1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.4 MB, 135 trang )


lao động của thầy trò trong việc xây dựng trường sở, phòng thí nghiệm,

xuởng trường, vườn trường”.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ Hai Ban chấp hành Trung ương khoá VIII

đã khẳng định: “GD là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn

dân. Mọi người đi học, học thường xuyên, học suốt đời. Phê phán thói lười

học. Mọi người chăm lo GD” [22].

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: “Tiếp tục nâng cao chất

lượng GD toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống

trường lớp và hệ thống QL GD; thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, XH hoá” [20].

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định: “GD&ĐT cùng

với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực

thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” đồng thời chỉ rõ: “Nâng cao

chất lượng GD toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế QL, nội dung,

phương pháp dạy và học; thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hoá, XH hoá” [21].

Hệ thống quan điểm của Đảng và các chính sách của Nhà nước ta về

thực hiện “Chuẩn hoá, hiện đại hoá, XH hoá” thực chất là khẳng định tư

tưởng chiến lược của Đảng trong quá trình phát triển GD&ĐT nhằm chấn

hưng nền GD Việt Nam.

Những năm gần đây, việc xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn QG đã

được tiến hành và đã đạt được những kết quả khả quan. Sau giai đoạn I của

trường chuẩn QG tiểu học là công tác xây dựng trường chuẩn QG ở bậc mầm

non và trung học. Có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề GD. Tuy nhiên nghiên

cứu về vấn đề xây dựng trường chuẩn QG là đề tài còn chưa được quan tâm nhiều.

Có thể kể đến một số công trình như: Luận án tiến sĩ “Thực trạng và

những giải pháp xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn QG ở Tây Ninh của

Nguyễn Ngọc Dũng”.

- “Bồi dưỡng cán bộ QL trường mầm non - một biện pháp xây dựng

trường mầm non thành thị đạt chuẩn QG ở Hải Phòng” của Phạm Thị Loan.

- “Biện pháp QL của hiệu trưởng trong việc xây dựng trường THPT

chuẩn QG ở Quảng Ninh”, luận văn thạc sĩ của Đặng Lộc Thọ, năm 2004. – “Biện

pháp QL việc xây dựng trường chuẩn QG của hiệu trưởng trường THPT tỉnh Tuyên

Quang”, luận văn thạc sĩ khoa học GD của Đoàn Văn Ninh, năm 2006.

Ngoài ra còn có một số công trình đăng rải rác trên các báo, tạp chí như:



6



Xây dựng trường THCS đạt chuẩn QG giai đoạn 2001-2010 của Hà Thế

Truyền trên tạp chí GD.

Chuẩn QG về GD phổ thông – thách thức lớn trong lý luận chương

trình dạy học của thế giới ngày nay của Hồ Viết Lương.

- Trường tiểu học chuẩn QG - một khái niệm mới trong GD của Trịnh

Quốc Thái đăng trên tạp chí GD.

Các công trình nghiên cứu đều tập trung vào một số nội dung xây dựng

trường THPT đạt chuẩn QG có ý nghĩa lý luận và thực tiễn ở từng địa phương.

Như vậy, cho đến nay, vấn đề lý luận về xây dựng trường chuẩn QG

vẫn còn bỏ ngỏ, chưa được quan tâm thoả đáng. Đặc biệt, trường THCS đạt

chuẩn QG mới được quan tâm trong mấy năm gần đây nên vẫn chưa có nhiều

công trình nghiên cứu toàn diện về QL, xây dựng trường THCS đạt chuẩn QG

trong giai đoạn đổi mới GD hiện nay.



1.2. Một số vấn đề lý luận cơ bản về xây dựng trƣờng chuẩn Quốc gia

Nghị Quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng nêu rõ “Tiếp tục nâng cao

chất lượng GD toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học…, thực

hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, XH hoá”. Phát huy tinh thần độc lập, chủ động

và sáng tạo trong học tập của học sinh, đề cao năng lực tự học tập, tự hoàn

thiện học vấn và kỹ năng XH. Thực hiện phương châm “Học đi đôi với hành,

GD kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với đời sống XH”.

Chuẩn hoá; hiện nay nước ta đã có được một hệ thống GD tương đối

hoàn chỉnh, một nền GD của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trong bối

cảnh phát triển kinh tế chính trị XH đang diễn ra, yêu cầu về chuẩn hoá nhà

trường, hoạt động dạy - học, từ thầy cô giáo, nội dung chương trình, đến các

điều kiện phục vụ cho hoạt động dạy - học như CSVC, trang thiết bị đồ dùng

dạy học,... đều phải đạt chuẩn, lúc đầu là đạt chuẩn QG và tiến dần đến đạt

chuẩn quốc tế.

Hiện đại hoá; song song với đổi mới nội dung chương trình sách giáo

khoa thì mọi phương tiện như CSVC, trang thiết bị và đồ dùng dạy học phải

được hiện đại hoá để đáp ứng phương pháp dạy - học hiện đại nhằm phát huy

tối đa năng lực sáng tạo của thầy và trò trong hoạt động dạy và hoạt động học

để đạt được kết quả GD toàn diện nhất.



7



Dân chủ hoá; là thực hiện công minh, công khai, công bằng trong GD,

thực hiện dân biết, dân bàn, dân được làm và dân kiểm tra thể hiện GD thực

sự là của dân, do dân và vì dân.

XH hoá GD; Sự nghiệp GD không chỉ của riêng nhà nước mà là của

toàn XH, mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo sự

nghiệp GD, xây dựng phong trào học tập và môi trường GD lành mạnh, phối

hợp với nhà trường để thực hiện mục tiêu GD. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo

trong phát triển sự nghiệp GD, thực hiện đa dạng hoá các loại hình nhà trường

và các hình thức GD, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức cá

nhân tham gia phát triển sự nghiệp GD; xây dựng XH thành XH học tập, tạo

cơ hội học tập thường xuyên liên tục học tập suốt đời cho mọi người dân

nhằm đạt được mục tiêu GD đề ra.

Tóm lại, Phương hướng tổng quát của GD và đạo tạo Việt Nam hiện

nay là xây dựng nền GD theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, XH hoá và phát

triển GD toàn diện.

1.2.1.Các văn bản, chiến lược xây dựng trường chuẩn Quốc gia

1.2.1.1. Các văn bản của Đảng, Nhà nước, của Bộ GD&ĐT về xây

dựng trường chuẩn Quốc gia

a, Các nghị quyết của Đảng cộng sản Việt Nam

Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá

VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp GD&ĐT, đã đưa ra một số quan điểm chỉ

đạo như sau: GD&ĐT là quốc sách hàng đầu. Phải coi đầu tư cho GD là đầu

tư cho phát triển, tạo điều kiện cho GD phải là lĩnh vực luôn đi trước phục vụ

đắc lực sự phát triển kinh tế - XH. Huy động toàn XH tham gia làm GD,

động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền GD quốc dân dưới sự

QL của Nhà nước; Phát triển GD nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi

dưỡng nhân tài; đào tạo con người có trình độ về kiến thức văn hoá khoa học

đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước; GD phải vừa gắn chặt với yêu cầu

phát triển của đất nước, vừa phải phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại, xác

định học tập suốt đời là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân; đa dạng

hoá các hình thức đào tạo, thực hiện công bằng XH trong GD. Nghị quyết

cũng đề ra một số chủ trương, chính sách và biện pháp lớn đổi mới phương

pháp dạy - học ở tất cả các cấp học, bậc học, kết hợp tốt học với hành,… Áp



8



dụng những phương pháp GD hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư

duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề; Mặt trận Tổ quốc các đoàn thể nhân

dân, các tổ chức XH, mọi gia đình và mọi người cùng với ngành GD chăm lo

xây dựng sự nghiệp GD theo phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng

làm”, xây dựng môi trường GD: Nhà trường – Gia đình và XH; tăng cường sự

lãnh đạo của các cấp Uỷ đảng đối với sự nghiệp GD, xây dựng đội ngũ GV,

cán bộ QL, đổi mới QL GD&ĐT.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ Hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá

VIII về định hướng phát triển GD&ĐT trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại

hoá đất nước đã chỉ ra các giải pháp chủ yếu để phát triển GD&ĐT như: “Ban

hành chuẩn QG về trường học”, “Đảm bảo diện tích đất đai về sân chơi, bãi

tập theo đúng quy định của Nhà nước…”. Nghị quyết này đã chỉ đường để

ngành GD thực hiện những nhiệm vụ chiến lược.

Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII tại

Đại hội đại biểu lần thứ IX của Đảng nêu rõ: “Phát triển GD&ĐT là một trong

những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá,

là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển

XH, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Tiếp tục nâng cao chất lượng GD

toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy – học, hệ thống trường lớp và

hệ thống QL GD; thực hiện “Chuẩn hoá, hiện đại hoá, XH hoá”.

b, Các quyết định của Quốc hội và Chính phủ

Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã

được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001 QH 10 ngày 25-12-2001,

Luật GD 2005 và chiến lược phát triển GD giai đoạn 2001-2010 đã chỉ rõ các

quan điểm GD nước ta là: GD là quốc sách hàng đầu, phát triển GD là nền

tảng của đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, là một trong những động lực

thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là yếu tố cơ bản để tăng

trưởng kinh tế nhanh và bền vững; xây dựng nền GD có tính nhân dân, dân

tộc, khoa học và hiện đại theo định hướng XHCN, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin

và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng. Thực hiện công bằng XH trong GD,

tạo cơ hội bình đẳng để ai cũng được học hành. Nhà nước và XH có cơ chế

chính sách giúp đỡ người nghèo học tập, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài. GD

con người Việt Nam phát triển toàn diện Đức – Trí – Thể - Mỹ, phát triển



9



năng lực cá nhân, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng sự nghiệp

xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Phát triển GD phải gắn với nhu cầu phát triển

kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học – công nghệ, củng cố quốc phòng và an

ninh, đảm bảo sự hợp lý về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng

miền, mở rộng quy mô trên cơ sở chất lượng và hiệu quả; kết hợp giữa đào

tạo và sử dụng; thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành, GD gắn với lao động

sản xuất, lý luận gắn liền với thức tiễn, GD nhà trường kết hợp với GD gia đình

và GD XH.

Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định mục tiêu tổng

quát của Chiến lược phát triển kinh tế - XH 2001 - 2010 là: "Đưa đất nước ta

ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa,

tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở

thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa". "Con đường công

nghiệp hóa - hiện đại hóa của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các

nước đi trước, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhẩy vọt...".

Để đạt được các mục tiêu nêu trên, GD và khoa học công nghệ có vai

trò quyết định, nhu cầu phát triển GD là rất bức thiết.

Sau gần 15 năm đổi mới, GD Việt Nam đã đạt được những thành tựu

quan trọng nhưng còn những yếu kém, bất cập. Chiến lược phát triển GD năm

2001 - 2010 xác định mục tiêu, giải pháp và các bước đi theo phương châm đa

dạng hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa, XH hóa, xây dựng một nền GD có tính

thực tiễn và hiệu quả, tạo bước chuyển mạnh mẽ về chất lượng đưa nền GD

nước ta sớm tiến kịp các nước phát triển trong khu vực, nâng cao dân trí, đào

tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, góp phần đắc lực thực hiện các mục tiêu

của Chiến lược phát triển kinh tế - XH 2001 - 2010.

Chiến lược phát triển GD giai đoạn 2001 - 2010, đã nêu ra bảy nhóm

giải pháp phát triển GD trong 10 năm đầu thế kỷ XXI là:

(1) Đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình GD; (2) Phát triển đội

ngũ nhà giáo, đổi mới phương pháp GD; (3) Đổi mới QL GD; (4) Tiếp tục

hoàn chỉnh cơ cấu hệ thống GD quốc dân và phát triển mạng lưới trường lớp

và các cơ sở GD; (5) Tăng cường nguồn tài chính, cơ sở vật chất cho GD; (6)

Đẩy mạnh XH hóa GD; (7) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về GD. Trong đó, đổi



10



mới chương trình GD, phát triển đội ngũ nhà giáo là các giải pháp trọng tâm;

đổi mới QL GD là khâu đột phá.

Các giải pháp này đã nêu khá rõ về chuẩn cần phấn đấu như: Mục tiêu,

nội dung, chương trình cần được đổi mới theo hướng chuẩn hoá, hiện đại

hoá…Chuẩn hoá và hiện đại hoá trang thiết bị đồ dùng phục vụ cho công tác

dạy – học; phát triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ

cấu và chuẩn về chất lượng, Xây dựng và thực hiện chuẩn hoá đội ngũ cán bộ

QL GD; Hoàn thiện cơ cấu hệ thống GD quốc dân theo hướng đa dạng hoá,

chuẩn hoá; Phát triển mạng lưới trường phổ thông rộng khắp trên toàn quốc,

xây dựng trên mỗi địa bàn xã phường ít nhất có một trường tiểu học và THCS

đạt chuẩn QG.

Tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước, huy động mọi nguồn lực trong XH

để phát triển GD, đổi mới cơ chế QL hành chính; Chuẩn hoá và hiện đại hoá

trường sở, trang thiết bị đồ dùng dạy – học; Các địa phương có KH cụ thể

xây dựng thêm số lượng trường lớp cần thiết để đẩy nhanh tiến độ phổ cập

GD THCS tiến đến phổ cập THPT, tạo điều kiện để học sinh được học cả

ngày tại trường đến 70%, nâng tỉ lệ các trường được xây dựng theo chuẩn QG

lên tới 50% vào năm 2010.

Chiến lược phát triển GD giai đoạn 2001 – 2010 đã khẳng định rõ các

yêu cầu về tiêu chuẩn hoá, hiện đại hoá và XH hoá trên các mặt: Mục tiêu, nội

dung chương trình, phương pháp giảng dạy, đội ngũ GV, cán bộ QL GD các

cấp, cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng dạy – học, XH hoá GD mà Nghị

quyết đại hội Đảng lần thứ IX đã nêu.

c, Các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Quyết định số 27 /2001/ QĐ-BGD & ĐT ngày 05 tháng 7 năm 2001

của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc ban hành Quy chế công nhận trường trung

học đạt chuẩn QG (Giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2010).

- Quyết định số 08/2005/QĐ-BGD&ĐT ngày 14 tháng 03 năm 2005 về

việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế công nhận trường trung học

đạt chuẩn QG (giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2010) ban hành kèm theo

Quyết định số 27/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 05/07/2001 của Bộ trưởng Bộ

GD&ĐT, về qui định trường trung học đạt chuẩn QG mức độ 1 và mức độ 2.

11



Các quyết định kèm theo Qui chế công nhận nhà trường đạt chuẩn QG

đều nêu rõ tiêu chuẩn trường chuẩn và qui trình xây dựng, kiểm tra công nhận

trường đạt chuẩn QG.

1.2.1.2. Chiến lược giáo dục và đào tạo của Thành phố, những yêu cầu đặt ra

đối với chất lượng giáo dục , xây dựng đội ngũ nhà giáo, xây dựng cơ sở vật

chất nhà trường, công tác xã hội hoá giáo dục theo tiêu chí trường Trung

học cơ sở đạt chuẩn Quốc gia

Quyết định 05/2003/QĐ-UB ngày 09 tháng 01 năm 2003 và Quyết định

số 06/2003/QĐ-UB ngày 10/01/2003 của UBND Thành phố Hà Nội về việc

phê duyệt quy hoạch mạng lưới trường học Thủ đô Hà Nội đến năm 2010 và

định hướng đến năm 2020 và phê duyệt qui hoạch phát triển GD&ĐT Thủ đô

Hà Nội đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã xác định:

* Về quan điểm phát triển

- Giữ vững mục tiêu và định hướng XH chủ nghĩa, chú trọng GD và

phát triển toàn diện nhân cách con người Thủ đô văn minh – thanh lịch – hiện

đại, tiêu biểu cho tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa XH và phong cách lao

động sáng tạo của con người Việt Nam; Phù hợp với giai đoạn phát triển mới

của đất nước, thời đại nói chung và Thủ đô Hà Nội nói riêng. Đảm bảo công

bằng và tiến bộ XH, xây dựng ngành GD&ĐT Hà Nội xứng đáng với tầm vóc

của Thủ đô Hà Nội văn minh – thanh lịch – hiện đại, với truyền thống văn hoá

Thủ đô ngàn năm văn hiến.

- Phát triển GD&ĐT vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế

XH của Thủ đô và phải đi trước một bước nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển

kinh tế XH và tiến bộ khoa học – công nghệ đồng thời thúc đẩy quá trình phát

triển kinh tế XH trong khu vực đồng bằng Bắc bộ và cả nước. Xây dựng XH

học tập, chuẩn bị thích ứng với kinh tế tri thức trong thập kỷ đầu của thế kỉ

XXI; ưu tiên đầu tư cho ngoại thành để rút ngắn khoảng cách phân cực trong

phát triển GD giữa nội và ngoại thành, hoàn thành sớm các yêu cầu phổ cập

GD trung học và tương đương. Thực hiện mục tiêu Hà Nội phải trở thành một

trung tâm phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao của cả nước.

- Nâng chất lượng và hiệu quả công tác QL GD, chuẩn hoá, hiện đại

hoá, đa dạng hoá, XH hoá các hoạt động GD&ĐT Thủ đô. Huy động thêm



12



nguồn nhân lực cho GD&ĐTtừ ngân sách Nhà nước, ngân sách địa phương và

từ XH.

* Mục tiêu

- Xây dựng và phát triển hệ thống GD&ĐT Thủ đô Hà Nội trở thành

trung tâm đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Nâng cao chất

lượng GD toàn diện, coi trọng GD đạo đức, lý tưởng, GD lối sống, nhân cách,

GD truyền thống Thủ đô thanh lịch và GD pháp luật cho thanh thiếu niên học

sinh; Nâng chất lượng đại trà, coi trọng đầu tư mũi nhọn; thực hiện tốt công

tác đổi mới nội dung GD và thay sách giáo khoa. Nâng cao chất lượng phổ

cập GD tiểu học và THCS. Phấn đấu trước năm 2010 phổ cập THPT và tương

đương trên toàn Thành phố; Đến năm 2005 đạt tỉ lệ 80% học sinh tiểu học và

40% học sinh THCS được học 2 buổi/ ngày, nâng số năm đi học trung bình

của người dân Hà Nội lên 12 năm vào năm 2010, đảm bảo từ 90% số dân

trong độ tuổi từ 6-23 được đi học.

- Xây dựng đội ngũ cán bộ QL đủ về số lượng, đồng bộ và đạt chuẩn

hoá. Hiện đại hoá các cơ sở GD&ĐT, đặc biệt là mạng lưới trường trọng điểm

chất lượng cao ở các bậc học, ngành học. Phấn đấu đến năm 2005 có 30%

trường đạt chuẩn QG, và tỉ lệ này là 60% vào năm 2010 và phần lớn các

trường đạt chuẩn vào năm 2020. Trong đó có một số trường đạt chuẩn khu

vực và quốc tế.

- Nâng cao chất lượng và hiệu quả quá trình đa dạng hoá, XH hoá các

hoạt động GD&ĐT, huy động mọi nguồn lực cho GD&ĐT tăng dần tỉ trọng

đầu tư cho sự nghiệp GD&ĐT, tạo thế và lực cho GD Hà Nội tiếp cận và hội

nhập kịp với GD của các nước trong khu vực và trên thế giới.

* Yêu cầu đạt đƣợc

- Đến năm 2005 tất cả các trường THCS có cơ sở vật chất riêng biệt và

kiên cố. Đến năm 2010 có ít nhất 80 trường THCS có cơ sở vật chất học 2

buổi/ngày, có từ 50 – 60% số trường đạt chuẩn QG.

- Hàng năm bố trí cho từ 8 – 10% số GV được đi học nâng cao trình độ

và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để đến năm 2010 đảm bảo 50% số GV

đạt trên chuẩn.

- Đổi mới công tác QL GD; Hoàn thiện cơ chế QL nhà nước ngành

GD&ĐT Thủ đô theo hướng phân cấp QL hợp lý cho tất cả các cấp cơ sở,



13



thực hiện QL thống nhất theo luật và các qui định, qui chế chung của nhà

nước. Xây dựng hệ thống thông tin QL GD của ngành GD Hà Nội, tin học

hoá công tác QL.

- Hình thành hệ thống kiểm định chất lượng GD&ĐT của các cơ sở đào

tạo theo các chuẩn chất lượng QG.

Từ những yêu cầu nêu trên trong chiến lƣợc phát triển GD Thủ đô đã

đặt ra nhƣng chƣơng trình hành động cụ thể nhằm phát triển GD nhƣ sau:

Chương trình hiện đại hoá nhà trường: Mục tiêu cơ bản là hình thành

mạng lưới các cơ sở GD&ĐT có đủ các điều kiện đảm bảo chất lượng theo

các tiêu chuẩn QG ở tất cả các bậc học ngành học, phấn đấu đến năm 2005 có

từ 20-30% số trường đạt chuẩn QG, năm 2010 là 50 – 60% và đến năm 2020

là 90 – 100% số trường đạt chuẩn QG trong đó có 1 trường đạt chuẩn khu vực

và quốc tế. Đổi mới và hiện đại hoá nội dung đào tạo, giáo trình và sách giáo

khoa đầu tư trang bị đồng bộ các thiết bị dạy – học, phòng thí nghiệm, xưởng

thực hành, giải quyết cơ bản tình trạng dạy chay, học chay ở các cấp bậc học;

Thực hiện kết nối Internet trong các nhà trường.

Chương trình phổ cập GD trung học: với mục tiêu cơ bản là thực hiện

phổ cập trung học và tương đương cho thanh thiếu niên trong độ tuổi vào năm

2005 trên cơ sở giữ vững và nâng cao kết quả phổ cập tiểu học, THCS.

Chương trình phát triển đội ngũ GV: mục tiêu là chuẩn hoá đội ngũ GV

ở tất cả các bậc học, ngành học, đủ đảm bảo về cả số lượng, cơ cấu loại hình

và trình độ đào tạo cơ bản thích hợp, trên cơ sở đó từng bước hình thành đội

ngũ GV, chuyên viên có trình độ cao.

Chương trình XH hoá GD&ĐT có các mục tiêu cơ bản: Làm cho toàn

XH quan tâm và đóng góp thiết thực vào sự nghiệp GD&ĐT theo quan điểm

GD là sự nghiệp của toàn dân, do dân và vì dân với sự lãnh đạo của Đảng và

QL của nhà nước; Tăng cường nguồn lực cho GD&ĐT ngoài ngân sách nhà

nước, mở rộng các loại hình ngoài công lập; Hoàn thiện cơ chế QL Nhà nước

về GD&ĐT, đảm bảo công bằng và tạo cơ hội học tập cho mọi người, xây

dựng các quỹ phát triển GD từ các tổ chức kinh tế - XH, và nhân dân đóng góp.

Cùng với xây dựng các chương trình phát triển là một số hệ thống giải

pháp thực hiện như: Tăng dần tỉ trọng chi ngân sách cho GD&ĐT từ 16%

NSNN lên 22% vào năm 2005 và hàng năm tăng 2% NSNN cho GD; Thực



14



hiện XH hoá GD&ĐT, mở rộng các loại hình công lập, dân lập, có chính sách

dành quĩ đất cho xây dựng trường có đầy đủ khối các công trình theo qui định

trường chuẩn QG, xây dựng quĩ GD Thủ đô để phát triển cơ sở hạ tầng cho

GD&ĐT từ các nguồn vốn của dân, của các tổ chức XH; Điều tra thống kê –

đánh giá đội ngũ GV trong toàn Thành phố cả về số lượng, cơ cấu loại hình,

trình độ đào tạo cơ bản, năng lực nghề nghiệp, Mở rộng qui mô đào tạo ở các

trường sư phạm và các trường cao đẳng khác để đáp ứng nhu cầu đủ GV ở các

bậc học nhất là ở bậc THCS; Tiếp tục đào tạo các trình độ cơ bản trên chuẩn

cho một bộ phận GV nhằm hình thành đội ngũ chuyên gia của các ngành học,

chuẩn bị và tích cực triển khai chương trình bồi dưỡng GV theo chu kì, bồi

dưỡng GV phục vụ chương trình đổi mới nội dung GD phổ thông và thay

sách giáo khoa; Phổ cập ngoại ngữ, tin học cho GV; Hoàn thiện cơ chế và

chính sách tuyển dụng, sử dụng đội ngũ GV đặc biệt là đội ngũ GV giỏi. Tăng

cường mối liên hệ Gia đình – Nhà trường – XH; Tổ chức thường xuyên và

hiệu quả đại hội GD các cấp; Hoàn thiện các qui chế tạo cơ sở pháp lý cho

công tác XH hoá GD. Thực hiện cải cách hành chính trong ngành và đổi mới

phương thức QL GD, cụ thể hoá vai trò chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, trách

nhiệm QL GD các cấp. Tăng cường chất lượng của công tác lập KH, dự báo

và QL thông tin trong ngành phục tốt cho sự phát triển của GD&ĐT Thủ đô.

Như vậy, từ việc quán triệt chiến lược phát triển kinh tế XH, chiến lược

phát triển GD của Đảng và nhà nước, Thành phố Hà Nội cũng đã xây dựng

chiến lược, qui hoạch phát triển về GD&ĐT và đã đặt ra yêu cầu từng bước

thực hiện nhiệm vụ chuẩn hoá các trường học trên địa bàn toàn Thành phố

theo đúng tiêu chuẩn Bộ GD&ĐT đã qui định, theo tiêu chuẩn Việt Nam.

1.2.2. Lý luận chung về xây dựng trường chuẩn Quốc gia

- Khái niệm về chuẩn: Chuẩn là cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu,

để hướng theo nó mà làm cho đúng [39].

- Khái niệm về chuẩn QG: Chuẩn QG (chuẩn do nhà nước qui định

bằng pháp luật) [39].

- Từ nhiều khái niệm khác nhau về chuẩn và chuẩn QG: Có thể định

nghĩa trường chuẩn QG là nhà trường có đủ các tiêu chuẩn đạt chuẩn QG do

nhà nước qui định bằng pháp luật.

15



- Trường trung học cơ sở đạt chuẩn QG: Là nhà trường thuộc bậc GD

trung học cơ sở có đầy đủ các tiêu chuẩn đạt với chuẩn qui định trường chuẩn

QG do nhà nước qui định bằng pháp luật. Tại nhà trường THCS đạt chuẩn

QG có đủ các điều kiện để thực hiện GD toàn diện học sinh một cách tốt nhất,

hoạt động của các tổ chức, đoàn thể trong nhà trường cũng thể hiện tốt, tính

đồng thuận luôn được duy trì, các mặt về XH hoá GD cũng được phát huy thu

hút nhân dân cùng tham gia vào quá trình QL GD thể hiện tốt sự kết hợp giữa

ba môi trường GD gia đình- GD nhà trường – GD XH nhằm hình thành cho

học sinh có nhân cách với đủ chuẩn mực mà XH yêu cầu.

Ở nước ta thì tùy từng cấp học mà Bộ GD&ĐT ban hành qui định về

tiêu chuẩn trường học đạt chuẩn QG. Việc phấn đấu đạt danh hiệu trường

chuẩn QG là mục tiêu của các nhà trường vì điều đó thể hiện chất lượng GD

về mọi mặt của nhà trường.

Đối với trường tiểu học, Bộ GD&ĐT có Quyết định số 32 ngày

24/10/2005 ban hành quy chế công nhận trường tiểu học đạt chuẩn QG;

Đối với trường THCS, Bộ GD&ĐT có Quyết định số 27 ngày 5/7/2001

ban hành quy chế công nhận trường THCS đạt chuẩn QG giai đoạn 2001 –

2010 và có Quyết định số 08 ngày 4/3/2005 bổ sung qui chế 27. Trong các

văn bản này qui định khá cụ thể những tiêu chuẩn cần có đối với trường đạt

chuẩn QG tùy theo từng cấp học.

1.2.2.2. Các yêu cầu tiêu chuẩn trường chuẩn Quốc gia nói chung và trường

trung học cơ sở đạt chuẩn Quốc gia nói riêng

a. Các yêu cầu về một trường đạt chuẩn QG nói chung bao giờ cũng

bao gồm đủ 5 tiêu chuẩn sau:

Tiêu chuẩn 1 - Tổ chức nhà trường: Gồm có các qui định về lớp học,

khối lớp; tổ chuyên môn; tổ hành chính – quản trị; các hội đồng và ban đại

diện cha mẹ học sinh; tổ chức Đảng và đoàn thể.

Tiêu chuẩn 2 - Cán bộ QL, GV và NV: Hiệu trưởng và các Phó Hiệu

trưởng đạt tiêu chuẩn quy định theo Điệu lệ trường học; thực hiện tốt quy chế dân

chủ trong hoạt động của nhà trường; được cấp QL GD trực tiếp xếp loại từ khá trở

lên về năng lực và hiệu quả QL; Đủ GV các bộ môn đạt trình độ chuẩn được đào

tạo theo quy định hiện hành trong đó ít nhất có 20% GV đạt tiêu chuẩn dạy giỏi từ

cấp huyện trở lên; có phẩm chất đạo đức tốt; không có GV xếp loại yếu về chuyên



16



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (135 trang)

×