1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.4 MB, 121 trang )


Trong những năm gần đây, đã có nhiều đề án, giải pháp nhằm xây dựng,

quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở các cấp học, bậc học đã nghiên cứu và

áp dung rộng rãi:

- Đề án xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ

quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010 (QĐ số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11

tháng 1 năm 2005 của Thủ tướng chính phủ).

- Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới (Đề tài

khoa học cấp nhà nước mã số KX07-14 năm 1996)....

Đối với GD &ĐT thì vấ n đề phát triể n đô ̣i ngũ giáo viên



có ý nghĩa hết



sức quan tro ̣ng . Vì vậy , viê ̣c xây dựng phát triể n đô ̣i ngũ giáo viên



đủ về số



lượng và đạt về chất lượng là vấn đề hế t sức cầ n thiế t . Trong thời gia n qua, đã

có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề quy hoạch và phát triển đội ngũ

giáo viên:

- Đề án phát triể n đô ̣i ngũ giáo viên THCN và da ̣y nghề giai đoa ̣n



2008-



2015- BGD&ĐT năm 2008.

- Phát triển đội ngũ giáo viên trường THPT chuyên Tỉnh Vinh Phúc trong

̃

giai đoạn hiê ̣n nay của tác giả Nguyễn Thị Lệ Chung , 2002, Hà Nội.

- Quy hoa ̣ch phát triể n đô ̣i ngũ giáo viên THPT tỉnh Hà Tây giai đoa ̣n

2002- 2010 của tác giả Lê Xuân Trung , 2006, Đa ̣i ho ̣c sư pha ̣m Hà Nội.

- Quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên THCS tỉnh Quảng Ninh đế n

2010 của tác giả Nguyễn Đức Khảm , đươ ̣c công bố năm 2005, Đa ̣i ho ̣c sư

phạm Hà Nội.

- Quy hoa ̣ch phát triể n đô ̣i ngũ giáo viên THCS Huyê ̣n Từ Liêm - Hà Nội

đến 2015 của tác giả Bùi Anh Tuấn , 2009, Đa ̣i ho ̣c sư pha ̣m Hà Nô ̣i .

Các Tác giả đã nghiên cứu về vấn đề quy hoạch và phát triển đội ngũ

giáo viên ở các bậc học , ở địa phương mà mình công tác và đã đưa ra các giải

pháp thiế t thực nhằ m thực hiê ̣n tố t hơn công tác phát triể n đô ̣i ngũ giáo viên ở

các địa phương , nhà trường mà mình công tác . Tuy nhiên , mỗi điạ phương ,



10



nhà trường có những đặc điểm tự nhiên , điề u kiê ̣n kinh tế xã hô ̣i khác nhau ,

nên quá trinh thực hiê ̣n phát triể n đô ̣i ngũ giáo viên là khác nhau . Nghiên cứu

̀

mô ̣t cách tổ ng quát ở tầ m vi ̃ mô và vi mô về vấ n đề này ở Trường TCKT



-KT



BTL chưa có tác giả nào nghiên cứu . Từ những phân tich ở trên và xuấ t phát

́

từ thực tiễn ở Nhà trường , nghiên cứu công tác phát triể n đô ̣i ngũ giáo viên

trường TCKT- KT BTL đế n năm 2015 là hết sức cần thiết nhằm đáp ứng yêu

cầ u đòi hỏi của sự phát triể n của nhà trường trong giai đoa ̣n mới



và thực hiện



Đề án nâng cấ p nhà trường lên cao đẳ ng .

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Quản lý

Quản lý là một nhu cầu xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại

khách quan được ra đời từ bản thân quá trình quản lý xã hội, quản lý con

người. Ở mỗi quốc gia, ở từng địa phương, đơn vị công tác quản lý tồn tại

như một quy luật tất yêu từ nhiều đời nay. Ngay từ khi xã hội loài người xuất

hiện, con người đã tập trung nhau lại để chống chọi với thiên nhiên và thú dữ.

Như vậy, khi con người tập trung lại với nhau để cùng tồn tại đã xuất hiện sự

phân công lao động và hợp tác để lao động. Chính từ sự phân công hợp tác

này đã giúp cho các tổ chức được duy trì và đạt được hiệu quả cao hơn về mọi

công việc. Để đạt được hiệu quả như mong muốn, trong các tổ chức phải có

sự chỉ huy, phối hợp điều hành, kiểm tra, nghĩa là có người đứng đầu. Hoạt

động quản lý được nảy sinh và phát triển từ nhu cầu tất yếu đó: C.Mác đã

viết: "Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên một

quy mô lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà sự hoạt động. Sự

chỉ đạo đó phải làm chức năng chung tức là chức năng phát sinh từ sự khác

nhau của vận động chung của cơ thể sản xuất với những hoạt động tác nhân

của những khí quan độc lập hợp thành cơ chế sản xuất đó. Một nhạc sỹ độc

tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc

trưởng". [13; 29-30]



11



Như vậy có thể nói hoạt động quản lý là tất yếu nảy sinh khi con người

lao động tập thể và tồn tại ở mọi loại hình tổ chức, ở mọi triều đại xã hội từ đó

khái niệm quản lý được nhiều tác giả đưa ra theo nhiều cách tiếp cận khác

nhau.

Ví như cách giải thích của từ điển Tiếng Việt: "Quản lý là việc tổ chức

và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhất định". [20; 800]

F.W Tailor (1856-1915) - cha đẻ của thuyết quản lý khoa học định

nghĩa “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó

thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [6; 1]

H.Fayol(1841- 1925) tác giả của thuyết quản lý tổng quát lại định nghĩa

“Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các

hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra” [6; 17]

Trong cuốn ”Giáo dục thế giới đi vào thế kỷ XXI” (NXB Chính trị

quốc gia năm 2008) có viết: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định

hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả

nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong

điều kiện biến đổi của môi trường” [14; 43].

Ở nước ta cũng có nhiề u quan điể m khác nhau về quản lý:

Tác giả Mai Hữu Khuê quan niệm: "Quản lý là sự tác động có mục

đích tới tập thể những người lao động nhằm đạt được những kết quả nhất

định và mục đích đã định trước”. [18; 19,20]

Tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ quan niệm rằng: "Quản lý là

một quá trình có định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống

là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.

Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người

quản lý mong muốn". [25; 17]

Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì cho rằng hoạt

động “Quản lý” là kinh điển nhất vì “Quản lý là quá trình tác động có chủ



12



hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể trong một tổ chức,

nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [6; 1] có

thể nói đây là định nghĩa kinh điển nhất về hoạt động QL.

Các khái niệm trên mặc dù cách tiếp cận khác nhau



nhưng điểm chung



thống nhất đều xác định quản lý là hoạt động có tổ chức, có mục đích nhằm

đạt tới mục tiêu xác định. Trong công việc quản lý bao giờ cũng có chủ thể

quản lý, khách thể quản lý quan hệ với nhau bằng những tác động quản lý.

Nói một cách khái quát nhất, có thể xem quản lý là: Một quá trình tác

động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được

mục tiêu chung.

- Các chức năng cơ bản của quản lý



Sơ đồ 1.1. Các chức năng cơ bản của quản lý

MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI



Mục tiêu của tổ chức

DỰ BÁO/ LẬP KẾ



TỔ CHỨC



HOẠ CH



Nhà QL

Công việc- Nhân sự

LÃNH ĐẠO



KIỂM TRA/

ĐÁNH GIÁ



Các nguồn lực của tổ chức

Theo sơ đồ trên, quá trình quản lý diễn ra các hoạt động cụ thể của

chủ thể quản lý với sự tham gia tích cực của các thành viên trong tổ chức như

dự báo, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo lãnh đạo, giám sát, kiểm tra



13



đánh giá, trong đó các hoạt động trên đan xen nhau, tác động, bổ sung lẫn

nhau để hoàn thiện cả quá trình quản lý.

Dự báo và lập kế hoạch là một chức năng cơ bản của quản lý, trong

đó phải xác định những vấn đề như nhận dạng và phân tính tình hình, bối

cảnh; dự báo các khả năng; lựa chọn và xác định các mục tiêu, mục đích và

hoạch định con đường, cách thức, biện pháp để đạt được mục tiêu, mục đích

của quá trình. Trong mỗi kế hoạch thường bao gồm các nội dung như xác

định hình thành mục tiêu, xác định và đảm bảo về các điều kiện, nguồn lực

của tổ chức để đạt được mục tiêu và cuối cùng là quyết định xem hoạt động

nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đặt ra.

Tổ chức là quá trình tạo lập các thành phần, cấu trúc, các quan hệ giữa

các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực

hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.

Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản

lý và sử dụng các nguồn lực của tổ chức. Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc

hình thành, xây dựng các bộ phận, các phòng ban cùng các công việc của

chúng để thực hiện nhiệm vụ của tổ chức.

Lãnh đạo bao hàm việc định hướng và lôi cuốn mọi thành viên của tổ

chức thông qua việc liên kết, liên hệ với người khác và khuyến khích, động

viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ

chức. Tuy nhiên, hiểu lãnh đạo không chỉ sau khi lập kế hoạch có tổ chức thì

mới có lãnh đạo, mà là quá trình đan xen, nó thấm vào và ảnh hưởng quyết

định đến các chức năng kia.

Kiểm tra, đánh giá là chức năng của quản lý. Thông qua đó, một cá

nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động

và tiến hành những hoạt động sửa chữa uốn nắn cần thiết. Đó là quá trình tự

điều chỉnh, diễn ra có tính chu kỳ từ người quản lý đặt ra những chuẩn mực

thành đạt của hoạt động, đối chiếu đo lường kết quả, sự thành đạt so với mục



14



tiêu chuẩn mực đã đặt ra, điều chỉnh những vấn đề cần thiết và thậm chí phải

hiệu chỉnh, sửa lại những chuẩn mực cần thiết.

Tuy nhiên việc xác định các chức năng trong quá trình quản lý không

thể rạch ròi, riêng biệt từng chức năng mà là quá trình đan xen, kết hợp để

thực hiện mục tiêu cuối cùng của một quá trình quản lý.

1.2.2. Quản lý nhà trường

1.2.2.1. Khái niệm nhà trường

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Trường học là một thiết chế xã hội trong

đó diễn ra quá trình đào tạo, giáo dục với sự hoạt động tương tác của 2 nhân

tố: “thầy – trò”. Trường học là một bộ phận của cộng đồng và guồng máy của

hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở” [2; 2].

Vậy nhà trường là nơi duy nhất thực hiện chức năng kiến tạo các kinh

nghiệm xã hội cần thiết cho mọi nhóm dân cư nhất định của xã hội đó. Nhà

trường được tổ chức sao cho việc kiến tạo nói trên đạt được các mục tiêu mà

xã hội đó đặt ra cho nhóm dân cư được huy động vào sự kiến tạo này một

cách tối ưu theo quan niệm của xã hội.

Quá trình sư phạm là quá trình kiến tạo các điều kiện và cơ hội để cá

thể người lĩnh hội, chiếm lĩnh kinh nghiệm xã hội, thực hiện việc xã hội hoá

nhân cách của mình. Nhà trường thực hiện chức năng kiến tạo các kinh

nghiệm xã hội thông qua quá trình sư phạm hay nói cách khác, nhà trường là

thiết chế chủ yếu để thực hiện quá trình sư phạm.

Trong bối cảnh hiện đại, nhà trường được thừa nhận rộng rãi như một

thiết chế chuyên biệt của xã hội để giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ trở thành

những công dân có ích cho tương lai. Thiết chế đó có mục đích rõ ràng, có tổ

chức chặt chẽ, được cung ứng các nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện chức

năng của mình mà không một thiết chế nào có thể thay thế được. Những

nhiệm vụ của nhà trường cũng được đề cập đến từ nhiều khía cạnh khác nhau.

Việc quản lý nhà trường cũng có nhiều cách để tiếp cận. Bản chất giai cấp của



15



nhà trường được khẳng định bởi tính mục đích cũng như cách thức vận hành

của nó và một điều được khẳng định là: Khi nhà trường thực hiện chức năng

giáo dục trong một xã hội cụ thể, bản sắc văn hoá dân tộc in dấu sâu đậm

trong toàn bộ hoạt động của nhà trường.

Ta có thể thấy rõ các dấu hiệu phân biệt nhà trường với các thiết chế

khác là: Tính mục đích tập trung hay mục đích hẹp, mục đích được “chiết

xuất”; Tính tổ chức và tính kế hoạch cao; Tính hiệu quả giáo dục - đào tạo

cao nhờ quá trình truyền thụ có ý thức; Tính biệt lập tương đối hay tính lý

tưởng hoá các giá trị xã hội; Tính chuyên biệt cho từng đối tượng hay tính

chất phân biệt đối xử theo phát triển tâm lý và thể chất.

1.2.2.2. Quản lý nhà trường

Bản chất của việc quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy – học,

tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần

dần tiến tới mục tiêu giáo dục.

Nói về khái niệm Quản lý nhà trường, tác giả Phạm Viết Vượng có

định nghĩa “Quản lý nhà trường được hiểu là hoạt động của các cơ quan

quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV và HS và các lực

lượng GD khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng

cao chất lượng giáo dục và Đào tạo trong nhà trường” [30; 205]

Trong cuốn sách “ Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục” , M.I

Kôđacốp viết “Quản lý công việc nhà trường là hệ thống xã hội- sư phạm, đã

chuyên môn hóa, quy định tác động của ý thức, có kế hoạch và hướng đích

của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm

bảo sự vận hành tối ưu về các mặt xã hội – kinh tế, tổ chức- sư phạm của quá

trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên” [23 ; 112]

Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo thì Nhà trường là tổ chức giáo dục cơ sở

của hệ thống giáo dục, tồn tại bởi sự gắn kết giữa các nhóm nhân tố



16



Nhóm nhân tố cơ bản: Mục tiêu đào tạo; Nội dung đào tạo; Phương pháp đào tạo

Nhóm nhân tố động lực: Lực lượng đào tạo (thày); Đối tượng đào tạo (Trò):

Nhóm nhân tố gắn kết: Hình thức tổ chức đào tạo; Điều kiện đào tạo; Môi

trường đào tạo; Bộ máy đào tạo; Qui chế đào tạo

Mặc dù các khái niệm được các tác giả nêu theo nét riêng của mình,

nhưng vẫn thể hiê ̣n những điể m chung , cái bản chất của quản lý nhà trường là

hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý làm cho

nhà trường vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng để thực

hiện thắng lợi mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục giao phó cho nhà trường.

Vì vậy, quản lý nhà trường là phải quản lý toàn diện. Đó là:

- Quản lý đội ngũ nhà giáo;

- Quản lý học sinh;

- Quản lý quá trình đào tạo;

- Quản lý cơ sở vật chất trang thiết bị trường học;

- Quản lý tài chính trường học;

- Quản lý mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng.

1.2.3. Giáo viên

Từ điển Tiếng việt - Nhà xuất bản Đà Nẵng - 2006 định nghĩa: Giáo viên

(danh từ) là người dạy học ở bậc phổ thông hoặc tương đương 28; 395

Tại điều 70 Luật Giáo dục nước Cộng hoà xã hôị chủ nghĩa Việt Nam

năm (Luật Giáo dục sủa đổi và ban hành năm 2005) đã đưa ra định nghĩa

pháp lý đầy đủ về nhà giáo và những tiêu chuẩn của nhà giáo:

“1. Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà

trường, cơ sở giáo dục khác”

2. Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây:

a. Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;

b. Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;



17



c. Đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp;

d. Lý lịch bản thân rõ ràng”. [22; 54]

Luật giáo dục cũng đã quy định rất cụ thể về tên gọi đối với từng đối

tượng nhà giáo theo cấp, bậc giảng dạy và công tác. Nhà giáo dạy ở các cơ sở

giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên.

Nhà giáo giảng dạy và công tác ở các cơ sở giáo dục đại học và sau đại học

gọi là giảng viên.

Trong phạm vi nghiên cứu ở đề tài này là nghiên cứu Nhà giáo ở bậc học

TCCN. Nên các khái niệm được dùng trong đề tài này với tên gọi là giáo viên.

1.2.6. Đội ngũ giáo viên

Khi đề cập đến đội ngũ giáo viên, một số tác giả nước ngoài đã nêu lên

quan niệm: “Đội ngũ giáo viên là những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục,

họ nắm vững tri thức, hiểu biết dạy học và giáo dục như thế nào và có khả

năng cống hiến toàn bộ sức lực và tài năng của họ đối với giáo dục”. 27; 10

Theo Nguyễn Minh Đường : “Đội ngũ giáo viên trong ngành giáo dục là

một tập thể người, bao gồm cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên, nếu chỉ

đề cập đến đặc điểm của ngành thì đội ngũ đó chủ yếu là đội ngũ giáo viên và

đội ngũ quản lý giáo dục”. 27; 10

Như vâ ̣y , đô ̣i ngũ giáo viên đươ ̣c hiể u là một tập hợp những người làm

nghề dạy học - giáo dục, được tổ chức thành một lực lượng (có tổ chức), cùng

chung một nhiệm vụ, có đầy đủ các tiêu chuẩn của một nhà giáo, cùng thực

hiện các nhiệm vụ và được hưởng các quyền lợi theo Luật giáo dục và các

luật khác được nhà nước quy định.

Hoạt động trong công tác giảng dạy chuyên môn và giáo dục có thể kiểm

soát theo kiể u hành chính đơn thuầ n , vừa rấ t khó kiể m soát . Hiê ̣u quả hoa ̣t

đô ̣ng này rấ t khó lươ ̣ng hóa vì nó đươ ̣c đánh giá qua chấ t lươ ̣ng giáo du ̣c và

giảng dạy . Hoạt động này chịu nhiều nhân tố tác động trong đó có các n



ăng



lực, phẩ m chấ t và yế u tố tich cực tự giác , chủ động tự bồi dưỡng đóng vai trò

́



18



quan tro ̣ng , những yế u tố này khi có môi trường thuâ ̣n lơ ̣i sẽ xuấ t hiê ̣n



, phát



huy tố t .

Đội ngũ giáo viên là nhân tố quan trọng của phát t



riể n GD &ĐT, thông



qua hoa ̣t đô ̣ng giảng da ̣y , giáo dục và các hoạt động khác trong và ngoài nhà

trường, đô ̣i ngũ giáo viên là người trực tiế p thực hiê ̣n các mu ̣c tiêu chiế n lươ ̣c

phát triển GD&ĐT của hê ̣ thố ng giáo du ̣c quố c dân .

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh tầm quan trọng của đội ngũ giáo

viên: “Nế u không có thầ y giáo thì không có giáo dục” . Người cũng chỉ rõ vai

trò của nghề sư phạm : “Có gì vẻ vang hơn là đào tạo những thế hệ trẻ sau này

tích cực góp phần xây dựng CNXH và CNCS” . Giáo viên chính là người thực

hiê ̣n mu ̣c tiêu cơ bản GD &ĐT nhằ m xây dựng con người và thế hê ̣ trẻ , thiế t

tha gắ n bó với lý tưởng đô ̣c lâ ̣p dân tô ̣c và chủ nghia xã hô ̣i , có đạo đức trong

̃

sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc .

Quan niê ̣m về vai trò giáo viên và mố i quan hê ̣ giữa giáo viên và ho ̣c

sinh đã thể hiê ̣n rõ ràng trong Luâ ̣t giáo du ̣c . Đây là quan điể m nảy sinh trong

hơn 20 năm đổ i m ới và đang có xu hướng phát triển nhanh và mạnh hơn



.



Nhiê ̣m vu ̣ của giáo viên hiê ̣n nay là giúp cho người ho ̣c tự xây dựng phẩ m

chấ t và năng lực của mình dưới sự hướng dẫn , tổ chức ta ̣o điề u kiê ̣n và đánh

giá của giáo viên .

Giáo viên là nhân tố quyết định đến chất lượng giáo dục và được xã hội

tôn vinh . Tinh thầ n này đươ ̣c thể hiê ̣n rõ và đầ y đủ trong quan niê ̣m mới về

nhiê ̣m vu ̣ giáo viên . Vì vậy, đô ̣i ngũ giáo viên phải tự nâng mình ngang tầ m

với yêu cầ u đổ i mới giáo du ̣c , phục vụ sự nghiệp CNH , HĐH đấ t nước.

1.2.7. Phát triển đội ngũ giáo viên

Thuâ ̣t ngữ phát triể n xuấ t hiê ̣n từ những năm



60 thế kỷ trước , với cách



hiể u đơn giản là phát triể n kinh tế , sau đó khái niê ̣m n ày được bổ sung thêm

nô ̣i hàm và ngày nay đươ ̣c hiể u mô ̣t cách toàn diê ̣n hơn mang ý nghia phát

̃

triể n bề n vững .



19



Theo từ điể n Tiế ng Viê ̣t : “Phát triển là biến đổi hoặc làm cho biến đổi

từ ít đế n nhiề u, hẹp đến rộng, thấ p đến cao, đơn giản đế n phức tạp” [28; 769]

Phát triển giống với tăng trưởng là cùng hàm chứa ý nghĩa về sự tăng

lên, đi lên . Song phát triể n khác với tăng trưởng ở chỗ



, sự tăng trưởng đơn



thuầ n chưa phải phát triể n . Muố n có sự phát triển thì trong quá trình phát triển

phải đảm bảo tính cân đối , tính hiệu quả và tính mục tiêu . Tăng trưởng trước

mắ t phải đă ̣t cơ sở cho tăng trưởng trong tương lai thì sự tăng trưởng đó mới

tạo điều kiện cho phát triể n. Sự phát triể n giáo du ̣c cũng chứa các đă ̣c trưng

tương tự. Tuy nhiên , theo cách trinh bày ở trên thì sự phát triể n giáo du ̣c còn

̀

là phương tiện , điề u kiê ̣n cho sự phát triể n nói chung . Sự phát triể n giáo du ̣c

còn bao hàm ý nghĩa chính trị và liên quan mật thiết với thể chế chính trị

quố c gia.

Về phát triển đội ngũ giáo viên: Việc phát triển đội ngũ giáo viên thực

chất là phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục.

Theo Nguyễn Minh Đường, phát triển nguồn nhân lực có thể hiểu theo

những nghĩa sau đây:

“Với nghĩa hẹp nhất đó là quá trình đào tạo và đào tạo lại, trang bị

hoặc bổ sung thêm những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để người lao

động có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ mà họ đang làm hoặc để đi tìm một việc

làm mới”.

Với nghĩa rộng hơn bao gồm 3 mặt: Phát triển sinh thể, phát triển nhân

cách, đồng thời tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho nguồn nhân lực phát

triển”. [27; 15]

- Một cách tổng quát, phát triển nguồn nhân lực là làm gia tăng giá trị vật

chất, giá trị tinh thần, đạo đức và giá trị thể chất, … cho con người.

Như vậy, Phát triển đội ngũ giáo viên trong giáo dục chính là xây dựng

và phát triển một tổ chức những người gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và

CNXH, có phẩm chất đạo đức trong sáng, lành mạnh, năng lực chuyên môn



20



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (121 trang)

×