1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

2 Một số khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.41 MB, 120 trang )


trường mà trong đó con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời

gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành

thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một

khoa học”.

Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “ Quản lý là sự tác động liên tục có

tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản

lý) lên khách thể (đối tượng) quản lý về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội,

kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ các chính sách, các nguyên tắc, các

phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho

sự phát triển của đối tượng”.[16]

Theo W. Taylor cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn

người khác làm và sau đó hiểu rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt

nhất và rẻ nhất”.

Ts. Nguyễn Quốc Chí và PGS.Ts Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã viết: “Quản

lý là hành động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản

lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm

cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [5].

Theo GS.Ts Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý là tác độngcó mục

đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến tập thể những người lao động (nói

chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”

[30].

Pgs. Ts. Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý là quá trình tác động gây

ảnh hưởng của chủ thể đến khách thể quản lí nhằm đạt được mục tiêu

chung” [2].

Theo Pgs. Ts. Mạc Văn Trang thì: “Quản lý là sự tác động có ý thức

cuẩ chủ thể quản lí để chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội,



9



hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí

của nhà quản lý, phù hợp với quy luật của khách quan” [34].

Qua các định nghĩa trên, chúng tôi thấy khái niệm quản lý bao gồm

các nội hàm chủ yếu: Quản lý là hoạt động được tiến hành trong một tổ

chức; với các tác động có tính hướng đích của chủ thể quản lý, nhằm phối

hợp nỗ lực của các cá nhân để thực hiện mục tiêu của tổ chức.

Như vậy, có thể nhận thấy những định nghĩa trên có một số điểm chung cần

lưu ý đó là:

- Quản lý bao giờ cũng là một tác động mang tính hướng đích.

- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận chủ thể quản lí và đối

tượng quản lý, đây là quan hệ ra lệnh- phục tùng, không đồng cấp và có tính

bắt buộc và thuyết phục.

Quản lý là quá trình vận dụng những quy luật khách quan một cách sáng tạo.

1.2.2 Khái niệm về quản lý giáo dục.

Cũng có nhiều cách diễn đạt khác nhau của các nhà khoa học về thuật

ngữ quản lý giáo dục:

- Theo M.I Kônzacôvi: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có

kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau

đến tất cả các mắt xích của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo việc hình

thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy

luật chung của xã hội như những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát

triển thể lực và tâm lý trẻ em”.

- Theo GS. Ts. Nguyễn Ngọc Quang viết: “Quản lý giáo dục là tác

động có hệ thống, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm

cho hệ thống vận hành theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, thực

hiện các chính sách của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm



10



hội tụ là qúa trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới

mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [30].

- Theo PGS. Ts Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng

quan là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo

thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển

giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà

cho mọi người. Cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ

thống giáo dục quốc dân” [2].

- Theo PGS. Ts. Trần Kiểm thì: “Quản lý giáo dục thực chất là những

tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập

thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội)

nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu

đào tạo của nhà trường” [24, tr38].

- Theo Điều 14 của Luật giáo dục (2005) thì: Nhà nước thống nhất quản

lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch

giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử, hệ thống văn bằng, chứng chỉ;

tập trung quản lý chất lượng giáo dục, thực hiện phân công, phân cấp quản

lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo

dục. [30].

Từ các định nghĩa và quy định chúng tôi thấy quản lý giáo dục được hiểu

theo các cấp độ vĩ mô và vi mô:

Đối với cấp độ vĩ mô:

Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục

đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý giáo dục

đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm thực hiện có chất lượng

và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xẫ hội đặt ra

cho ngành giáo dục; trong đó có hoạt động tự giác của chủ thể quản lí nhằm



11



huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát,… một cách có hiệu quả

các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát

triển giáo dục và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội.

Hiểu theo nghĩa rộng nhất của Quản lý giáo dục chính là tổ chức quản lý

hệ thống nền giáo dục của Nhà nước, bao gồm việc xây dựng chiến lược

phát triển tổ chức; cơ cấu hệ thống trường; ngành giáo dục- đào tạo nhằm

thoả mãn nhu cầu, nguyện vọng học tập và phát triển của tất cả mọi người.

Đó là sự phát triển nguồn lực người- đó là phát triển toàn diện con người.

Mặt thứ 2 của quản lý vĩ mô là xây dựng một hệ thống mục tiêu cho các

cấp học, ngành học phù hợp với lứa tuổi, ngành nghề nhưng đều nhằm thực

hiện mục đích giáo dục của xã hội trong một giai đoạn tương ứng với yêu

cầu phát triển kinh tế xã hội nhằm nâng cao chất lượng người lao động, đó

chính là con người phát triển toàn diện.

Như vậy quản lý vĩ mô có 2 mục tiêu: Phát triển con người (nhằm khai

thác tối đa, đồng bộ sự phát triển tài nguyên người, phát triển, khai thác về

số lượng). Đồng thời phải quản lý giáo dục đào tạo nhằm đưa con người

phát triển toàn diện. Đó là mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xã

hội phục vụ cho việc phát triển kinh tế tri thức của sự nghiệp công nghiệp

hoá, hiện đại hoá đát nước.

Đối với cấp vi mô:

Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý

thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản

lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh

và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất

lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.

Như vậy, nói một cách tổng thể, có thể hiểu: Quản lý giáo dục là quản

lý hệ thống giáo dục, là sự tác động có mục đích, có kế hoạch, có ý thức của



12



chủ thể quản lý giáo dục lên các đối tượng quản lý theo những quy luật

khách quan nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết

quả mong muốn.

1.2.3 Khái niệm về quản lý nhà trƣờng, nhà trƣờng đại học.

Quản lý nhà trường:

Nhà trường là một thể chế xã hội- Nhà nước, là một đơn vị tổ choc

hoàn chỉnh, một cơ quan giáo dục chuyên biệt thực hiện chức năng giáo dụcđào tạo của Nhà nước và của cộng đồng xã hội chuẩn bị cho thế hệ trẻ bước

vào cuộc sống.

Nhà trường là một tổ chức giáo dục cơ sở, tiến hành các hoạt động

giáo dục, đào tạo công dân và người lao động ở những lứa tuổi khác nhau.

Mọi nhà trường đều có nhiệm vụ trực tiếp tham gia vào quá trình thực hiện

mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất

nước. Mức độ thành công trong thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đó của

mỗi nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ cán bộ quản lý nhà trường.

Để đội ngũ cán bộ quản lý được phát triển và có đủ năng lực quản lý nhà

trường trong những điều kiện mới đều cần phải chú ý đến ba yếu tố: số

lượng, cơ cấu và chất lượng đội ngũ, trong đó đặc biệt là trình độ và chất

lượng từng cá nhân cán bộ quản lý.

Theo GS.VS. Phạm Minh Hạc đã đưa ra định nghĩa: “quản lý nhà

trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi, trách nhiệm

của mình, tức là đưa trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới

mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và

với từng học sinh” [19, tr34].

Quản lý nhà trường bao gồm nhiều nội dung:



13



Trước hết là quản lý mục tiêu đào tạo, quản lý nội dung dạy học, quản

lý đội ngũ, tổ chức các hoạt động dạy học, giáo dục nghề nghiệp nhằm phát

triển tiềm năng về trí tuệ, nhân lực thực hiện mục tiêu giáo dục.

Quản lý cơ sở vật chất và thiết bị nhằm phục vụ cho việc học tập,

giảng dạy: Quản lý nguồn tài chính hiện có của nhà trường để xây dựng cơ

sở vật chất, trang thiết bị để tiến hành cho hoạt động dạy học và giáo dục; Tổ

chức đội ngũ nhà giáo, cán bộ công nhân viên, tập thể học sinh thực hiện tốt

các nhiệm vụ trong chương trình công tác của nhà trường; Quản lý các hoạt

động chuyên môn: quản lý chương trình, thời gian, quản lý chất lượng, theo

chương trình giáo dục của Bộ, của nhà trường; Quản lý việc học tập của sinh

viên theo quy chế của Bộ Giáo dục- Đào tạo.

Quản lý nhà trường là một bộ phận hữu cơ trong quá trình giáo dục

tổng thể, trong đó quản lý quá trình dạy học là một trong những hoạt động

chủ yếu nhất trong toàn bộ hệ thống quản lý của nhà trường. Xuất phát từ

quản lý quá trình dạy học là sự thống nhất hữu cơ giữa hoạt động dạy học và

quản lý hoạt động học của học sinh. Những hoạt động quản lý nói trên đều là

những tác động có phương hướng, có mục đích được phối hợp một cách

đồng bộ nhằm giải quyết những nhiệm vụ quản lý của nhà trường trong đó

sản phẩm cuối cùng là hoạt động quản lý đều được biểu hiện tập trung ở sự

hình thành và phát triển nhân cách của học sinh.

Quản lý các hoạt động trong hệ thống những tác động có mục đích, có

kế hoạch, hợp quy luật của nhà quản lý đến tất cả các khâu của các hoạt

động trong nhà trường giúp sinh viên hoàn thành tốt được nhiệm vụ học tập

của mình.

Quản lý giáo dục và nâng cao nhận thức về vai trò của tự quản và thúc

đẩy hoạt động tự quản của sinh viên; mọi hoạt động của con người đều là

hoạt động có mục đích, được thúc đẩy bởi động cơ của hoạt động đó. Động



14



cơ hoạt động là lực đẩy và là nguyên nhân trực tiếp của hành động duy trì

hứng thú, tạo ra sự chú ý liên tục, giúp chủ thể vượt mọi khó khăn đạt tới

mục đích đã định.Vì vậy động cơ của hoạt động quyết định kết quả của hoạt

động đó. Nhận thức của sinh viên về vai trò của hoạt động tự quản cũng là

một quá trình, tuân theo các quy luật nhận thức chân lý khách quan: Từ trực

quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng trở về với thực

tiễn. Muốn nâng cao nhận thức của sinh viên về vai trò của hoạt động tự

quản, từ đó giúp họ có những hành động tự quản nhằm hoàn thành tốt những

nhiệm vụ của mình, thì nhà trường phải thường xuyên, đồng thời tiến hành

nhiều biện pháp và hình thức giáo dục như: giáo dục truyền thống, giáo dục

nâng cao nhận thức về mục tiêu, yêu cầu đào tạo, các quy chế, quy định về

giáo dục- đào tạo.

Quản lý các kế hoạch, nội dung, phương pháp; ngoài các phương pháp

quản lý chung còn có các phương pháp quản lý đặc thù với từng khía cạnh

riêng sao cho hợp lý và phù hợp với từng điều kiện cá nhân; quản lý việc

kiểm tra, đánh giá kết quả: kiểm tra việc xây dựng kế hoạch, việc thực hiện

kế hoạch…. đảm bảo việc đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của từng cá nhân.

Theo quan điểm trên, chúng tôi thấy bản chất của quản lý trường học là

quản lý những tổ chức có chức năng tổ chức và thực hiện các hoạt động giáo

dục nhằm đạt tới mục đích giáo dục và được hiểu trên hai phương diện:

- Quản lý của các cở quan chính quyền và cơ quan quản lý giáo dục đối

với các nhà trường (bao hàm ý nghĩa quản lý các hệ con của hệ thống giáo

dục).

- Quản lý của chủ thể quản lý nhà trường (hiệu trưởng) đối với các hoạt

động giáo dục trong nhà trường (bao hàm ý nghĩa quản lý giáo dục ở cấp vi

mô).



15



Trong luận văn này, chúng tôi giới hạn khái niệm trên ở mức độ các hoạt

động quản lý của các nhà quản lý đối với các hoạt động của nhà trường. Như

vậy, có thể hiểu: Quản lý nhà trường là những tác động hợp quy luật của

chủ thể quản lý nhà trường (hiệu trưởng) đến khách thể quản lý nhà trường

(giáo viên, nhân viên, học sinh…) nhằm đưa các hoạt động giáo dục và dạy

học của nhà trường đạt tới mục tiêu giáo dục của nhà trường.

Quản lý nhà trường đại học:

- Phạm vi của quản lý nhà trường Đại học:

Phạm vi quốc gia:

Chủ thể quản lý là Chính phủ và đại diện trực tiếp là Bộ Giáo dục và đào

tạo, là cơ quan hay mặt Nhà nước quản lý giáo dục.

Đối tượng quản lý là toàn bộ nguồn nhân lực trong hệ thống giáo dục

quốc dân.

Phạm vi nhà trường (cơ sở giáo dục đào tạo):

Chủ thể quản lý là Hiệu trưởng cùng đội ngũ cán bộ quản lý.

Đối tượng quản lý là nguồn lực giáo dục của nhà trường.

- Mục tiêu của quản lý nhà trường Đại học (quản lý nguồn nhân lực

trong giáo dục).

“Mục tiêu của mọi nhà quản lý nhân lực là nhằm hình thành một môi

trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục tiêu của nhóm (hoặc

của đơn vị) với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất”. (Theo

Harold Koontz) [20].

Đối tượng quản lý là các quan hệ quản lý, tức là mối quan hệ giữa người

và người trong quản lý, quan hệ giữa chủ thể và đối tượng quản lý. Quản lý

nghiên cứu các quan hệ phát sinh trong quá trình hoạt động của con người.

Đối với quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục nói chung và trong trường

Đại học nói riêng, mục tiêu này cũng phải phù hợp nhưng cần xác định rõ



16



mục tiêu chung của toàn hệ thống, của từng ngành học, của từng đơn vị cơ

sở giáo dục.

Mục tiêu quản lý nguồn nhân lực trong nhà trường Đại học cần đạt theo

chức năng: Tuyển chọn những người phù hợp với công việc; Bố trí, sắp xếp

hợp lý các cá nhân và nhóm làm việc để đạt hiệu quả cao nhất; Duy trì sự ổn

định và phát triển bền vững của đơn vị; Phát triển đội ngũ: Đào tạo, bồi

dưỡng, nâng cao, sàng lọc, bổ sung, hoàn chỉnh cơ cấu nhân lực; tạo môi

trường làm việc hiệu quả có chính sách đãi ngộ, bầu không khí thoải mái.

Về mặt cấp độ xã hội: quản lý nhà trường đại học theo các mục tiêu lồng

ghép vào nhau: thống nhất mục tiêu của đơn vị đối với các mục tiêu cá nhân

và mục tiêu của ngành, của xã hội, tạo điều kiện phối hợp hài hoà, tránh mâu

thuẫn để đơn vị phát triển bền vững ổn định lâu dài.

Các phương pháp quản lý nhà trường đại học:

- Phương pháp hành chính tổ chức: Là những hình thức, biện pháp mà

chủ thể quản lý dùng quyền lực trực tiếp đưa ra các mục tiêu nhiệm vụ, yêu

cầu khách thể quản lý thực hiện. Hình thức của phương pháp này biểu hiện

bằng văn bản, chỉ thị, nghị quyết, thông tư, quyết định, …. Tác động đến cá

nhân, hoặc tổ chức. Mặt tích cực là dựa trên căn cứ pháp lý, cơ sở văn bản

cụ thể để tạo ra sự thống nhất đồng loạt trong tập thể, là sức mạnh của tập

thể trực tiếp tác động đến đối tượng, có hiệu quả nhanh chóng, và có tính bắt

buộc chấp hành. Tuy nhiên nếu quá lạm dụng sẽ dẫn đến hạn chế: quan liêu,

độc đoán, thiếu dân chủ, gây cho đối tượng quản lý một tâm trạng nặng nề,

thụ động, có thể đi đến phản ứng tiêu cực.

- Phương pháp kinh tế: Là cách thức mà chủ thể quản lý dùng để tác

động vào lợi ích kinh tế của khách thể quản lý nhằm tạo ra hiệu quả hoạt

động của tổ chức. Hình thức của phương pháp này biểu hiện ở chỗ chủ thể

quản lý tác động vào đối tượng thông qua lợi ích kinh tế như: lương, tiền



17



thưởng, phụ cấp, chính sách đãi ngộ…. Tác động vào khách thể quản lý dưới

hình thức công khai hoặc không công khai. Nó có mặt tích cực làm kích

thích cơ bản và có tác dụng lâu dài vì đảm bảo thu nhập của cá nhân ổn định

và tăng lên, chính đó là tác động có sức mạnh vô hình mang lại hiệu quả cho

tổ chức hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng nếu tuyệt đối hoá lợi ích vật chất thì

sinh ra chủ nghĩa thực dụng làm tha hoá bản chất, tính nhân văn của con

người. Nhưng nếu xem nhẹ phương pháp kinh tế sẽ dẫn đến duy ý chí,

không động viên được người lao động. Khi áp dụng phương pháp này cần

đảm bảo tính công bằng, quan tâm đến các quan hệ nội bộ, môi trường bên

ngoài.

- Phương pháp giáo dục thuyết phục: Là chủ thể quản lý dùng các hình

thức, biện pháp tác động đến nhận thức, thái độ của khách thể quản lý, nhằm

nâng cao hiệu quả hoạt động, hoàn thành tốt nhiệm vụ của đơn vị. Hình thức

của phương pháp này biểu hiện thông qua công tác học tập, sinh hoạt tư

tưởng, chính trị, thời sự,….của tổ chức và sinh hoạt của các đoàn thể, tổ

chức quần chúng như: công đoàn, đoàn thanh niên, nhằm duy trì nề nếp kỷ

luật trong đơn vị, xây dựng nếp sống, làm việc theo pháp luật và quy định tổ

chức. Chú ý giáo dục các đối tượng cá biệt có vấn đề, nêu gương người tốt,

việc tốt…. ưu điểm của phương pháp này ít tốn kém, gây tác động sâu sắc

đến nhận thức, thái độ tình cảm của con người, tạo đối tượng quản lý ý thức

có hoạt động tốt trở lại.

- Phương pháp tâm lý xã hội: Là những biện pháp mà chủ thể quản lý

vận dụng những quy luật tâm lý- xã hội để xây dựng môi trường tâm lý- xã

hội lành mạnh, tác động tích cực đến các mối quan hệ và người lao động của

đơn vị. Hình thức biểu hiện phương pháp này là tạo sự kích thích đối tượng

nhằm quản lý làm cho họ coi trọng công việc, coi mục tiêu, nhiệm vụ quản

lý của đơn vị tổ chức như là mục tiêu và công việc của chính họ, luôn ra sức



18



học hỏi, tích luỹ kinh nghiệm, đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ nhau….Tác

động của phương pháp này nhằm nâng cao đạo đức nghề nghiệp, lòng yêu

nghề, yêu mến người học, ý thức được trách nhiệm trong việc đào tạo nguồn

nhân lực cho địa phương.

Như vậy, các phương pháp quản lý rất phức tạp, đòi hỏi nhà quản lý phải

áp dụng một cách linh hoạt các phương pháp quản lý một cách đồng bộ,

không nên tuyệt đối hoá một phương pháp nào, vì mỗi phương pháp đều có

mặt tích cực và hạn chế. Một người quản lý đúc kết kinh nghiệm từng hoàn

cảnh, môi trường, vận dụng thực hiện phù hợp với từng đối tượng quản lý để

đạt được mục tiêu mà tổ chức đề ra.

1.2.4 Khái niệm về phòng, ban:

Phòng, ban của một trường Đại học là một tổ chức tư vấn, giúp việc

quản lý các mặt của Hiệu trưởng nhằm thực hiện chức năng quản lý công tác

giáo dục- đào tạo toàn diện ở một trường Đại học. Các phòng, ban của một

trường Đại học căn cứ vào chức năng quản lý giáo dục- đào tạo của hệ thống

giáo dục đại học và căn cứ vào mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, hoạt động

quản lý đào tạo và nghiên cứu khoa học của một trường Đại học.

Theo quyết định số 153/2003/ QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về

việc ban hành “Điều lệ trường đại học” đã ghi:

Điều 14 quy định nhiệm vụ của các phòng, ban như sau:

Các phòng có nhiệm vụ tham mưu và giúp việc cho Hiệu trưởng trong

quản lý, tổng hợp, đề xuất ý kiến, tổ chức thực hiện mảng công việc chủ yếu

của trường: hành chính- tổng hợp, tổ chức- cán bộ, đào tạo đại học và sau

đại học, khoa học và công nghệ, công tác chính trị và quản lý người học, kế

hoạch- tài chính, quan hệ quốc tế, thanh tra.

1.2.5 Khái niệm về biện pháp.



19



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (120 trang)

×