1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KỸ NĂNG Ở TRƯỜNG THPT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.39 MB, 122 trang )


1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1. Quản lý

1.2.1.1. Khái niệm quản lý

Sử gia Daniel A. Wren đã nhận xét rằng: “QL cũng xưa cũ như chính

con người vậy”, tuy nhiên, chỉ mới gần đây người ta mới chú ý đến “chất

khoa học” của quá trình QL và dần dần hình thành nên các “lý thuyết” QL.

Có nhiều cách tiếp cận nên có nhiều quan niệm khác nhau về QL.

Theo Từ điển Tiếng Việt: “QL là trông coi và giữ gìn theo những yêu

cầu nhất định”. Trong khía cạnh khác “QL là tổ chức và điều khiển các hoạt

động theo các yêu cầu nhất định” [18, tr.991]

Theo C.Mac, “QL là lao động điều khiển lao động”. C.Mác viết: “Bất cứ

lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có

một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động của cá nhân… Một nhạc sỹ độc

tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng”.

Fridrick Winslow Taylo đưa ra định nghĩa: “QL là biết được chính xác

điều mà bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn

thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [33, tr.237].

Henry Fayol thì khẳng định rằng, khi con người lao động hợp tác thì họ cần

phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành. Ông đã phân biệt thành 5

chức năng cơ bản của QL là KH hóa, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và KT và sau

này được kết hợp lại thành 4 chức năng cơ bản của QL: KH, tổ chức, chỉ đạo và

KT. Nhiều luận điểm của ông đến nay vẫn còn giá trị khoa học và thực tiễn.

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, QL gồm hai quá trình tích hợp nhau: Quá

trình quản gồm coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái ổn định; quá

trình lý là sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ thống vào thế phát triển [23].

Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động QL là tác

động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL đến khách thể QL trong một

tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được MT của tổ chức” [42].

6



Các quan niệm trên đều khẳng định đến chủ thể, đối tượng, nội dung,

phương thức và mục đích của quá trình QL: Phải có chủ thể QL là tác nhân

tạo ra các tác động và đối tượng bị QL tiếp nhận sự tác động của chủ thể QL.

Giữa chủ thể và khách thể QL có mối quan hệ tác động qua lại hỗ trợ lẫn nhau,

có MT và một quỹ đạo đặt ra cho chủ thể và đối tượng QL.

Có thể khái quát lại: “QL là hoạt động có ý thức của con người nhằm

định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hoạt động của một

nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được MT đề ra một cách có

hiệu quả nhất” [33, tr.328].

1.2.1.2. Chức năng quản lý

QL bao gồm các chức năng sau:

- Dự báo và lập KH là một chức năng cơ bản của QL, trong đó phải xác

định những vấn đề như nhận dạng và phân tích tình hình, bối cảnh; dự báo các

khả năng; lựa chọn và xác định các MT, mục đích và hoạch định con đường,

cách thức, biện pháp để đạt được MT, mục đích; các nguồn lực để đạt tới các

MT. Dự báo và lập KH có vai trò định hướng cho toàn bộ hoạt động của quá

trình QL; là căn cứ cho việc KT-ĐG quá trình thực hiện MT của tổ chức.

- Tổ chức là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn lực theo những cách

thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt các MT đã đề ra; đó cũng là một quá

trình triển khai, điều phối các công việc, các mối quan hệ để thực hiện một

công việc.

Cấu trúc tổ chức là tổng hợp các bộ phận, đơn vị và cá nhân khác nhau

có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau được chuyên môn hoá, có quyền hạn và trách

nhiệm nhất định được bố trí theo các cấp và các khâu khác nhau, nhưng cùng

nhằm bảo đảm thực hiện các chức năng QL, cùng hướng vào đích chung.

Tổ chức thực hiện KH, thực chất là xác định câu trả lời cho câu hỏi ai

làm, phân công phân nhiệm như thế nào và điều phối công việc, lực lượng ra

sao để hoàn thành KH, đạt MT dự kiến.



7



- Lãnh đạo/Chỉ đạo là quá trình điều khiển, tác động, gây ảnh hưởng

tới hành vi, thái độ của những người bị QL nhằm đạt tới các MT mà người

QL đã định. Lãnh đạo/chỉ đạo gồm: (1) Thực hiện quyền chỉ huy (giao

việc) và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ, (2) Thường xuyên đôn đốc,

động viên và kích thích, (3) Giám sát và điều chỉnh, (4) Thúc đẩy các hoạt

động phát triển. Người QL cần tạo điều kiện thuận lợi giúp cho các đối

tượng đạt tới các MT với chất lượng cao, đồng thời có biện pháp để biến

yêu cầu chung thành nhu cầu của các thành viên, động viên mọi người tích

cực, tự giác làm việc.

- KTĐG là một chức năng của QL nhằm theo dõi, giám sát các thành

quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn cần thiết.

Đó là quá trình tự điều chỉnh, diễn ra có tính chu kỳ. Người QL đặt ra

những chuẩn mực thành đạt của hoạt động, đối chiếu đo lường kết quả sự

thành đạt so với MT, chuẩn mực đặt ra. KT-ĐG giúp cho người QL biết

được mọi người thực hiện các nhiệm vụ ở mức độ nào, đồng thời cũng

biết được các quyết định QL ban hành có phù hợp hay không, trên cơ sở

đó mà điều chỉnh các hoạt động, thậm chí phải hiệu chỉnh, sửa chữa lại

những chuẩn mực cần thiết.

Quá trình QL được thể hiện bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1. Các chức năng trong chu trình QL

KHDH



Kiểm tra



Thông tin



Tổ chức



Chỉ đạo



Quá trình QL được diễn ra tuần tự từ chức năng lập KH đến các chức

năng tổ chức, chỉ đạo và KT. Thực tế thì các chức năng này đan xen, hỗ trợ

8



lẫn nhau trong quá trình thực hiện. Chất xúc tác và liên kết các chức năng này

là thông tin QL và các quyết định QL.

1.2.2. Quản lý giáo dục

QLGD là một khoa học chuyên ngành, được nghiên cứu trên nền tảng

của khoa học QL nói chung. Sau đây là một số khái niệm về QLGD.

Nghị quyết lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng CS Việt Nam

khóa 8: “QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể QL tới khách thể QL

nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống GD đạt tới kết quả mong muốn

bằng cách hiệu quả nhất” [2].

Theo tác giả Trần Kiểm, QLGD là những tác động có hệ thống, có KH,

có ý thức và hướng đích của chủ thể QL ở mọi cấp độ khác nhau đến tất cả

các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo cho sự hình

thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở quy luật của quá trình GD về sự

phát triển thể lực, trí lực và tâm lực trẻ em [41].

Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: QLGD là hệ thống tác động có

mục đích, có KH, hợp quy luật của chủ thể QL, nhằm làm cho hệ thống vận

hành theo đường lối GD của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà

trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình DH, GD thế hệ trẻ,

đưa hệ GD đến MT dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất… [46].

Các khái niệm trên đều phản ảnh bản chất của QLGD, đó là: Sự tác động

có tổ chức, có định hướng, phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể QL ở

các cấp lên đối tượng QL nhằm đưa hoạt động GD đạt được MT đã định.

Ở cấp độ vi mô, QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác

của chủ thể QL đến tập thể GV, nhân viên, tập thể HS, cha mẹ HS và các lực

lượng trong xã hội nhằm đạt được MT GD.

Tóm lại, QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có KH, hợp

quy luật của chủ thể QL trong hệ thống GD; là sự điều hành hệ thống GD

quốc dân, các cơ sở GD nhằm thực hiện nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,

bồi dưỡng nhân tài; là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội

nhằm đẩy mạnh công tác GD theo yêu cầu phát triển xã hội.

9



1.2.3. Quản lý nhà trường THPT và Quản lý hoạt động dạy học

1.2.3.1. Quan niệm về nhà trường

“Nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội thực hiện chức năng tạo

nguồn cho các yêu cầu của xã hội, đào tạo các công dân tương lai. Với tư cách

là một tổ chức GD cơ sở vừa mang tính GD, vừa mang tính xã hội trực tiếp đào

tạo thế hệ trẻ, nó là tế bào chủ chốt của bất kỳ hệ thống GD nào từ trung ương

đến địa phương” [22, tr.151].

Do có nhiệm vụ là trang bị cho HS những kiến thức về khoa học nên

GD nhà trường trội về phát triển trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học và

hệ thống giá trị định hướng cho hình thành và phát triển nhân cách.

Nhà trường Việt Nam là nhà trường phát triển theo định hướng XHCN.

Điều 3 Luật Giáo dục năm 2005 quy định: Hoạt động của nhà trường theo

nguyên lý học đi đôi với hành, GD kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn

với thực tiễn, GD nhà trường gắn với GD gia đình và xã hội [1].

Về cơ cấu tổ chức, theo Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung

học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học, các trường phổ thông

công lập gồm có các tổ chức sau:

Sơ đồ 1.2. Cơ cấu tổ chức nhà trường

Hội đồng trường



Chi bộ đảng nhà trường

Công đoàn trường



Lãnh đạo trƣờng



Ban đại diện

cha mẹ HS



Đoàn thanh niên CSHCM

Các tổ chuyên môn



Tổ văn phòng

Các lớp học



Quan hệ lãnh đạo



Quan hệ quản lý



Quan hệ phối hợp



Nguồn: Phạm Viết Nhụ. Hệ thống thông tin quản lý giáo dục



10



1.2.3.2. Quản lý nhà trường

QL nhà trường là một bộ phận của QLGD. Theo M.I.Kônđacốp:

“Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh, chúng ta hiểu QL nhà trường là

một hệ thống xã hội - sư phạm chuyên biệt. Hệ thống này đòi hỏi những tác

động có ý thức, có KH và hướng đích của chủ thể QL đến tất cả các mặt của

đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt xã hội kinh tế, tổ chức - sư phạm của quá trình DH và GD thế hệ đang trưởng thành”

[33, tr.373].

Theo tác giả Phạm Minh Hạc thì “việc QL nhà trường phổ thông là QL

hoạt động dạy và học, tức làm sao cho hoạt động đó từ trạng thái này sang

trạng thái khác dần dần tiến tới MT GD”. Theo ông, là đưa nhà trường vận

hành theo nguyên lý GD, để tiến tới MT GD, MT đào tạo đối với ngành GD,

với thế hệ trẻ và từng HS [46].

Tác giả Trần Kiểm: “QL trường học là một hệ thống các tác động sư phạm

hợp lý có hướng đích của chu thể QL đến tập thể GV, HS và các lực lượng xã

hội trong và ngoài nhà trường, huy động và phối hợp sức lực, trí tuệ của họ vào

mọi mặt hoạt động của nhà trường hướng vào hoàn thành có chất lượng và hiệu

quả MT dự kiến”.

Có thể khái quát lại, QL nhà trường phổ thông thực chất là tác động có

định hướng, có KH của chủ thể QL lên tất cả các nguồn lực, làm cho các thành

tố của hệ thống vận hành, gắn kết chặt chẽ với nhau, đẩy mạnh các hoạt động

của nhà trường theo nguyên lý GD để tiến tới MT GD.

Theo nghĩa hẹp, QL nhà trường có thể hiểu là QL tất cả những hoạt

động diễn ra trong nhà trường, đảm bảo đưa chất lượng giáo dục, đào tạo của

nhà trường từ trạng thái này sang trạng thái khác nhằm đạt được MT phát

triển GDĐT của cấp học THPT đã xác định của nhà trường.

QL trực tiếp trường học bao gồm QL quá trình DH, GD, tài chính, nhân

lực, hành chính và QL môi trường GD. Trong đó QL dạy học - giáo dục là

11



trọng tâm. Hiện nay, các nhà QL trường học quan tâm nhiều đến các thành tố

MT, nội dung, phương pháp, tổ chức và QL kết quả. Có thể nhận thức trực

quan về QL nhà trường qua mô hình sau :

Hình 1.1. Mô hình QL nhà trường theo mục tiêu GD.

Người dạy



Quá trình dạy-học/GD



Người học



Mục tiêu

GD

Tổ chức/hành chính



Chương trình/PP GD



Cơ sở vật chất/tài chính



(Nguồn: Trần Khánh Đức. Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực

trong thế kỷ XXI)

1.3. Hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học ở trƣờng trung học

phổ thông

1.3.1. Quá trình dạy học

Theo tác giả Phạm Viết Vượng, “Bản chất của quá trình DH là quá

trình nhận thức độc đáo của HS, là quá trình hoạt động của hai chủ thể,

trong đó dưới sự tổ chức, hướng dẫn và điều khiển của GV, HS nhận thức lại

nền văn minh nhân loại và rèn luyện hình thành kỹ năng hoạt động, tạo lập

thái độ sống tốt đẹp” [47, tr.58].

Quá trình DH là một quá trình xã hội, quá trình sư phạm đặc thù, là một

hệ thống toàn vẹn, gồm ba thành tố cơ bản: tri thức khoa học, học và dạy. Tri

thức khoa học là yếu tố khách quan quyết định logic của HĐDH, là đối

tượng của sự lĩnh hội bởi học trò. Hoạt động học quy định về mặt logic của

quá trình DH về mặt lý luận. Dạy phải xuất phát từ tính khoa học của tri thức



12



và sự lĩnh hội của HS để tổ chức hoạt động cộng tác giữa GV, HS giúp HS

phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, hình thành và phát triển nhân cách.

Trong HĐDH có một quá trình quan trọng là quá trình nhận thức. Con

đường nhận thức là từ cụ thể đến trừu tượng, từ đơn giản đến khái quát và

ngược lại. Quá trình nhận thức của HS là quá trình phản ánh thế giới khách

quan vào bộ óc của mình. Quá trình nhận thức của HS là quá trình độc đáo.

Đó là sự tái tạo nguồn tri thức của loài người trong mỗi HS. Nhờ có sự

hướng dẫn, giúp đỡ của người thầy mà HS không phải trải qua con đường

quanh co để nhận thức những tri thức mà nhân loại đã tích lũy qua nhiều thế

hệ. Sự độc đáo của quá trình nhận thức của HS còn thể hiện ở tính GD của

nó, nghĩa là trong quá trình nhận thức, thông qua việc nắm tri thức, kỹ năng,

kỹ xảo, phát triển trí tuệ, HS hình thành dần cơ sở thế giới quan khoa học và

bồi dưỡng phẩm chất nhân văn của con người [47].

1.3.2. Hoạt động dạy học

Theo thuyết hoạt động, DH gồm hai hoạt động: Hoạt động dạy của thầy

và hoạt động học của trò. Hai hoạt động này luôn gắn bó với nhau, tồn tại

trong một quá trình thống nhất.

Hoạt động dạy: Là sự tổ chức, điều khiển quá trình lĩnh hội tri thức,

hình thành và phát triển nhân cách HS. Vai trò chủ đạo của hoạt động dạy

được biểu hiện với ý nghĩa là tổ chức và điều khiển hoạt động học tập của

HS, giúp HS hình thành các kỹ năng, thái độ để tiếp nhận các kiến thức có

hiệu quả. Hoạt động dạy có chức năng kép là truyền đạt, tiếp nhận thông tin

ngược và điều khiển hoạt động học.

Hoạt động học: Là quá trình HS tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh tri

thức khoa học, hình thành cấu trúc tâm lý mới, phát triển nhân cách. Vai trò

tự điều khiển của hoạt động học thể hiện ở sự tự giác, tích cực, chủ động

sáng tạo dưới sự tổ chức, điều khiển, hướng dẫn của thầy. Khi chiếm lĩnh tri

thức, HS đồng thời đạt được ba mục đích, đó là: tiếp nhận tri thức khoa học,

13



phát triển năng lực trí tuệ và hình thành phẩm chất, nhân cách. Hoạt động

học có hai chức năng: lĩnh hội và điều khiển quá trình chiếm lĩnh tri thức,

các khái niệm một cách tự giác, tích cực. Nội dung hoạt động học bao gồm

hệ thống khái niệm của môn học, phương pháp đặc trưng của bộ môn để biến

tri thức của nhân loại thành những kiến thức của bản thân, hình thành và phát

triển năng lực của con người theo đúng MT GD.

Như vậy, HĐDH là một trong những hoạt động giao tiếp sư phạm mang

ý nghĩa xã hội. Các chủ thể của HĐDH tiến hành các hoạt động khác nhau,

nhưng không đối lập nhau mà song song tồn tại và phát triển trong một quá

trình thống nhất, cùng hướng đến MT chung, đó là sự biến đổi của người học

về nhận thức, kỹ năng và thái độ. Kết quả học tập của HS được ĐG không

chỉ là kết quả của hoạt động học mà còn là kết quả của hoạt động dạy.

Tóm lại, DH là quá trình hoạt động cộng đồng hợp tác giữa thầy với

HS, giữa HS với HS. Dạy tốt, học tốt là đảm bảo sự thống nhất của điều

khiển, bị điều khiển, tự điều khiển và mối liên hệ ngược thường xuyên, bền

vững [47].

1.3.3. Quy trình dạy học

1.3.3.1. Khái niệm quy trình

Quy trình là trình tự phải tuân theo để tiến hành một công việc nào đó [18,

tr.1008]. Nói cách khác, quy trình là thứ tự các bước tiến hành các hoạt động,

công việc trong một quá trình phù hợp với điều kiện và kĩ thuật hiện có.

1.3.3.2. Quy trình dạy học

Quy trình DH là thứ tự các bước tiến hành các HĐDH, phù hợp với

điều kiện và kĩ thuật hiện có nhằm đạt được MT DH. Theo tác giả Nguyễn

Đức Chính, quy trình DH có các bước sau (sơ đồ 1.3):

BƢỚC 1: CHUẨN BỊ. Đây là bước có ý nghĩa quyết định sự thành

công của hoạt động GD cũng như quá trình DH. Bước này gồm các khâu:

- Phân tích nhu cầu. Phân tích nhu cầu nhằm tới các đối tượng sau:

14



+ Nghiên cứu mối quan hệ giữa môn học với các môn học khác để xác

định được vị trí và mối quan hệ giữa các môn trong CT, nhằm sắp xếp các

MT theo một trình tự logic, khoa học.

Sơ đồ 1.3. Quy trình thiết kế quá trình DH

Vị trí môn học



Kiến thức nền

Hứng thú

Công

cụ



Đối tượng

Phong cách



Phân tích

nhu cầu



Nhu cầu xã hội



Kỳ vọng



Cơ sở VC-KT



CHUẨN

BỊ



Xác định

mục tiêu môn

học/ bài học



Tổ chức nội

dung, T.bị, PP,

C.cụ



KHDH



Mục tiêu (KT, KN, TĐ)

Nội dung DH

KHDH bài

dạy/ giáo án



Ở nhà

Hình thức tổ chức DH



THỰC

THI



Trên lớp



Chuẩn bị môi

trường

DH



Phương pháp DH

KTĐG



Đ.GIÁ,

CẢI

TIẾN



Ghi chép

KHDH cải tiến



+ Tìm hiểu những thông tin về người học để xác định nội dung DH

hoặc có những biện pháp tác động phù hợp nhằm điều chỉnh những mong

đợi, thái độ tiêu cực của HS.

15



+ Các nhu cầu của xã hội đối với người học sau tốt nghiệp để xác định

các KT, KN người học cần, đáp ứng nhu cầu của họ sau khi tốt nghiệp.

+ Tìm hiểu điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có của nhà trường.

- Xác định MT DH. Các cấp độ của MT GD, DH gồm: MT của nền

GD (Điều 2 Luật GD năm 2005), MT của GD phổ thông (Điều 27 của Luật

GD), MT môn học, bài học (quy định tại văn bản “CTGDPT cấp trung học

phổ thông”).

- Tổ chức nội dung, lựa chọn phương pháp, thiết bị phù hợp với các cấp

độ MT, đối tượng HS và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nhà trường.

- Thiết kế công cụ và quy trình ĐG kết quả học tập

- Lập KHDH dựa trên cơ sở văn bản CT, KH năm học và những thông

tin có được từ sự phân tích nhu cầu. KH cần chi tiết, cụ thể và phản ánh được

các MT, nội dung, nhiệm vụ DH.

BƢỚC 2. THỰC THI

- Xây dựng KH bài dạy/soạn giáo án

+ Xác định MT bài dạy chi tiết ứng với từng đơn vị nội dung của bài.

Những MT này hướng tới MT bài học. MT của bài hướng tới MT của bộ

môn và MT của CTGD nói chung.

+ Cấu trúc lại nội dung SGK, phù hợp với từng đối tượng HS.

+ Lựa chọn hình thức tổ chức DH, PPDH, thiết bị DH.

+ KT-ĐG kết quả học tập của HS.

- Chuẩn bị môi trường DH. Môi trường DH tốt giúp HS tập trung cao

độ để học tập. Căn cứ vào nội dung bài học, chủ đề GD, GV (hoặc giao cho

HS) chuẩn bị các đồ dùng, phương tiện, trang trí không gian lớp học…

- Lập hồ sơ môn học gồm: CTMH, KH giảng dạy, KH bài dạy/giáo án,

các loại sổ theo quy định; kết quả học tập của HS sau mỗi học kỳ/năm học; ý

kiến phản hồi của HS, của đồng nghiệp; mẫu các loại bài KT, một số bài KT

(thi) của HS. Hồ sơ môn học phải được cập nhật mỗi năm.

16



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (122 trang)

×