1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.4 MB, 115 trang )


2005 - 2010. Trên cơ sở đề án của Chính phủ các Bô ̣



, ngành liên quan , Bô ̣



Giáo dục - Đào ta ̣o , Bô ̣ Lao đô ̣ng - Thương binh và xã hô ̣i và mô ̣t số Bô ̣



,



ngành khác xây dựng các chương trình , đề án…… triển khai thực hiện .

Liên quan đế n vấ n đề này đã có mô ̣t số bài viế t , công trinh nghiên cứu

̀

đề cập đến, như PGS.TS Cao Văn Sâm: Xây dựng và nâng cao chấ t lươ ̣ng đô ̣i

ngũ giáo viên dạy nghề đáp ứng nhu cầu đào tạo theo ba cấp trình độ (Tạp chí

Khoa ho ̣c giáo du ̣c kỹ thuâ ̣t , số 2, năm 2006) và một số tác giả khác… .

Nhiề u ho ̣c viên tha ̣c sỹ q uản lý giáo dục cũng đã chọn đề tài về quản

lý phát triển đội ngũ giáo viên làm luận văn tốt nghiệp



; các để tài này được



gắ n với các trường.

Đối với trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật công nghệ , đây là đề tài đầ u

tiên được nghiên cứu một cách tương đối bài bản và khoa học về công tác

quản lý đội ngũ giáo viên , nhằ m góp phầ n xây dựng và nâng cao chấ t lươ ̣ng

đô ̣i ngũ đáp ứng với sự phát triể n của nhà trường trong giai đoa ̣n mới .

1.2. Các quan điểm cơ bản của đề tài:

1.2.1. Quản lý:

Quản lý là một trong những loại hình lao động có hiệu quả, quan trọng

nhất trong các hoạt động của con người. Quản lý đúng tức là con người đã

nhận thức được một quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những

thành công to lớn. Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người

muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân; của một tổ

chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế và

đều phải thừa nhận và chịu sự quản lý nào đó. C.Mác đã viết: “… tất cả mọi

lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương

đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động

cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của

toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của



7



nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc

cần phải có nhạc trưởng”.

Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở lên phổ biến, nhưng chưa có một

định nghĩa thống nhất; với các tiếp cận khác nhau, các nhà lý luận đưa ra

nhiều khái niệm về quản lý:

- Khổng tử đã đề cao và xác định rõ vai trò của cá nhân người quản lý,

theo ông: Người quản lý mà chính trực thì không cần bỏ tốn công sức mà vẫn

khiến người ta làm theo.

- Harold kootz quan niệm: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm

bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm. Mục

tiêu của các nhà quản lý là hình thành một môi trường mà con người có thể

đạt được các mục tiêu của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất ít nhiều, với

tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật còn với kiến thức thì quản lý

là một khoa học” [12, tr. 90].

- W.taylor một nhà quản lý người Mỹ đưa ra khái niệm: “Quản lý là

nghệ thuật, biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và cái đó làm thế nào, bằng

phương pháp tốt nhất, rõ nhất” [12, tr.89].

Ở Việt Nam, cũng có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu khái

niệm quản lý:

- Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế

hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động nói chung, là khách thể

quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến”.

- Theo Đặng Vũ Hoạt: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình

có mục tiêu, quản lý một hệ thống có mục tiêu nhằm đạt được những mục tiêu

nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà

người quản lý mong muốn”.



8



- Theo Vũ Ngọc Hải khi xem quản lý với tư cách là một hành động đã

đưa ra định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ

thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra”.

- Quản lý là hoạt động tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể

quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (đối tượng quản lý) trong một

tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức

[10, tr. 46].

- Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể

quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng

quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các

luật lệ, chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các giải pháp cụ thể

nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng [2, tr.16].

- Theo quan điểm tiếp cận hệ thống: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch

tổ chức lãnh đạo và kiểm tra công tác của các thành viên thuộc hệ thống đơn

vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định

[14, tr. 21].

Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý như đã dẫn ở trên

nhưng có thể nhận thấy điểm chung của quản lý mà các khái niệm trên đều đề

cập là:

- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác

định.

- Quản lý là thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận chủ thể quản lý và

đối tượng (khách thể) quản lý, đây là quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng

cấp và có tính bắt buộc.

- Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người.

- Quản lý không chỉ thể hiện ý trí của chủ thể mà còn là sự nhận thức

và thực hiện hoạt động theo quy luật khách quan.



9



Từ những dấu hiệu đặc trưng nêu trên, tôi lựa chọn cách hiểu quản lý

như sau: Quản lý là sự tác động, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách

thể quản lý nhằm khai thác và sử dụng tối đa các tiềm năng của cá nhân cũng

như của tổ chức để đạt được mục tiêu đã đề ra.

Theo cách hiểu trên, quản lý tồn tại với tư cách như là một hệ thống

bao gồm những thành tố cấu trúc cơ bản sau:

- Chủ thể quản lý: trọng tâm thực hiện những tác động hướng đích, có

chủ định đến các đối tượng quản lý. Chủ thể quản lý có thể tồn tại với tư cách

là cá thể nhưng cũng có thể là một tập thể.

- Đối tượng quản lý (khách thể): những đối tượng tiếp nhận tác động

hướng đích của chủ thể quản lý và được biến đổi dưới những tác động này.

Đối tượng quản lý rất đa dạng, từ giới vô sinh đến vật nuôi, cây trồng và con

người cùng các tổ chức cũng như hành vi của nó.

- Mục tiêu quản lý: trạng thái đầu ra cần và có thể có của tổ chức. Mục

tiêu chỉ đạt trong tương lai mà mọi hoạt động của tổ chức sẽ hướng đến để đạt

được.

- Cơ chế quản lý: Phương thức vận động hợp quy luật của hệ thống

quản lý. Cơ chế quản lý bao gồm tập hợp những quy định có tác dụng điều

khiển, điều chỉnh mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý.

Chủ thể quản lý



Mục tiêu quản lý



Cơ chế quản lý



Đối tượng quản lý

Hình 1.1. Sơ đồ mô tả hệ thống cấu trúc hệ thống quản lý



10



- Các chức năng cơ bản của quản lý:

Chức năng của quản lý là hình thức thể hiện sự tác động có chủ định

của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. Đó là tập hợp những nhiệm vụ

khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý, gồm:

+ Lập kế hoạch: là quá trình thiết lập các mục tiêu của hệ thống, các

quy định, thể thức, các hoạt động và các điều kiện đảm bảo thực hiện được

các mục tiêu đó.

+ Tổ chức: là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và

nguồn lực cho các bộ phận, các thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động

và đạt được mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả.

+ Lãnh đạo: là quá trình tác động đến các thành viên của tổ chức làm

cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu đạt các mục tiêu của tổ chức.

+ Kiểm tra: là những hoạt động của chủ thể quản lý nhằm tìm ra những

mặt ưu điểm, mặt hạn chế, qua đó đánh giá, điều chỉnh và xử lý những kết

quả của quá trình vận hành tổ chức, làm cho mục đích của quản lý được hiện

thực hoá một cách đúng hướng và có hiệu quả.

Các chức năng quản lý có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, đan

xen và ảnh hưởng lẫn nhau. Khi thực hiện chức năng này thường liên quan

đến các chức năng khác ở mức độ khác nhau.

Có thể mô tả mối quan hệ giữa các chức năng của quản lý theo sơ đồ

sau:

Môi



Lập kế hoạch



Tổ chức



Ý tưởng



trường



hoạt



ngoài



động

Lãnh đạo



Kiểm tra



Hình 1.2. Sơ đồ mô tả mối quan hệ giữa các chức năng quản lý



11



1.2.2. Quản lý giáo dục:

Từ nền tảng của khoa học quản lý xuất hiện nhiều khoa học quản lý

chuyên ngành, trong đó có khoa học về quản lý giáo dục.

Do có những cách nhìn nhận giáo dục ở những góc độ khác nhau nên

trong thực tế tồn tại nhiều khái niệm có nhiều nội dung khác nhau, ở đây chỉ

đề cập đến khái niệm quản lý giáo dục như là quản lý một hệ thống mà hạt

nhân của hệ thống đó là các cơ sở giáo dục, đào tạo (trường học).

Với cách hiểu này, P.V Khudominski cho rằng “Quản lý giáo dục là tác

động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức, có mục đích của chủ thể quản lý ở

các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ Giáo dục và Đào

tạo đến trường học) nhằm đảm bảo việc giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế

hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hoà của họ trên cơ sở nhận thức

và sử dụng các quy luật về giáo dục, của sự phát triển cũng như các quy luật

khách quan của quá trình dạy học và giáo dục, của sự phát triển thể chất và

tâm lý trẻ em” [14, tr.34].

Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức

và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt

xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách

cho thế hệ trẻ trên cơ sở quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể

lực, trí tuệ và tâm lực trẻ em.

Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp

quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối

của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt

Nam mà tiêu điểm là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống

giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.

Từ những phân tích trên, có thể quan niệm: Quản lý giáo dục là hệ

thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý,

nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành theo đường lối chủ trương của



12



Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam

mà điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo

dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái về chất.

1.2.3. Quản lý nhà trường:

Là nội dung cơ bản và quan trọng nhất trong hệ thống quản lý giáo dục

giáo dục. Quản lý nhà trường là cấp quản lý cơ sở của ngành giáo dục.

- Theo Giáo sư tiến sỹ Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý trường học là hệ

thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể

quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của

Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt

Nam, mà tiêu chuẩn hội tụ là quá trình dạy học giáo dục thế hệ trẻ đưa hệ giáo

dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.

- Theo Giáo sư viện sỹ Phạm Minh Hạc: Quản lý nhà trường là thực

hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là

đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo

dục, mục tiêu đào tạo với ngành giáo dục với thế hệ trẻ và với từng người học.

Như vậy, quản lý nhà trường chính là công việc của Ban giám hiệu

đứng đầu là Hiệu trưởng. Dựa vào các chức năng quản lý của nhà trường mà

Hiệu trưởng thực hiện được nhiệm vụ giao phó. Việc phát triển đội ngũ giáo

viên trong nhà trường là một trong những nhiệm vụ cơ bản để Hiệu trưởng

thực hiện chức năng quản lý nhà trường.

Nhìn chung, quản lý nhà trường là hệ thống xã hội sư phạm đã được

chuyên môn hoá, quy định tác động có ý thức, có kế hoạch và định hướng của

chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường. Trong các chức

năng cơ bản của hệ thống quản lý thì việc tổ chức hợp lý mang tính khoa học

các công việc của nhà trường trong mối liên hệ với các thành tố có tính biến

đổi vô cùng phức tạp.

Vì vậy, quản lý nhà trường phải là quản lý toàn diện:



13



- Quản lý toàn thể đội ngũ các phòng, khoa, trung tâm, các tổ bộ môn,

các tổ chuyên trách nhà trường.

- Quản lý đội ngũ giáo viên.

- Quản lý học sinh, sinh viên.

- Quản lý quá trình dạy học giáo dục.

- Quản lý công tác nghiên cứu khoa học.

- Quản lý hành chính, tài chính, cơ sở vật chất của nhà trường.

- Thiết lập mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng xã hội.

Vì vậy, vai trò lãnh đạo của Ban giám hiệu đặc biệt là Hiệu trưởng cực

kỳ quan trọng trong việc quản lý nhà trường thành một nhà trường đạt tiêu

chuẩn theo quy định, công việc phải được tiến hành từng bước, có kế hoạch

cụ thể.

1.2.4. Quản lý nguồn nhân lực:

Nguồn nhân lực là một khái niệm cơ bản, là đối tượng nghiên cứu của

môn khoa học Quản lý tổ chức - Quản trị học, Từ góc độ quản trị học, nguồn

nhân lực được hiểu là nguồn tài nguyên nhân sự và các vấn đề nhân sự trong

tổ chức cụ thể. Nguồn nhân lực chính là vấn đề nguồn lực con người - nhân tố

con người trong một tổ chức cụ thể nào đó. Điều đó, có nghĩa là: “Nguồn

nhân lực phải thừa nhận là nguồn vốn và là tài sản quan trọng nhất định của

mọi loại hình quy mô tổ chức” [8, tr.35].

Theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo nguồn nhân lực được quan niệm: “Là

tổng thể tiềm năng lao động của một đất nước, một cộng đồng cả trong độ

tuổi lao động và ngoài độ tuổi lao động nó được quản lý chăm sóc và phát

triển đối với cá nhân con người từ thủa ấu thơ, tuổi vị thành niên, tuổi lao

động và cả sau thời kỳ tuổi lao động” [2, tr.69].

Theo quan niệm của UNESCO: “Con người vừa là mục đích, vừa là tác

nhân của sự phát triển” và “Con người được xem như một tài nguyên, một

nguồn lực hết sức cần thiết”. Ngân hàng thế giới (WB) quan niệm: Có hai loại



14



vốn đó là vốn con người và vốn vật chất, trong đó sự phát triển của vốn con

người quyết định sự phát triển của mọi vốn khác.

Quản lý nguồn nhân lực: Đó là một chức năng của nhà quản lý thể hiện

trong việc lựa chọn, đào tạo, xây dựng và phát triển các thành viên của tổ

chức do mình phụ trách. Hoạt động này bao gồm việc dự báo và kế hoạch

nguồn nhân lực, tuyển chọn, đào tạo và phát triển, thẩm định kết quả hoạt

động, đề bạt, bổ nhiệm, thuyên chuyển, sa thải, trong đó cốt lõi là đào tạo,

phát triển và sử dụng đạt hiệu quả cao nhất.

Quan điểm về phát triển nguồn nhân lực của Leonard (Mỹ) vào

năm 1980, thể hiện qua sơ đồ sau



Phát triển nguồn

nhân lực



Sử dụng nguồn

nhân lực



- Giáo dục



- Tuyển dụng



- Đào tạo



- Sàng lọc



- Bồi dưỡng



- Bố trí



- Phát triển



- Đánh giá



- Nghiên cứu, phục vụ



- Đãi ngộ



Môi trường nguồn

nhân lực



- Mở rộng chủng loại

làm việc

- Mở rộng quy mô

làm việc

- Phát triển tổ chức



- Kế hoạch hoá sức lao động

1.2.4. Giáo viên, giáo viên dạy nghề:

1.2.4.1. Giáo viên:

Theo luật Giáo dục năm 2005:

Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường,

cơ sở giáo dục khác.

Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non , giáo dục phổ thông ,

giáo dục nghề nghiệp gọi là gi áo viên; ở cơ sở giáo dục Đại học gọi là giảng

viên).



15



1.2.4.2. Giáo viên dạy nghề:

Theo luật Dạy nghề năm 2006:

Giáo viên dạy nghề là người dạy lý thuyết, dạy thực hành hoặc vừa dạy

lý thuyết vừa dạy thực hành trong các cơ sở dạy nghề.

1.2.5. Đội ngũ giảng viên/giáo viên:

- Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về đội ngũ, các khái niệm đội

ngũ dùng cho các tổ chức xã hội một cách rộng rãi như: Đội ngũ cán bộ công

chức, đội ngũ trí thức, đội ngũ văn nghệ sỹ, đội ngũ những người tình

nguyện… đều xuất phát từ cách hiểu đội ngũ theo thuật ngũ quân sự: đó là

gồm nhiều người, tập hợp thành một lực lượng, đội ngũ chỉnh tề.

Theo từ điển Tiếng Việt: “Đội ngũ là một tập hợp gồm một số đông

người cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp hợp thành lực lượng hoạt

động trong một hệ thống (tổ chức) nhất định” [23, tr.339]. Như vậy, đội ngũ

được cấu thành bởi các yếu tố sau:

+ Là một tập hợp người.

+ Có cùng mục đích, một lý tưởng.

+ Gắn bó với nhau về quyền lợi vật chất và tinh thần.

Từ những phân tích trên có thể phát biểu khái niệm ĐNGV như sau:

ĐNGV là tập hợp những người làm nghề dạy học, giáo dục trong các nhà

trường phổ thông, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề, có cùng mục đích, lý

tưởng, được tổ chức thành một lực lượng có tổ chức, cùng chung một nhiệm

vụ là thực hiện mục tiêu giáo dục đã đề ra cho một đơn vị, họ gắn bó với nhau

thông quan lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ quy định của pháp

luật.

Đối với ngành Giáo dục - Đào tạo nói chung và đối với nhà trường nói

riêng, quản lý ĐNGV là một trong những nội dung quan trọng nhất trong

quản lý nguồn nhân lực.

- Quản lý ĐNGV:



16



+ Quản lý ĐNGV là quản lý các nội dung: Số lượng, cơ cấu, chất lượng

và hoạt động nghề nghiệp của ĐNGV, nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu giáo

dục đào tạo của nhà trường trong từng thời điểm nhất định.

+ Quản lý ĐNGV phải thực hiện theo Quy chế, quy định thống nhất

trên cơ sở luật pháp của Nhà nước, theo sự hướng dẫn, chỉ đạo của Bộ, ngành

chủ quản.Quản lý ĐNGV cần phải có phương pháp khoa học và tổng hợp mọi

nỗ lực để đạt hiệu quả ngày càng cao trong việc xây dựng đội ngũ về số

lượng, chất lượng và cơ cấu cùng với việc không ngừng nâng cao năng lực,

phẩm chất đạo đức của đội ngũ giáo viên.

1.2.6. Phát triển đội ngũ giảng viên/giáo viên:

ĐNGV là nguồn nhân lực cơ bản của nhà trường, phát triển

ĐNGVchính là phát triển nguồn nhân lực trong nhà trường. Việc phát triển

ĐNGV là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển

nhà trường.

Phát triển ĐNGV vừa nhằm mục tiêu phục vụ yêu cầu tăng quy mô đào

tạo, nâng cao chất lượng giảng dạy ở giai đoạn hiện tại, vừa chuẩn bị cho

những bước phát triển tiếp theo của nhà trường. Phát triển ĐNGV là việc làm

hết sức cần thiết trên cả ba phương diện: Số lượng, chất lượng và cơ cấu.

Theo từ điển Tiếng Việt: “Phát triển là việc phổ biến hoặc làm cho biến

đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp”.

Theo quan niệm này, mọi sự vật, hiện tượng, con người, xã hội biến đổi

tăng tiến số lượng, thay đổi chất lượng, kể cả dưới tác động của bên ngoài làm

cho biến đổi tăng tiến đều được coi là phát triển.

Như vậy, ta có thể hiểu: Phát triển ĐNGV là phạm trù chỉ sự tăng tiến,

chuyển biến theo hướng tích cực của ĐNGV trong việc hoàn thành mục tiêu

giáo dục - đào tạo của nhà trường.

Muốn phát triển ĐNGV, trước hết phải chăm lo cho đủ về số lượng và

vững mạnh về trình độ, có thái độ nghề nghiệp tốt, tận tụy với nghề để thực



17



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (115 trang)

×