1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở HUYỆN NGHĨA HƯNG, TỈNH NAM ĐỊNH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.39 MB, 138 trang )


địa phương khác nhằm tăng thu nhập về kinh tế gia đình, trong số đó đã có một số

trường hợp mắc các tệ nạn xã hội trở về địa phương như nghiện hút, cờ bạc ..., có

nhiều xã số lượng này lên tới hàng trăm người.

Về Giáo dục - Đào tạo: Một số chỉ tiêu trong đề án phát triển giáo dục các

cấp của huyện đến năm 2010 đạt thấp. Chất lượng giáo dục – đào tạo nhất là giáo

dục đức dục cho học sinh còn nhiều hạn chế. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và

học còn khó khăn, thiếu thốn.

Công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân còn nhiều khó khăn cả về đội

ngũ và cơ sở vật chất khám, chữa bệnh. Quản lý nhà nước về hành nghề y dược, vệ

sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn còn nhiều bất cập.

Hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao chưa thường xuyên, quản lý

các dịch vụ văn hoá chưa chặt chẽ. Việc xây dựng các thiết chế văn hoá ở cơ sở còn

chậm và thiếu đồng bộ; khu vui chơi, giải trí cho các đối tượng còn thiếu thốn.

Làng xóm, gia đình đạt tiêu chuẩn văn hoá còn thấp.

Một số tệ nạn, hủ tục lạc hậu ở nông thôn vẫn còn tồn tại. Vệ sinh môi

trường đang bị ô nhiễm nghiêm trọng là một thách thức lớn. Sinh hoạt tôn giáo còn

vi phạm quy định pháp lệnh và pháp luật. [17,tr. 18].

2.1.2. Tình hình giáo dục (chủ yếu giáo dục trung học phổ thông)

Bảng 2.1: Quy mô trường, lớp, học sinh trung học phổ thông ở huyện Nghĩa Hưng



Năm học



Tổng

số

trường



Số lớp



Cán bộ quản lý, giáo

viên



Số học sinh



Trình độ

Công

lập



Dân

lập



Tổng

số



Công

lập



Dân

lập



Tổng

số



Tổng

số



Đạt

chuẩn

(%)



Trên

chuẩn

(%)



2007 – 2008



4



117



18



135



5.265



990



6.255



301



98,0



0,0



2008 – 2009



4



118



17



135



5.310



935



6.245



304



99,0



0,0



2009 – 2010



4



124



15



139



5.580



825



6.405



317



99,5



0,5



(Nguồn: Sở Giáo dục – Đào tạo Nam Định)



45



Bảng 2.2: Bảng xếp loại hạnh kiểm học sinh trung học phổ thông huyện Nghĩa Hưng

từ năm học 2007 – 2008 đến năm học 2009 – 2010

Hạnh kiểm

Tổng

STT



Năm học



Tốt



số học



Khá



Yếu



Trung bình



Số



Tỷ lệ



Số



Tỷ lệ



Số



Tỷ lệ



Số



Tỷ lệ



lượng



(%)



lượng



(%)



lượng



(%)



lượng



(%)



sinh



1



2007 - 2008



6.255



3.816



61,0



1.564



25,0



626



10,0



249



4,0



2



2008 - 2009



6.245



3.934



63,0



1.499



24,0



500



8,0



312



5,0



3



2009 - 2010



6.405



4.227



66,0



1.217



19,0



769



12,0



192



3,0



( Nguồn: Sở Giáo dục – Đào tạo Nam Định)

Bảng 2.3: Bảng xếp loại học lực học sinh trung học phổ thông huyện Nghĩa Hưng (từ

năm học 2007- 2008 đến năm học 2009 - 2010)

Học lực

Tổng

STT



Năm học



Giỏi



số

học

sinh



SL



Tỷ lệ

(%)



Khá

Tỷ

lệ



SL



Yếu



Trung bình



(%)



Tỷ

SL



lệ



Kém

Tỷ



SL



(%)



lệ



Tỷ

SL



(%)



lệ

(%)



1



2007 - 2008 6.255



244



3,9



2.940



47,0 2.001 32,0



938



15,0



131



2,1



2



2008 - 2009 6.245



281



4,5



3.060



49,0 2.186 35,0



625



10,0



93



1,5



3



2009 - 2010 6.405



314



3.267



51,0 2.370 37,0



429



6,7



25



0,4



4,9



(Nguồn : Sở Giáo dục – Đào tạo Nam Định)



46



Bảng 2.4: Thống kê chất lượng thi tốt nghiệp trung học phổ thông; thi học sinh giỏi cấp

tỉnh; thi tuyển sinh vào Đại học, cao đẳng năm học 2009 – 2010

Kết quả đỗ tốt nghiệp THPT

Số học sinh tốt

nghiệp



Kết quả xếp thứ tự thi

tuyển sinh đại học,

Xếp loại tốt nghiệp

cao đẳng



Tổng số



STT



Tỷ lệ

(%)



Giỏi



Khá



So với 41

trường

công lập

trong

tỉnh xếp

thứ



Trường THPT



So với

toàn

quốc xếp

thứ



Kết quả

xếp thứ

tự thi học

sinh giỏi

cấp tỉnh

(so với

41

trường

công lập)



1



A Nghĩa Hưng



632



100,0



18



169



11



156



5



2



B Nghĩa Hưng



436



100,0



10



108



15



178



16



3



C Nghĩa Hưng



546



99,8



4



54



32



447



18



4



Trần Nhân Tông



292



99,3



0



10



40



1673



40



(Nguồn : Sở Giáo dục – Đào tạo Nam Định và địa chỉ http://ktnd.net)

Trong sự phát triển chung của tỉnh Nam Định, ngành Giáo dục và Đào tạo

Nghĩa Hưng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Về phát triển quy mô: mạng

lưới giáo dục ở tất cả các cấp học không ngừng được mở rộng và phát triển đáp ứng

nhu cầu học tập của con em nhân dân trong huyện. Về chất lượng giáo dục: đối với

tất cả các ngành học, bậc học, cấp học đều được chỉ đạo, tạo điều kiện để đạt kết

quả cao. Cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học tiếp tục được tăng cường và ngày

càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Công tác phổ

cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở được duy

trì, củng cố một cách vững chắc, toàn huyện đang tích cực triển khai phổ cập giáo

dục bậc trung học. Đặc biệt, phong trào xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia đã đạt

kết quả rất tốt, đến tháng 6/2010 toàn huyện có 63 trường đạt chuẩn quốc gia ở tất

cả các cấp học thuộc các địa phương trong huyện (trong đó mầm non 17/26 trường,

tiểu học 33/33 trường, trung học cơ sở 12/26 trường, trung học phổ thông 01/05

trường); các hoạt động giáo dục thể chất, đạo đức, lối sống, văn hóa văn nghệ, thể



47



dục thể thao và phòng chống tệ nạn xã hội phát triển tích cực, góp phần quan trọng

vào mục tiêu giáo dục toàn diện. Công tác quản lý, chỉ đạo có nhiều đổi mới, sáng

tạo; các kỳ thi đã được tổ chức nghiêm túc, đúng quy chế, các trường trung học phổ

thông đã ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý và giảng

dạy.[17,tr.20].

Bên cạnh những thành tích đáng kể đã đạt được, Giáo dục và Đào tạo Nghĩa

Hưng vẫn còn những tồn tại, hạn chế. Một trong những tồn tại và hạn chế đó là vấn

đề đạo đức học sinh. Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế trên chủ yếu là:

- Việc xây dựng kế hoạch, tổ chức chỉ đạo và kiểm tra cơ chế phối hợp giữa

các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường của lãnh đạo chưa đáp ứng kịp sự

phát triển của xã hội trong giai đoạn hiện nay.

- Một bộ phận học sinh chưa xác định được lý tưởng sống, chưa xác định

động cơ học tập, rèn luyện. Các em đến trường với động cơ học tập không rõ ràng.

Một số em quan niệm đến trường chỉ để học chữ nên việc chấp hành nội qui, qui

định của nhà trường chưa nghiêm .

- Một số học sinh yếu về hạnh kiểm nhưng vẫn được xét lên lớp (ví dụ năm

học 2009 - 2010, trường trung học phổ thông A Nghĩa Hưng có 16 học sinh phải

rèn luyện đạo đức trong hè; trường trung học phổ thông B Nghĩa Hưng có 25 học

sinh phải rèn đạo đức trong hè nhưng không học sinh nào lưu ban vì đạo đức) (Phụ

lục 2). Một số học sinh bị kỷ luật lại xin được chuyển trường, đến trường mới thiếu

sự giám sát lại tiếp tục vi phạm kỷ luật (ví dụ 3 học sinh trường THPT A Nghĩa

Hưng bị kỷ luật từ khiển trách đến cảnh cáo vì mang hung khí đến trường và tham

gia đánh nhau, khi chuyển đến trường THPT Trần Nhân Tông lại tiếp tục mang

hung khí đến trường đánh nhau với học sinh cùng khối) . (Phụ lục 1)

- Một số học sinh “cậy thế”, thiếu tôn trọng giáo viên, thiếu trung thực trong

học tập, phát ngôn bừa bãi, thiếu suy nghĩ, đi học không chuyên cần, ý thức tập thể

không cao đã ảnh hưởng xấu đến những học sinh khác.

- Một bộ phận học sinh ý thức trách nhiệm kém, không chịu rèn luyện bản

thân, coi nhẹ phẩm chất đạo đức, có lối sống không lành mạnh, thiếu văn hóa, phi

đạo đức do ý thức không kiềm chế được bản năng. Vì vậy, trong những năm gần



48



đây một số học sinh đã có những hành vi phạm tội: bạo lực, trộm cắp, cờ bạc; một

số học sinh nữ phải bỏ học vì có thai (vì lý do tế nhị xin phép không nêu tên học

sinh; năm học 2008 -2009, trường trung học phổ thông A Nghĩa Hưng có 1 học sinh

nữ phải bỏ học vì có thai, đến tháng 10 năm 2010, trường THPT Trần Nhân Tông

có hai học sinh nữ phải bỏ học vì có thai và hai học sinh nam cùng trường có liên

quan với hai học sinh nữ đó cũng phải bỏ học). Trước thực trạng đạo đức của học

sinh có những biểu hiện không lành mạnh, việc đẩy mạnh giáo dục đạo đức cho học

sinh là vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa to lớn rất cần được chú trọng.

- Một số ít thầy cô giáo bị tác động của kinh tế thị trường, lơ là với sự nghiệp

giáo dục.

- Nhiều gia đình học sinh chưa quan tâm nhiều đến vấn đề giáo dục đạo đức

cho con cái, mải mê kiếm tiền phó mặc con cái cho nhà trường. Nhiều bậc cha mẹ

có quan tâm đến con nhưng lại quan tâm không đúng, không có phương pháp quản

lý giáo dục con đúng cách dẫn đến làm hư hỏng con.

2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng

- Đối tượng khảo sát: Cán bộ quản lý; giáo viên, cha mẹ học sinh, học sinh ở

các trường trung học phổ thông của huyện Nghĩa Hưng và các cán bộ cộng đồng.

- Mục tiêu khảo sát: Khảo sát, đánh giá thực trạng việc quản lý giáo dục đạo

đức cho học sinh ở các trường Trung học phổ thông huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam

Định, nhận thức của các đối tượng khảo sát về ý nghĩa, tầm quan trọng của giáo dục

đạo đức, quản lý giáo dục đạo đức,hiểu biết của các đối tượng khảo sát về nội dung,

phương pháp giáo dục đạo đức, mục tiêu, nội dung của quản lý giáo dục đạo đức.

- Địa bàn và thời điểm khảo sát: Khảo sát tại bốn trường trung học phổ

thông công lập của huyện Nghĩa Hưng, thời điểm khảo sát đến tháng 10 năm 2010.

- Phương pháp khảo sát: Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi; phương pháp

quan sát; phương pháp phỏng vấn; phương pháp tổng kết kinh nghiệm; phương

pháp chuyên gia…

Trên cơ sở khảo sát thực trạng, đề tài tổng hợp, đánh giá chất lượng giáo

dục đạo đức và chất lượng quản lý giáo dục đạo đức đồng thời tìm ra các nguyên

nhân ảnh hưởng tới quản lý giáo dục đạo đức, từ đó làm cơ sở cho việc đề ra các



49



biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học phổ thông ở

huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.

2.3. Kết quả khảo sát

2.3.1. Đánh giá thực trạng đạo đức học sinh trung học phổ thông ở huyện Nghĩa

Hưng (theo đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh)

Theo kết quả khảo sát ở bảng 2.5, những hành vi vi phạm đạo đức phổ biến

mà học sinh trung học phổ thông Huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định là (kết quả

lấy ý kiến từ 405 phiếu thăm dò học sinh trung học phổ thông trong huyện): Xem

băng đĩa cấm, chơi trò chơi điện tử (76,3%); không học bài, không thuộc bài, nói

chuyện và mất trật tự trong lớp (39,0 %); bỏ tiết, bỏ học(35,1%); đánh nhau trong

trường giữa lớp này với lớp khác(39%); gian lận trong thi cử,kiểm tra (35,1%); đua

xe, chạy xe máy lạng lách ngoài đường (32,1%); quậy phá, leo tường rào(33,6%);

Khi hỏi 250 các cán bộ, giáo viên và cha mẹ học sinh ở bốn trường trung học

phổ thông trong huyện Nghĩa Hưng về những hành vi vi phạm đạo đức phổ biến mà

học sinh trung học phổ thông huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định mắc phải, kết quả

đánh giá của giáo viên và cha mẹ học sinh về các hành vi vi phạm đạo đức phổ

biến của học sinh lại ít hơn so với đánh giá của học sinh ở những hành vi trên, cụ

thể: không học bài, không thuộc bài, nói chuyện và mất trật tự trong lớp (20,0%);

bỏ tiết, bỏ học(16,8%); đánh nhau trong trường giữa lớp này với lớp khác(14,8%);

gian lận trong thi cử, kiểm tra (11,0 %); đua xe,chạy xe máy lạng lách ngoài đường

(18,8%); trộm cắp trong trường và ở gia đình ( 18,8%); quậy phá, leo tường

rào(20,0%); không tham gia các hoạt động xã hội (29,2%).

Các chuẩn đạo đức mà học sinh coi trọng hơn cả là những phẩm chất thể hiện đạo

lý làm người, tôn trọng quan hệ giữa con người với con người như kính trọng thầy

cô giáo, quan hệ yêu đương, quan hệ bạn bè đúng mực. Các chuẩn mực đạo đức bị

học sinh coi nhẹ hơn cả là những giá trị liên quan đến quyền và nghĩa vụ công dân,

tham gia các hoạt động xã hội.

Tuy nhiên một số hành vi vi phạm đạo đức của học sinh, theo kết quả tự

đánh giá của các em lại chênh lệch đáng kể so với kết quả đánh giá của các cán bộ

quản lý, các thầy cô giáo và các bậc cha mẹ học sinh.



50



Ví dụ: Có 76,3 % học sinh được hỏi cho rằng học sinh có biểu hiện xem

băng đĩa cấm, chơi trò chơi điện tử trong khi chỉ có 44,8 % số giáo viên và cha mẹ

học sinh được hỏi cho rằng học sinh trung học phổ thông trong huyện Nghĩa Hưng

có hành vi này.

Bảng 2.5: Những biểu hiện không lành mạnh của học sinh trung học phổ thông huyện Nghĩa Hưng.



ST

T



Những biểu hiện không

lành mạnh



1



Bỏ tiết, bỏ học

Nói chuyện và mất trật tự

trong lớp, không học bài,

không thuộc bài

Không tham gia các hoạt

động tập thể, hoạt động xã

hội

Hỗn láo với thầy cô, cha

mẹ, người lớn tuổi

Đánh nhau trong trường

giữa lớp này với lớp khác.

Có hiện tượng nữ đánh

nhau, xé cả quần, áo bạn

(mặc áo dài đánh nhau)

Đánh nhau ngoài trường có

kéo nhóm, có hung khí (gậy

gộc, mã tấu)

Hút thuốc lá, uống rượu

bia…

Trộm cắp trong trường và ở

gia đình.

Gian lận trong thi cử, kiểm

tra

Nhuộm tóc màu

Đua xe, chạy xe máy lạng

lách ngoài đường

Yêu đương và quan hệ

không đúng mực bất kể nơi

công cộng (hôn nhau trước

nhiều người).

Có hiện tượng phá thai.

Quậy phá, leo tường rào.

Xem băng đĩa cấm, chơi trò

chơi điện tử.



2



3

4

5

6



7

8

9

10

11

12



13

14

15

16



Biểu hiện ở số ít học sinh

Ý kiến của

Tự đánh giá

giáo viên

của học sinh

Số

%

Số

%

lượng

lượng

208 83,2 263 64,9



Biểu hiện phổ biến ở học sinh

Ý kiến của

Tự đánh giá

giáo viên

của học sinh

Số

%

Số

%

lượng

lượng

42

16,8 142 35,1



200



80,0



247



61,0



50



20,0



158



39,0



177



70,8



271



66,9



73



29,2



134



33,1



235



94,0



344



84,9



15



6,0



61



15,1



213



85,2



247



61,0



37



14,8



158



39,0



215



86,0



333



82,2



35



14,0



72



17,8



218



87,2



348



85,9



32



13,0



57



14,1



168



67,2



344



84,9



82



32,8



61



15,1



203



81,2



358



88,4



47



18,8



47



11,6



223



89,2



263



64,9



27



11,0



142



35,1



200



80,0



310



76,5



50



20,0



95



23,5



203



81,2



275



67,9



47



18,8



130



32,1



230



92,0



316



78,0



20



8,0



89



22,0



242

200



96,8

80,0



328

269



81,0

66,4



8

50



3,2

20,0



77

136



19,0

33,6



138



55,2



96



23,7



112



44,8



309



76,3



51



Qua trình bày ở trên cho ta thấy hiện tượng đạo đức của học sinh có cái nhìn

khác nhau và học sinh thấy hành vi đạo đức của mình xuống cấp rõ hơn người

ngoài nhìn vào. Học sinh thừa nhận đang xuống cấp về đạo đức. Điều này còn được

thể hiện qua quan niệm của 250 cán bộ, giáo viên và cha mẹ học sinh (bảng 2.6).

Kết quả khảo sát ở bảng 2.6 cho thấy đạo đức học sinh có những biểu hiện rất đáng

lo ngại (5,2% số ý kiến); đạo đức học sinh có những biểu hiện đáng lo ngại (9,2%

số ý kiến); có 70,8% số ý kiến được hỏi cho rằng đạo đức học sinh có những biểu

hiện bình thường.



Bảng2.6: Đánh giá của cán bộ, giáo viên, cha mẹ học sinh về tình hình

đạo đức học sinh trung học phổ thông huyện Nghĩa Hưng.

TT



Quan niệm



Số ý kiến



Tỉ lệ %



1



Đạo đức học sinh có những biểu hiện

suy thoái



2



Đạo đức học sinh có những biểu hiện

bình thường



177



70,8



3



Đạo đức học sinh có những biểu hiện

rất đáng lo ngại



13



5,2



4



Đạo đức học sinh có những biểu hiện

đáng lo ngại



23



9,2



Tổng



250



100,0



37



14,8



2.3.2. Nhận thức của các đối tượng khảo sát về

2.3.2.1. Ý nghĩa, tầm quan trọng của giáo dục đạo đức, quản lý giáo dục đạo đức

Qua khảo sát 405 phiếu từ các em học sinh THPT ở các trường khác nhau

trong huyện Nghĩa Hưng và các khối lớp khác nhau, kết quả cho thấy đa số các em

đều có quan niệm đúng đắn về giáo dục đạo đức: Các em đều nhận thức được rằng

tu dưỡng đạo đức và học văn hoá quan trọng như nhau (96%). (bảng 2.7)



52



Bảng 2.7: Quan niệm của học sinh về tầm quan trọng của rèn luyện đạo đức

TT



Quan niệm



Số ý kiến



Tỉ lệ %



1



Học văn hóa quan trọng hơn tu dưỡng đạo đức.



8



2,0



8



2,0



389



96,0



405



100,0



2



3



Tu dưỡng đạo đức quan trọng hơn học văn

hóa:

Tu dưỡng đạo đức và học văn hóa quan trọng như

nhau

Tổng



Khảo sát 250 cán bộ quản lý, giáo viên, công nhân viên, cha mẹ học sinh và

cán bộ cộng đồng, kết quả thu được cũng tương đồng với kết quả khảo sát từ học

sinh trong huyện. Hỏi về tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức; các thầy, cô

giáo; cha mẹ học sinh ở bốn trường THPT trong huyện đã nhất trí cao với quan

niệm giáo dục đạo đức và dạy văn hóa quan trọng như nhau.(bảng 2.8)

Bảng2.8: Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của mục tiêu giáo dục đạo đức:

TT



Quan niệm



Số ý kiến



Tỉ lệ %



1



Dạy văn hóa quan trọng hơn giáo dục đạo đức



5



2,0



2



Giáo dục đạo đức quan trọng hơn dạy văn hóa



5



2,0



3



Giáo dục đạo đức và dạy văn hóa quan trọng như nhau



240



96,0



2.3.2.2. Nhận thức về mục tiêu giáo dục đạo đức đối với các em học sinh trung học

phổ thông huyện Nghĩa Hưng

Mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh là cung cấp kiến thức, kỹ năng và

hình thành thái độ. Cung cấp kiến thức về các chuẩn mực đạo đức xã hội; giáo dục

phát triển xúc cảm, tình cảm, niềm tin đạo đức, giúp học sinh hướng tới chân, thiện,

mỹ; rèn luyện hành vi ứng xử, giao tiếp phù hợp với các chuẩn đạo đức.



53



Bảng 2.9: Nhận thức của học sinh về mục tiêu của giáo dục (rèn luyện) đạo đức

Quan niệm



TT

1



Số ý kiến



Tỉ lệ %



12



3,0



16



4,0



12



3,0



365



90,0



405



100,0



Cung cấp kiến thức về các chuẩn mực đạo

đức xã hội.



2



Giáo dục phát triển xúc cảm, tình cảm, niềm

tin đạo đức, giúp học sinh hướng tới chân,

thiện, mỹ.



3



Rèn luyện hành vi ứng xử, giao tiếp phù hợp

với các chuẩn đạo đức.



4



Cả ba nội dung trên.

Tổng



Kết quả khảo sát ở bảng 2.9 cho ta thấy đa số học sinh THPT ở huyện Nghĩa

Hưng đã có nhận thức đúng đắn về mục tiêu giáo dục đạo đức; các em đã nhận thấy

mình cần được cung cấp kiến thức về các chuẩn mực đạo đức xã hội; được giáo dục

phát triển xúc cảm, tình cảm, niềm tin đạo đức, giúp học sinh hướng tới chân, thiện,

mỹ; được rèn luyện hành vi ứng xử, giao tiếp phù hợp với các chuẩn đạo đức. Khi

hỏi 250 các thầy, cô giáo; cha mẹ học sinh về yêu cầu giáo dục đạo đức cho học

sinh là: Cung cấp kiến thức; rèn luyện hành vi đạo đức; giáo dục thái độ, tình cảm

đạo đức, thì đa số các ý kiến trả lời cho rằng ba yêu cầu đó quan trọng gần như

nhau, tỉ lệ số phiếu chênh lệch ở các yêu cầu không đáng kể.

Để kiểm chứng nhận thức về mục tiêu giáo dục đạo đức, tác giả luận văn đề

nghị các đối tượng khảo sát xếp thứ tự tầm quan trọng của ba yêu cầu cung cấp kiến

thức, rèn luyện hành vi đạo đức, giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức. Kết quả thu

được ở bảng 2.10 ta thấy các đối tượng khảo sát cho rằng cả ba yêu cầu quan trọng

như nhau..



54



Bảng 2.10: Nhận thức của cán bộ quản lý,giáo viên,cha mẹ học sinh về các mục tiêu

giáo dục đạo đức

Quan trọng nhất Quan trọng nhì Quan trọng ba

TT



Ba yêu cầu giáo dục đạo đức



Số ý

kiến



tỉ lệ %



Số ý

kiến



tỉ lệ %



Số ý



tỉ lệ



kiến



%



1



Cung cấp kiến thức.



85



34



70



28



95



38



2



Rèn luyện hành vi đạo đức.



83



33,2



78



31,2



89



35,6



3



Giáo dục thái độ, tình cảm đạo đức



98



39,2



55



22



97



38,8



Từ kết quả khảo sát này, các nhà quản lý cần có trách nhiệm chỉ đạo những

người làm nhiệm vụ giáo dục đạo đức cung cấp cho học sinh những kiến thức,

những kinh nghiệm xã hội của loài người đã được khái quát hoá và hệ thống hoá,

tức là những khái niệm, những phán đoán, đánh giá, niềm tin, lý tưởng …trong các

lĩnh vực khác nhau của cuộc sống, trong quan hệ gia đình, quan hệ tình bạn, tình

yêu, và trong học tập. Từ đó các em hình thành quyết tâm rèn luyện, tu dưỡng, nâng

mình ngang với tầm cao thời đại. Hơn nữa, học sinh THPT với tư cách là một bộ

phận dân cư có học vấn cao, được tiếp thu một sự giáo dục tiến bộ, hoàn chỉnh

trong hệ thống nhà trường thì càng phải cần rèn luyện và thể hiện sự giao tiếp có

đạo đức, có văn hoá ở mọi nơi, mọi lúc.

2.3.2.3. Các lực lượng xã hội đã tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh:

Khảo sát 405 học sinh ở trong 4 trường THPT trong huyện Nghĩa Hưng về

sự ảnh hưởng của các cá nhân và các tổ chức xã hội tham gia giáo dục đạo đức, kết

quả khảo sát ở bảng 2.11 cho thấy các lực lượng sau đây có ảnh hưởng đến giáo

dục đạo đức và số ý kiến: Cha mẹ học sinh (95,8%); giáo viên dạy các môn

(93,6%); giáo viên chủ nhiệm lớp 94,1%), hiệu trưởng; phó hiệu trưởng (90,1%);

Đoàn thanh niên của trường 89,1%. Ở huyện Nghĩa Hưng, các cấp chính quyền (xã,

phường, cộng đồng dân cư), các hội quần chúng (hội phụ nữ Huyện…); các cơ sở

kinh tế, sản xuất, các cơ quan văn hóa thông tin, báo chí; phụ trách các viện bảo



55



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (138 trang)

×