Một trong những công trình nghiên cứu giáo dục đạo đức cho học sinh phổ

thông có giá trị thức tiễn nhất là công trình nghiên cứu xây dựng chương trình giáo

dục thể hiện qua môn “Đạo đức” ở tiểu học, “Giáo dục công dân” ở trung học cơ

sở, trung học phổ thông và thông qua chương trình hoạt động giáo dục ngoài giờ lên



7



lớp được thiết kế hệ thống từ lớp 1 đến lớp 12 do PGS. TS Hà Nhật Thăng làm

trưởng tiểu ban xây dựng.

Lần đầu tiên trong chương trình giáo dục phổ thông, vấn đề giáo dục đạo đức

cho học sinh phổ thông được xây dựng một cách hệ thống, liên thông, đồng tâm

phát triển giữa ba cấp học, bao gồm:

- Mục tiêu giáo dục đạo đức.

- Hệ thống chuẩn mức đạo đức được thể hiện qua hệ thống bài (từ lớp một

đến lớp mười hai); dựa trên năm quan hệ của chủ thể (với bản thân, người khác,

công việc, môi sinh, và lý tưởng cộng đồng).

- Xác định những phương pháp dạy học phù hợp với mục tiêu, nội dung giáo

dục đạo đức cho học sinh phổ thông.

- Xây dựng được một hệ thống đồ dùng dạy học cho mỗi bài .

Cho đến nay những công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức chủ yếu là

nghiên cứu: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, điều kiện, chức năng nhiệm vụ của

các chủ thể tham gia quá trình giáo dục đạo đức (giáo viên, giáo viên chủ nhiệm,

cha mẹ học sinh, con cái…).

Chưa có công trình nào bàn luận về việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức

nhằm tạo ra sự thống nhất hoạt động toàn trường trong quá trình tổ chức giáo dục

đạo đức ở các cấp học. Đặc biệt nghiên cứu quản lý giáo dục đạo đức của Hiệu

trưởng các trường trung học phổ thông ở Nam Định nói chung, ở huyện Nghĩa

Hưng nói riêng.

Tác giả luận văn hy vọng nghiên cứu đề tài “Biện pháp quản lý giáo dục đạo

đức cho học sinh trung học phổ thông ở huyện Nghĩa Hưng - tỉnh Nam Định” sẽ

góp phần làm phong phú thêm lý luận quản lý giáo dục đạo đức - một mặt của quản

lý giáo dục toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả của giáo dục đạo đức nói riêng, hiệu

quả giáo dục ở trường trung học phổ thông nói chung.

Tóm lại, từ những nội dung đã trình bày, có thể nhận thấy vấn đề quản lý đạo

đức cho học sinh trung học phổ thông ở huyện Nghĩa Hưng góp phần vào việc quản

lý đạo đức cho học sinh trong tỉnh Nam Định và học sinh trong cả nước là một việc

làm cấp bách và thiết thực, thu hút sự nghiệp nghiên cứu của các nhà khoa học,



8



nhiều cán bộ quản lý. Đã có một số tác giả nghiên cứu về biện pháp quản lý giáo

dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông nhưng mới chỉ chuyên sâu vào một

lĩnh vực nhất định hoặc một khu vực địa lý nhất định; chưa có tác giả nào nghiên

cứu về biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông ở

huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định hoặc ở một địa bàn Huyện có vị trí địa lý, điều

kiện kinh tế - xã hội tương tự như ở huyện Nghĩa Hưng. Đó là nội dung chính mà

đề tài tiếp tục nghiên cứu để đưa vào áp dụng.

1.2. Một số khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài

1.2.1. Quản lý

Định nghĩa quản lý có thể xét từ nhiều góc độ và các quan điểm tiếp cận khác

nhau.

- Quản lý là sự đảm bảo hoạt động của hệ thống trong điều kiện có biến đổi

liên tục của hệ thống và môi trường, là chuyển hệ thống đến trạng thái mới thích

ứng với hoàn cảnh mới;

- Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm

việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã

định;

- Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, của chủ thể quản

lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng). Quản lý

về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính

sách, các nguyên tắc, các phương pháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi

trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng.

Theo từ điển tiếng Việt thông dụng, Nxb Giáo dục, 1998, thuật ngữ quản lý

được định nghĩa là: “Tổ chức, điều khiển của một đơn vị, cơ quan”.

Nghiên cứu về mặt quản lý có rất nhiều quan niệm khác nhau. Các quan niệm

này phản ánh những mặt, những chức năng cơ bản của quá trình quản lý, song về cơ

bản các quan niệm đều khẳng định đến chủ thể, đối tượng quản lý, nội dung phương

thức và mục đích của quá trình quản lý. Từ điển tiếng Việt “Quản lý là trông coi và

giữ gìn theo những yêu cầu nhất định”. Trong khía cạnh khác “Quản lý là tổ chức

và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. [20,tr .326].



9



Thuật ngữ quản lý (từ Hán Việt) nêu bản chất của hoạt động này trong thực

tiễn. Nó gồm hai mặt tích hợp vào nhau, quá trình “quản” gồm sự trông coi , giữ

gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; quá trình “lý” gồm sửa sang, sắp xếp, đưa vào thế

hệ “phát triển”.

Theo C.Marx: “Quản lý là lao động điều khiển lao động”.[20,tr.326] . C.Mác

đã coi việc xuất hiện quản lý như là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình

lao động cá biệt, tản mạn, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội được phối

hợp lại. C.Mác đã viết: “Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên

một quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt

động cá nhân… Một nhạc sỹ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc

thì phải có nhạc trưởng”. [20, tr .326].

Theo W.Taylor (1856 – 1915) thì “Quản lý là biết được chính xác điều bạn

muốn người khác làm ,và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một

cách tốt nhất và rẻ nhất”. Theo ông có bốn nguyên tắc quản lý khoa học:

1. Nghiên cứu một cách khoa học mỗi yếu tố của một công việc và xác định

phương pháp tốt nhất để hoàn thành;

2. Tuyển chọn người và huấn luyện họ hoàn thành nhiệm vụ bằng phương

pháp khoa học;

3. Người quản lý phải hợp tác đầy đủ, toàn diện với người bị quản lý để đảm

bảo chắc chắn rằng họ làm theo phương pháp đúng đắn;

4. Có sự phân công trách nhiệm rõ ràng giữa người quản lý và người bị quản

lý. [20, tr. 327]

Theo Henry Fayol (1841 – 1925) thì “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu

của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh

đạo) và kiểm tra”. Ông còn khẳng định “Khi con người lao động hợp tác thì điều tối

quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành và các

nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là mặt lưới dệt nên mục tiêu của tổ chức”[15,tr. 10].

Ông đã xuất phát từ nghiên cứu các loại hình hoạt động quản lý và phân biệt thành

năm chức năng cơ bản: “Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp, kiểm tra” và sau

này được kết hợp thành bốn chức năng cơ bản của quản lý: Kế hoạch, tổ chức, chỉ



10



đạo, kiểm tra. Ông đã đưa ra mười bốn nguyên tắc trong quản lý là: Phân công lao

động, quyền hạn, kỷ luật, thống nhất chỉ huy, thống nhất chỉ đạo, quyền lợi cá nhân

phải phục tùng quyền lợi chung, tiền lương xứng đáng, tập trung hoá, sợi dây quyền

hạn, trật tự, bình đẳng, ổn định đội ngũ, sáng kiến và tinh thần đồng đội… Những

cống hiến cảu ông về quản lý đã mang tính phổ quát cao và nhiều luận điểm đến

nay vẫn còn giá trị khoa học và thực tiễn [20, tr .327]

H.Koontz thì lại khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm

bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của

nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó

con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất

và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [20, tr. 327- 328]

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì định nghĩa kinh

điển nhất về quản lý là: tác động có chủ hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý

(người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đuợc mục đích của tổ chức. [10,tr .1]

Cũng theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc, hiện nay, hoạt

động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn: quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu

của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức,

chỉ đạo, (lãnh đạo) và kiểm tra. [10,tr .1]

Từ quan niệm của các học giả đã nêu, chúng ta có thể khái quát lại: “Quản lý

là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn

lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt

được mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất. [20, tr. 328]

Các chức năng cơ bản của quản lý: Chức năng quản lý là một dạng hoạt

động quản lý chuyên biệt, thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể

quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định. [27, tr. 66].

Có bốn chức năng quản lý cơ bản: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra.

Kế hoạch hoá: Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với

thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được

mục tiêu, mục đích đó. Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá: (a)



11



xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức; (b) xác định và đảm

bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được

các mục tiêu này và; (c) quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt

được các mục tiêu đó.

Tổ chức: Là quá trình hình thành nên cấu trúc quan hệ giữa các thành viên,

giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế

hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.

Lãnh đạo (chỉ đạo): Lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác

và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ

chức.

Kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng của quản lý, thông qua đó một cá nhân,

một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành

những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết.

1.2.2. Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục

Nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội, thực hiện các chức năng kiến

tạo các kinh nghiệm xã hội cho một nhóm dân cư nhất định của xã hội đó.

Trường học là tổ chức mang tính quyền lực Nhà nước – xã hội, trực tiếp làm

công tác giáo dục, đào tạo, thực hiện việc giáo dục cho thế hệ đang dần lớn lên.

Ngày nay nhà trường được thừa nhận rộng rãi như một thiết chế chuyên biệt của xã

hội để Giáo dục – Đào tạo thế hệ trẻ thành những người có tri thức, sức khoẻ, phẩm

chất chung của hệ thống giáo dục. Giáo dục nhà trường giữ vai trò trọng yếu tạo ra

sức lao động mới cho xã hội, đặc biệt là đòi hỏi lượng chất xám trong lao động

ngày càng cao.

Nhà trường, theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo : “Trường học là một thiết chế xã

hội trong đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai

nhân tố Thầy – Trò. Trường học là một bộ phận cộng đồng và trong guồng máy của

hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở.” [3, tr 63]

Nhà trường trong nền kinh tế công nghiệp không chỉ là thiết chế sư phạm

đơn thuần. Công việc diễn ra trong nhà trường có mục tiêu cao nhất là hình thành

“Nhân cách - Sức lao động”, phục vụ phát triển cộng đồng làm tăng cả nguồn vốn



12



con người (human capital), vốn tổ chức (organizational capital) và vốn xã hội

(social capital).“Nhà trường là vầng trán của cộng đồng” và đến lượt mình “cộng

đồng là trái tim của nhà trường”.[24, tr.210].

Quản lý nhà trường:GS.VS Phạm Minh Hạc đã đưa ra nội dung khái quát về

khái niệm quản lý nhà trường: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục

của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành

theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với

ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”.[20,tr. 373]

Quản lý nhà trường chính là những công việc mà người cán bộ quản lý nhà

trường thực hiện những chức năng quản lý để thực hiện các nhiệm vụ công tác của

mình. Đó chính là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ

thể quản lý tác động tới các hoạt động của nhà trường nhằm thực hiện các chức

năng, nhiệm vụ mà tiêu điểm là quá trình dạy và học.

Bản chất của công tác quản lý nhà trường là quá trình chỉ huy, điều khiển

vận động của các thành tố, đặc biệt là mối quan hệ giữa các thành tố. Mối quan hệ

đó là do quá trình sư phạm trong nhà trường qui định.

Quản lý nhà trường là tổ chức, chỉ đạo và điều hành quá trình giảng dạy của

thầy và hoạt động học tập của trò, đồng thời quản lý những điều kiện cơ sở vật chất

và công việc phục vụ cho dạy và học nhằm đạt được mục đích của giáo dục và đào

tạo.

Quản lý trực tiếp nhà trường bao gồm quản lý quá trình dạy học, giáo dục, tài

chính, nhân lực, hành chính và quản lý môi trường giáo dục. Trong đó quản lý dạy

học – giáo dục là trọng tâm. [20,tr .373]

Trong tác phẩm Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục, M.I.Kônđacốp

đã viết: “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh, chúng ta hiểu quản lý nhà

trường (công việc nhà trường) là một hệ thống xã hội – sư phạm chuyên biệt. Hệ

thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể

quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối

ưu về các mặt xã hội – kinh tế, tổ chức – sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục

thế hệ đang trưởng thành”. [20, tr. 373]



13



Trong quản lý và thực tiễn quản lý nhà trường gồm hai loại quản lý:

Một là: Quản lý của chủ thể bên trên và bên ngoài nhà trường nhằm định

hướng cho nhà trường, tạo điều kiện cho nhà trường hoạt động và phát triển (các

cấp quản lý nhà trường và sự hợp tác, giám sát của xã hội/cộng đồng).

Hai là: Quản lý của chính chủ thể bên trong nhà trường, hoạt động tổ chức

các chủ trương, chính sách giáo dục thành các kế hoạch hoạt động, tổ chức chỉ đạo

và kiểm tra để đưa nhà trường đạt tới những mục tiêu đã đề ra (thực hiện các chức

năng quản lý của một tổ chức).

Mục tiêu đề ra của nhà trường được cụ thể hoá trong kế hoạch năm học. Hiện

nay các nhà quản lý trường học quan tâm nhiều đến các thành tố mục tiêu, nội

dung, phương pháp, tổ chức quản lý và kết quả. Đó là các thành tố trung tâm của

quá trình sư phạm, nếu quản lý và tác động hợp quy luật sẽ đảm bảo một chất lượng

tốt trong nhà trường.

Quản lý giáo dục: P.V Khuđôminxky cho rằng: “Quản lý giáo dục là tác động

có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức, có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp

khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ GD – ĐT đến trường học) nhằm

đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển

toàn diện và hài hoà của họ trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật về giáo

dục, của sự phát triển thể chất và tâm lý của trẻ em”. [20, tr .341]

Theo GS.VS Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục nói

chung là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của

mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu

giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế hệ trẻ và đối với từng học

sinh”.

Theo GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc, TS Nguyễn Quốc Chí thì: “Quản lý giáo

dục là hoạt động có ý thức bằng cách vận dụng các quy luật khách quan của các cấp

quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt

được mục tiêu của nó”. [8, tr.12]

Quản lý giáo dục theo hướng tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các

lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển



14



xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục

không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người; tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo

dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục

quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân. [27, tr .65]

Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy học, có tổ

chức được hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ

thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục; tức là cụ thể hoá

đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu

của nhân dân, của đất nước. [27, tr. 65]

Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ

thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự

vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục

phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng. [27, tr. 65].

Theo GS –TS Nguyễn Ngọc Quang, quản lý giáo dục là hệ thống tác động có

mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống

vận hành theo đường lối giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà

trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy - học, giáo

dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.

[20, tr .341].

Từ những quan điểm trên, ta có thể hiểu: Quản lý giáo dục là quá trình tác

động có tổ chức và mang tính hệ thống của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý

nhằm đưa hoạt động của mỗi cơ sở giáo dục cũng như toàn bộ hệ thống giáo dục

đạt tới mục tiêu xác định. Đó là những tác động phù hợp quy luật khách quan,

hướng tới việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội.

Đặc điểm của quản lý giáo dục:Quản lý giáo dục vừa có những đặc điểm của

quản lý nói chung và vừa có những đặc điểm của riêng lĩnh vực quản lý giáo dục:

+ 5 đặc điểm của quản lý nói chung:

- Quản lý bao giờ cũng chia thành chủ thể quản lý và đối tượng bị quản lý

- Quản lý bao giờ cũng liên quan đến việc trao đổi thông tin và đều có mối

liên hệ ngược lại.



15



- Quản lý bao giờ cũng có khả năng thích nghi (luôn biến đổi).

- Quản lý vừa là khoa học, vừa là một nghề, vừa là một nghệ thuật.

- Quản lý gắn với quyền lực, lợi ích và danh tiếng.

+ Một số đặc điểm, đặc thù của Giáo dục – Đào tạo.

- Đặc điểm kết hợp quản lý hành chính và quản lý chuyên môn trong các hoạt

động quản lý giáo dục.

- Đặc điểm về tính quyền lực nhà nước trong hoạt động quản lý.

- Đặc điểm kết hợp Nhà nước – xã hội trong quá trình triển khai quản lý nhà

nước về giáo dục. [27, tr .66].

1.2.3. Đạo đức, giáo dục đạo đức, quản lý giáo dục đạo đức

Đạo đức: Khái niệm đạo đức trong đời sống hàng ngày là để nhận xét nhân

phẩm của mỗi người so với những chuẩn mực đạo đức xã hội, thể hiện trong quan

hệ giao tiếp ứng xử với mọi người xung quanh và so với bổn phận, trách nhiệm xã

hội đòi hỏi.

Các nhà nghiên cứu Đạo đức học phân tích khái niệm đạo đức là một hình

thái ý thức xã hội đặc trưng của xã hội loài người, nó có tính lịch sử xã hội, bị chế

ước, chi phối bởi những điều kiện khách quan của kinh tế xã hội, dân tộc, lịch sử.

Đạo đức có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển nhân cách con người trong các

thời kỳ lịch sử.

- “Đạo đức là quy tắc chung trong xã hội và hành vi của con người, quy định

những nghĩa vụ của người này đối với người khác và đối với xã hội. Đạo đức là

hình thái của ý thức xã hội… Chủ nghĩa Mác – Lê nin xây dựng quan điểm về đạo đức

và những yêu cầu của đạo đức không phải trên những định nghĩa chung và trừu tượng

mà trên những điều kiện lịch sử cụ thể. Không có đạo đức nào ở ngoài xã hội loài

người. Trong một xã hội có giai cấp, đạo đức có tính giai cấp. Những hình thức kết cấu

xã hội và cơ sở kinh tế mà biến đổi thì đạo đức cũng biến đổi theo”. [37, tr. 7]

Theo Phạm Khắc Chương và Hà Nhật Thăng trình bày trong cuốn Đạo đức

học – Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2001 thì “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là

tổng hợp những quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh



16



hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và tiến bộ

xã hội trong quan hệ với con người, giữa cá nhân và xã hội…”[37, tr. 7].

“Đạo đức theo nghĩa hẹp là luân lí, những quy định, những chuẩn mực ứng

xử trong quan hệ của con người.Nhưng trong điều kiện hiện nay chính quan hệ của

con người cũng đã mở rộng và đạo đức bao gồm những quy định, những chuẩn mực

ứng xử của con người với con người, với công việc, với bản thân kể cả với thiên

nhiên và môi trường sống…

Theo nghĩa rộng, khái niệm đạo đức liên quan chặt chẽ với phạm trù chính

trị, pháp luật, lối sống. Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ

mặt nhân cách đã được xã hội hoá. Đạo đức được biểu hiện ở cuộc sống tinh thần

lành mạnh, trong sáng, ở hành động góp phần giải quyết hợp lý, có hiệu quả những

mâu thuẫn trong cuộc sống. Khi thừa nhận đạo đức là một hình thái ý thức xã hội

thì đạo đức của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tầng lớp giai cấp trong xã hội

cũng phản ánh ý thức chính trị của họ đối với các vấn đề đang tồn tại”. [37, tr. 7]

“Chuẩn mực đạo đức là những phẩm chất đạo đức có tính chuẩn mực, được

nhiều người thừa nhận, được dư luận xã hội xác định như một đòi hỏi khách quan,

là thước đo giá trị cần có ở mỗi người, những chuẩn mực đạo đức ấy được coi như

mục tiêu giáo dục, rèn luyện ở mọi người ở nhiều bậc học, cấp học, lứa tuổi, ngành

nghề. Đồng thời chuẩn mực đạo đức lại có giá trị định hướng, chi phối, chế ước quá

trình nhận thức, điều chỉnh thái độ và hành vi của mỗi người”.[37,tr.8].

Giáo dục đạo đức : Giáo dục đạo đức là tổ chức tác động nhằm hình thành

cho con người những quan điểm cơ bản nhất, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn

mực đạo đức cơ bản của xã hội. Nhờ đó, con người sử dụng khả năng của mình để

lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức xã hội, cũng như tự đánh giá,

suy nghĩ hành vi của bản thân mình.

Giáo dục đạo đức là quá trình hoạt động làm biến hệ thống các chuẩn mực

đạo đức từ chỗ là những đòi hỏi bên ngoài của xã hội đối với cá nhân, thành những

đòi hỏi bên trong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen, của người được

giáo dục.



17



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (138 trang)

×