1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

Chương 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TẠI TRƢỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.4 MB, 115 trang )


Đông nam á; dự kiến hoàn thành vào năm 2012. Dự án hoàn thành sẽ đáp ứng

quy mô đào tạo 4.000 học sinh, sinh viên/năm.

Trường được thành lập và đi vào hoạt động tuy mới 9 năm nhưng

trường đã nhanh chóng hòa nhập được vào nhịp độ hoạt động chung của các

trường dạy nghề và từng bước khẳng định được vị thế của một trường nghề

đào tạo có chất lượng. Trường đã được Bộ Lao động - Thương binh và xã hội

tặng cờ và bằng khen nhiều năm liền. Năm 2005, trường vinh dự đón nhận

Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ về thành tích đào tạo. Năm 2007, được

Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng ba về thành tích phát triển

nhà trường. Nhiều cá nhân và tập thể được tặng bằng khen của Bộ. Chi bộ

Đảng nhiều năm liền là cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, Công đoàn và

Đoàn thanh niên nhà trường liên tục đạt danh hiệu cơ sở vững mạnh.

2.1.2. Nhiệm vụ, mục tiêu:

2.1.2.1. Chức năng:

Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật công nghệ là trường dạy nghề công

lập theo hệ thống giáo dục quốc dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt

Nam, có chức năng đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao đẳng nghề, trung cấp

nghề, sơ cấp nghề; theo quy định của Luật Dạy nghề.

2.1.2.2. Nhiệm vụ của trường:

- Đào tạo nghề theo ba cấp trình độ: cao đẳng nghề, trung cấp nghề, sơ

cấp nghề.

- Bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động theo

yêu cầu của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và người lao động.

- Nghiên cứu, ứng dụng kỹ thuật - công nghệ nâng cao chất lượng, hiệu

quả đào tạo.

- Tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ theo quy định của phát luật.



36



2.1.2.3. Mục tiêu của trường:

- Mục tiêu chung: phát triển trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật công nghệ

thành trường trọng điểm quốc gia, tiếp cận trình độ khu vực Đông nam á.

- Mục tiêu cụ thể:

+ Quy mô đào tạo vào năm 2010 đạt 3.500 học sinh, sinh viên và 6.000

học sinh vào năm 2015.

+ Là trung tâm đào tạo nhân lực kỹ thuật cao đáp ứng nhu cầu lao động

kỹ thuật cao trong nước và quốc tế. Tập trung phát triển một số nghề trọng

điểm: công nghệ ô tô, cắt gọt kim loại, công nghệ hàn đến năm 2010 tiếp cận

trình độ khu vực Đông nam á.

+ Trường có đủ năng lực đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy

nghề.

+ Là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng lao động xuất khẩu và cán bộ quản

lý xuất khẩu lao động.

+ Là trung tâm đánh giá chất lượng và cấp văn bằng chứng chỉ nghề

quốc gia và là cơ sở luyện thi tay nghề cho thí sinh tham dự các kỳ thi tay

nghề quốc gia và khu vực.

2.1.3. Ngành nghề đào tạo:

Hiện trường đang đào tạo các nghề:

- Cắt gọt kim loại

- Hàn

- Điện công nghiệp

- Điện tử công nghiệp

- Công nghệ ô tô

- Sửa chữa và lắp ráp máy vi tính

- Quản trị mạng

- May và thiết kế thời trang

Trường đang chuẩn bị các điều kiện để mở thêm một số nghề:



37



+ Chế biến dầu thực vật

+ Kế toán doanh nghiệp

+ Quản trị khách sản

+ Cơ điện tử

+ Bảo trì thiết bị công nghiệp

+ Và một số nghề khác theo nhu cầu xã hội

2.1.4. Định hướng phát triển nhà trường:

Phát triển trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật công nghệ thành trường

trọng điểm quốc gia đa ngành, đa trình độ đào tạo, phấn đấu đến năm 2015

đạt trường cao đẳng nghề tiếp cận trình độ khu vực ASEAN.

2.1.5. Cơ cấu tổ chức của trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật công nghệ:

Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật công nghệ là đơn vị sự nghiệp chịu sự

quản lý trực tiếp của Tổng cục Dạy nghề, Bộ Lao động - Thương binh và xã

hội. Cơ cấu tổ chức của trường:

- Hội đồng trường

- Ban giám hiệu, gồm: hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng

- Các phòng chuyên môn nghiệp vụ :

+ Phòng đào tạo

+ Phòng thực tập sản xuất

+ Phòng công tác học sinh, sinh viên

+ Phòng khoa học và hợp tác quốc tế

+ Phòng kế toán - tài vụ

+ Phòng tổ chức - hành chính - quản trị

- Các khoa và bộ môn thuộc trường:

+ Khoa cơ khí chế tạo

+ Khoa cơ khí động lực

+ Khoa điện

+ Khoa điện tử - điện lạnh



38



+ Khoa công nghệ thông tin

+ Khoa may và thời trang

+ Khoa khoa học cơ bản

2.2. Thực trạng đội ngũ giáo viên các trƣờng dạy nghề trong cả nƣớc

2.2.1. Các vấn đề chung:

Trước khi tìm hiểu thực trạng đội ngũ giáo viên các trường dạy nghề

hãy cùng nhìn lại công tác đào tạo đội ngũ giáo viên dạy nghề. Năm 1970, cả

nước mới có 4 trường đào tạo giáo viên dạy nghề do Tổng cục đào tạo công

nhân kỹ thuật thuộc Bộ Lao động lúc đó quản lý. Các trường này, đào tạo

giáo viên dạy nghề chủ yếu ở trình độ trung cấp, chủ yếu dạy thực hành ở các

trường đào tạo công nhân kỹ thuật phục vụ cho các ngành công nghiệp. Đến

nay, tất cả các trường sư phạm kỹ thuật đã được nâng cấp thành Đại học sư

phạm kỹ thuật và đào tạo giáo viên cho các trường dạy nghề theo một chương

trình tương đối thống nhất. Để đáp ứng tình hình phát triển của hệ thống đào

tạo nghề, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho mở 5 khoa sư phạm kỹ thuật trong 5

trường Đại học: Đại học Bách khoa Hà nội, Đại học Nông nghiệp I Hà nội,

Đại học kỹ thuật công nghiệp Thái nguyên, Đại học sư phạm Huế, Đại học kỹ

thuật Đà nẵng. Sự thành lập 5 khoa sư phạm này cùng với trường Đại học sư

phạm Thủ đức - Thành phố Hồ Chí Minh đã đào tạo ra một mạng lưới đào tạo

giáo viên dạy nghề trên một diện rộng trong toàn quốc. Với hệ thống các

trường và các khoa sư phạm kỹ thuật thuộc một số trường tham gia đào tạo

giáo viên dạy nghề, nhìn chung là chưa đáp ứng được nhu cầu về đội ngũ giáo

viên dạy nghề. Trước tình hình đó năm 2008, Tổng cục Dạy nghề đã có tờ

trình Bộ Lao động - Thương binh và xã hội cho phép một số trường cao đẳng

thành lập khoa sư phạm và để đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề. tuy

nhiên, hiện nay trong hầu hết các trường, các khoa sư phạm kỹ thuật chuyên

ngành đào tạo còn nhiều hạn chế và chưa đáp ứn được nhu cầu về giáo viên

dạy nghề. Do vậy, đội ngũ giáo viên dạy nghề ngoài việc được tuyển chọn từ



39



các cơ sở đào tạo nói trên còn được lựa chọn từ nhiều nguồn khác như các

trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, thậm chí trong một số

trường hợp giáo viên dạy nghề còn được tuyển chọn từ những công nhân thạo

nghề.

Tất cả những điều này đã làm cho chất lượng đội ngũ giáo viên dạy

nghề không đồng bộ, còn nhiều yếu kém so với yêu cầu.



Tốt nghiệp ĐH,

CĐ, TH KT

(dạy LT)



Tốt nghiệp ĐH,

CĐSPKT

(dạy LT+TH)

Giáo viên

dạy nghề

Tốt nghiệp các

trường DN

(dạy TH)



Nghệ nhân,

CN lành nghề

(dạy TH)



Sơ đồ 2.1. Những con đƣờng trở thành giáo viên dạy nghề

2.2.2. Số lượng:

Theo số lượng thống kê của Tổng cục Dạy nghề, tính đến tháng

12/2007 cả nước có 20.195 giáo viên dạy nghề trong các trường Cao đẳng

nghề, Trung cấp nghề và Trung tâm dạy nghề. Trong đó, có 4.678 giáo viên

trong các trường cao đẳng nghề; 9.583 giáo viên tại các trường trung cấp

nghề; 5.934 giáo viên tại các trung tâm dạy nghề. Ngoài ra có 15.767 giáo

viên trong các cơ sở khác có tham gia dạy nghề (các trường trung học chuyên

nghiệp, cao đẳng và đại học).



40



Bảng 2.1. Số lƣợng giáo viên dạy nghề tính đến 31/12/2007

Cơ sở dạy nghề



TT



Số lƣợng



Tỷ lệ %



1



Cao đẳng nghề



4.678



23,17



2



Trung cấp nghề



9.583



47,45



3



Trung tâm dạy nghề



5.934



29,38



(Nguồn: Tổng cục Dạy nghề 2008)

- Tỷ lệ học sinh nghề dài hạn/giáo viên ở các trường cao đẳng nghề và

trung cấp nghề năm học 2007 - 2008 vào khoảng 24HS/giáo viên.

- Tỷ lệ học sinh/lớp:

+ Đối với lớp dạy lý thuyết trung bình khoảng 30 - 35 HS/lớp.

+ Đối với lớp dạy thực hành trung bình đạt khoảng 15 - 20HS/lớp.

- Giới tính: giáo viên là nữ có: 8.868/35.962 người chiếm 24,66%.

- Độ tuổi:

+ Giáo viên có độ tuổi dưới 30 có: 13.347/35.962 người chiếm 37,11%.

+ Giáo viên có độ tuổi từ 30 đến 40 có: 11.312/35.962 người chiếm

31,46%.

+ Giáo viên có độ tuổi từ 40 đến 50 có: 7.527/35.962 người chiếm

20,93%.

+ Giáo viên có độ tuổi trên 50 đến dưới 60 có: 3.376/35.962 người

chiếm 10,50%.

2.2.3. Chất lượng:

2.2.3.1. Đạt chuẩn, chưa đạt chuẩn:

Theo thống kê của Tổng cục Dạy nghề, tính đến 31/12/2007.

- Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn: Tính chung cho khối các trường và các

trung tâm dạy nghề có : 14.187GV/20.195 giáo viên đạt chuẩn, đạt tỷ lệ

70,25%.



41



Bảng 2.2. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn

Khối trƣờng



TT



GV đạt chuẩn/ tổng số



Tỷ lệ %



1



Các trường cao đẳng nghề



3.351/4.678



71,63



2



Các trường trung cấp nghề



7.644/9.583



79,77



3



Các trung tâm dạy nghề



3.192/5.934



53,80



4



Các cơ sở khác có dạy nghề



10.343/15.767



65,60



(Nguồn: Tổng cục Dạy nghề 2008)

- Tỷ lệ giáo viên chưa đạt chuẩn: Tính chung cho khối truòng và trung

tâm dạy nghề có : 2.913GV/20.195 giáo viên chưa đạt chuẩn, chiếm tỷ lệ

14,42%.

Bảng 2.2. Tỷ lệ giáo viên chƣa đạt chuẩn

TT



Nội dung chƣa đạt chuẩn



GV / tổng số



Tỷ lệ %



1



Về chuyên môn



820/20.195



4,06



2



Về kỹ năng nghề



518/20.195



2,56



3



Về sư phạm



1.575/20.195



7,80



4



Khối các cơ sở khác có dạy nghề



1.479/15.767



65,60



(Nguồn: Tổng cục Dạy nghề 2008)

2.2.3.2. Trình độ đào tạo:

Bảng 2.3. Trình độ đào tạo của giáo viên dạy nghề

Trình độ



TT



Tổng số



Khối các trƣờng

CĐ, TC, TT



Các cơ sở khác

có dạy nghề



Số lƣợng



Tỷ lệ %



Số lƣợng



Tỷ lệ %



1



Tiến sỹ



188



83



44,15



105



55,85



2



Thạc sỹ



3.594



927



25,29



2.667



74,21



3



Đại học



16.474



9.707



58,92



6.767



41,08



4



Cao đẳng



5.927



3.663



61,8



2.264



38,2



5



Nghệ nhân, tay nghề cao



5.344



3.399



63,60



1.945



39,40



(Nguồn: Tổng cục Dạy nghề 2008)



42



Theo số liệu thống kê cho thấy trình độ đào tạo của đội ngũ giáo viên

dạy nghề ở nước ta là rất đa dạng. Tỷ lệ giáo viên có trình độ trên đại học

trong khối trường dạy nghề là tương đối thấp. Điều này đã thể hiện một phần

yếu kém về trình độ của đội ngũ giáo viên dạy nghề, đồng thời cũng đòi hỏi

các trường và cơ sở dạy nghề phải chú trọng hơn tới vấn đề phát triển đội ngũ

giáo viên dạy nghề trong thời gian tới.

2.2.3.3. Trình độ sư phạm:

Như đã trình bày ở phần trên, giáo viên dạy nghề được tuyển dụng từ

nhiều nguồn khác nhau, trong đó số lượng giáo viên được tuyển dụng từ các

trường sư phạm nghề chiếm tỷ lệ là không nhiều, do đó một bộ phận giáo viên

dạy nghề chưa được đào tạo về nghiệp vụ sư phạm, điều này ảnh hướng tới

năng lực sư phạm của người giáo viên. Từ năm 1993, thực hiện chương trình

chuẩn hoá đội ngũ giáo viên các chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm

được chú trọng hơn, nên số lượng giáo viên được đào tạo nâng cao về nghiệp

vụ sư phạm ngày càng tăng. Điều này, thể hiện rõ nỗ lực của các ngành các

cấp có trách nhiệm trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề

trong những năm qua là rất lớn.

Theo số lượng thống kê của Tổng cục Dạy nghề tính đến 31/12/2007

thì số giáo viên dạy nghề trong khối các trường nghề đã qua đào tạo, bồi

dưỡng nghiệp vụ sư phạm (sư phạm bậc II, sư phạm kỹ thuật, sư phạm dạy

nghề).

Bảng 2.4. Trình độ sƣ phạm kỹ thuật, sƣ phạm nghề, sƣ phạm bậc II

TT



Trƣờng nghề



Nghiệp vụ sƣ phạm (%)



1



Trường cao đẳng nghề



81,91



2



Trường trung cấp nghề



72,68



3



Trung tâm dạy nghề



50,49



(Nguồn: Tổng cục Dạy nghề 2008)



43



2.2.3.4. Năng lực tin học, ngoại ngữ:

Bảng 2.5. Trình độ ngoại ngữ của đội ngũ giáo viên dạy nghề.



TT



Ngoại ngữ (%)



Trƣờng

CN



C



B



A



1



Trường cao đẳng nghề



4,24



10,02



32,98



35,12



2



Trường trung cấp nghề



7,01



9,5



24,4



31,83



3



Trung tâm dạy nghề



5,36



7,1



17,97



24,47



(Nguồn: Tổng cục Dạy nghề 2008)

Bảng 2.6. Trình độ tin học của đội ngũ giáo viên dạy nghề.



TT



Trƣờng



Tin học (%)

CN



C



B



A



1



Trường cao đẳng nghề



4,7



5,43



29,37



39,42



2



Trường trung cấp nghề



6,59



7,04



23,42



36,74



3



Trung tâm dạy nghề



9,77



3,86



13,51



34,28



(Nguồn: Tổng cục Dạy nghề 2008)

Theo số liệu thống kê có: 25.314GVDN/35.962 giáo viên dạy nghề có

trình độ ngoại ngữ tiếng anh và ngoại ngữ khác (trình độ từ A đến cử nhân)

chiếm 70,4%; trong đó các trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề và trung

tâm dạy nghề chiếm 66,88%. có 25.507GVDN/35.962 giáo viên dạy nghề có

trình độ tin học cơ sở đến cử nhân; trong đó có 78,92% giáo viên tại các

trường cao đẳng nghề và có 61,42% giáo viên trong các trung tâm dạy nghề.

2.2.3.5. Hoạt động nghiên cứu khoa học:

Một trong những tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng và trình độ đội ngũ

giáo viên là thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học. Đội ngũ giáo viên dạy

nghề có trình độ không cao (số lượng giáo viên có trình độ trên đại học thấp)



44



điều này đã ảnh hưởng tới hoạt động nghiên cứu, tìm tòi và sáng tạo của đội

ngũ giáo viên dạy nghề. Nhìn chung, đa phần giáo viên đều có mong muốn

tham gia nghiên cứu khoa học nhưng do nhiều điều kiện cả chủ quan và khách

quan nên số lượng giáo viên dạy nghề tham gia vào các hoạt động nghiên cứu

khoa học là không nhiều. Do đó, các trường nghề, các cơ sở đào tạo cần có

các biện pháp bồi dưỡng, khuyến khích và hỗ trợ để giáo viên có điều kiện và

động lực tốt hơn trong việc nghiên cứu khoa học.

2.2.4. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy nghề:

- Công tác đào tạo giáo viên dạy nghề được tiến hành trong hệ thống

các trường, khoa sư phạm kỹ thuật. Hệ thống này hiện gồm 5 trường Đại học

sư phạm kỹ thuật và một số khoa sư phạm của một số trường đại học kỹ thuật

như: Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Thái nguyên, Đại học Nông nghiệp

I, Đại học Đà nẵng v.v…. thực hiện chức năng đào tạo giáo viên dạy nghề. Để

đáp ứng nguồn nhân lực giáo viên dạy nghề trong những năm qua quy mô

ngành, nghề đào tạo trong các trường sư phạm kỹ thuật tiếp tục được mở

rộng, nội dung thường xuyên được đổi mới.

Theo báo cáo sơ kết thực hiện Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg của Thủ

tướng Chính phủ (giai đoạn 2005 - 2008) của Tổng cục Dạy nghề về việc

triển khai đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán

bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 - 2008”. Kết quả đạt được như sau:

+ Trong năm 2005, chương trình khung chứng chỉ sư phạm dạy nghề

đã được ban hành để áp dụng thống nhất trong đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ

sư phạm cho giáo viên dạy nghề. Đến nay, 392 giáo viên trong các trường

Cao đẳng, 1.463 giáo viên trong các trường Trung cấp và 609 giáo viên trong

các Trung tâm dạy nghề đã qua cá lớp bồi dưỡng theo chương trình khung

chứng chỉ sư phạm dạy nghề.

+ Từ năm 2007, Tổng cục Dạy nghề đã chỉ đạo xây dựng thí điểm mô

hình khoa sư phạm trong các trưuờng Cao đẳng nghề để làm nhiệm vụ đào tạo



45



và bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy nghề. Đầu năm 2008, đã thành lập thêm

03 khoa sư phạm nghề và cho thí điểm sử dụng chương trình khung chúng chỉ

sư phạm dạy nghề để đào tạo bồi dưỡng giáo viên dạy nghề ở 03 trường Cao

đẳng nghề.

+ Từ năm 2007 - 2008, bằng nguồn vốn chương trình mục tiêu, Tổng

cục Dạy nghề đã đầu tư 07 bộ trang thiết bị phòng phương pháp của khoa sư

phạm nghề ở 07 trường nghề.

- Công tác bồi dưỡng chuẩn hoá, bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng

nâng cao năng lực cho giáo viên dạy nghề đã được quan tâm. Trong năm 2007

bằng nguồn lực từ các chương trình mục tiêu Quốc giao Giáo dục - Đào tạo

đã có 18 lớp bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề cho 270 giáo viên, 25 lớp bồi

dưỡng công nghệ mới cho 375 giáo viên, 11 lớp bòi dưỡng nghiệp vụ sư

phạm cho 220 giáo viên trên cả nước. Bên cạnh đó, đội ngũ giáo viên được

bồi dưỡng nâng cao năng lực về chuyên môn, nghiệp vụ ở nước ngoài từ

nguồn lực của các dự án như: Dự án giáo dục kỹ thuật và dạy nghề; dự án

tăng cường các trung tâm dạy nghề; dự án hợp tác giữa Tổng cục Dạy nghề và

tổ chức Inwent.

+ Công tác bồi dưỡng cho giáo viên dạy nghề được thực hiện linh hoạt,

mềm dẻo để giáo viên có thể vừa giảng dạy vừa tham gia bồi dưỡng, hoạt

động bồi dưỡng còn được thông qua hoạt động Hội giảng, hội thi các cấp.

+ Năm 2008, bằng nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia về Giáo

dục và Đào tạo đã tập huấn cho giáo viên dạy nghề về kỹ năng sử dụng

chương trình khung của 48 nghề và kỹ năng giảng dạy theo modul cho giáo

viên trường Cao đẳng nghề, trung cấp nghề với khoảng 3.000 người. Tập

huấn tiếng anh theo chuẩn TOEIC cho 500 giáo viên của các trường Cao đẳng

nghề, trung cấp nghề trong toàn quốc. Bằng nguồn vốn của dự án Giáo dục kỹ

thuật và dạy nghề đã bồi dưỡng cho khoảng 100 giáo viên các trường Cao

đẳng nghề, Tổng cục Dạy nghề tại các nước Đức, Pháp, Ý về chuyên đề



46



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (115 trang)

×