1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

3 Những yêu cầu về xây dựng đội ngũ cán bộ phòng, ban ở trƣờng Đại học trong giai đoạn hiện nay.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.41 MB, 120 trang )


lượng, đảm bảo chất lượng đào tạo nhằm thoả mãn thị trường sức lao động,

phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong điều kiện

nguồn nhân lực còn hạn hẹp, thực hiện từng bước yêu cầu về công bằng xã

hội; tạo thêm cơ hội học đại học cho người nghèo, các đối tượng chính sách

và ở vùng khó khăn….”.

Theo Nghị quyết 14/2005/NQ- CP đã nêu các nhiệm vụ và giải pháp

đổi mới:

- Đổi mới cơ cấu đào tạo và hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo dục đại

học;

- Đổi mới nội dung, phương pháp và quy trình đào tạo;

- Đổi mới công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng giảng viên

và cán bộ quản lý;

- Đổi mới tổ chức triển khai các hoạt động khoa học và công nghệ;

- Đổi mới việc huy động nguồn lực và cơ chế tài chính;

- Đổi mới cơ chế quản lý;

- Về hội nhập quốc tế.

1.3.2 Những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của cán bộ quản lý Trường

Đại học trong giai đoạn hiện nay.

Cán bộ quản lý là các cá nhân thực hiện những chức năng và nhiệm

vụ quản lí nhất định của bộ máy quản lý. Họ là những người có chức năng

và nhiệm vụ điều khiển, tổ chức và phối hợp thực hiện hành động chuyên

môn trong một khâu, một công đoạn, một chương trình, một dự án….

Trong văn kiện Hội nghị lần thứ 3, Ban chấp hành Trung ương khoá

VIII đã nêu: “Tiếp tục đổi mới cán bộ, rà soát, sắp xếp, sử dụng tốt đội ngũ

cán bộ hiện có; khẩn trương đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, sớm hình thành

đội ngũ kế cận có phẩm chất và năng lực…”



23



Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã đề ra nhiệm vụ cụ thể đối

với công tác cán bộ là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh

đạo và quản lý các cấp, vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức,

trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức….”

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X lại với mục tiêu: “Xây

đựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, có lối sống

lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí….. có tư duy đổi mới,

sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ

công nghiệp hoá, hiện đại hoá; có tinh thần đoàn kết hợp tác, ý thức tổ chức,

kỉ luật cao và phong cách làm việc khoa học, tôn trọng tập thể, gắn bó với

nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đội ngũ cán bộ phải

đồng bộ, có tính kế thừa và phát triển, có số lượng và cơ cấu hợp lý”.

Đội ngũ cán bộ quản lý các trường chuyên nghiệp hầu hết đều được

đào tạo lần đầu ở một lĩnh vực chuyên môn, ngành nghề khác nhau. Sau một

thời gian công tác họ được bổ nhiệm làm cán bộ quản lý từ những người tiên

tiến trong đội ngũ cán bộ và nhà giáo, nhưng nhiều người được bổ nhiệm

chưa qua đào tạo, bồi dưỡng về quản lý giáo dục nói chung, quản lý nhà

trường nói riêng, thậm trí có người suốt cả quá trình làm quản lý không được

bồi dưỡng về quản lý. Nhiều cán bộ quản lý thực hiện nhiệm vụ quản lý chủ

yếu dựa vào năng lực sẵn có và kinh nghiệm thu được qua tự học hỏi, trải

nghiệm thực tế. Điều đó đã ít nhiều hạn chế thành công của nhà trường. Vì

vậy, việc đào tạo tiếp tục hay bồi dưỡng cập nhật hoặc nâng cấp về khoa học

và nghiệp vụ quản lý hay năng lực quản lý cho đội ngũ cán bộ quản lý nhà

trường là vô cùng cần thiết và có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của

đội ngũ cán bộ quản lý và cũng là của mỗi nhà trường chuyên nghiệp, nhất

là trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày nay.



24



Trên cơ sở những yêu cầu chung về phẩm chất và năng lực của cán bộ

quản lý giáo dục trong giai đoạn hiện nay, đội ngũ cán bộ quản lý các phòng,

ban của Trường Đại học Lương Thế Vinh cũng cần bổ sung những tiêu chí

riêng và cụ thể hơn nữa để xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ, đáp

ứng được đòi hỏi ngày càng cao của công việc quản lý, trong đó cần chú ý

những yêu cầu sau:

 Về năng lực:

- Am hiểu kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn và văn hoá xã hội.

- Có nghiệp vụ quản lý hành chính nhà nước như: xây dựng các văn

bản, các thể thức văn bản…

- Biết lập kế hoạch, chỉ đạo- tổ chức thực hiện và đánh giá kế hoạch. Sử

dụng thành thạo máy vi tính và Tiếng Anh, biết khai thác Internet có

hiệu quả trong công việc.

- Am hiểu về pháp luật, nhất là những ngành luật có liên quan đến

chuyên môn của mình.

- Có sử dụng phong cách làm việc khoa học, năng động, sáng tạo.

 Về phẩm chất:

- Vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối

sống.

- Trung thực, thật thà, có lương tâm, tình cảm nghề nghiệp ….

- Có ý thức làm chủ tập thể, đoàn kết với đồng nghiệp.

- Phải có ước mơ, hoài bão để vươn tới Chân, Thiện, Mỹ, hoàn thiện.

- Có đam mê học tập, nghiên cứu khoa học.

- Có trách nhiệm cao, có chí tiến thủ, ….

1.3.3 Cơ sở xây dựng đội ngũ cán bộ các phòng, ban của Trường Đại học.

Chúng ta cũng phải có cơ chế và chính sách phát hiện, tuyển chọn,

đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; trọng dụng những người có đức, có tài. Đánh giá



25



và sử dụng đúng cán bộ trên cơ sở tiêu chuẩn, lấy hiệu quả công tác thực tế

và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu; có phương pháp khoa

học, khách quan, công tâm, theo quy trình chặt chẽ, phát huy dân chủ, dựa

vào tập thể và nhân dân để tuyển chọn cán bộ. Đổi mới, trẻ hoá đội ngũ cán

bộ và quản lý, kết hợp các độ tuổi, đảm bảo tính liên tục, kế thừa và phát

triển.

Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý là việc dựa trên các quan điểm, mục

tiêu, tiêu chuẩn, những nhiệm vụ và giải pháp lớn về công tác cán bộ trong

từng thời kỳ, dựa trên hệ thống tổ chức hiện có, dựa trên chức năng và

nhiệm vụ của tổ chức, dựa trên tiêu chuẩn cán bộ…..; để dự báo được nhu

cầu số lượng, chất lượng, cơ cấu tuổi, cơ cấu giới, trình độ cho tổ chức hiện

tại và trong các giai đoạn tiếp theo.

Xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý nhằm đảm bảo cho công tác cán bộ

đi vào nề nếp, có thế chủ động đáp ứng cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của

tổ chức. Mặt khác, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giúp cho tổ

chức có đủ về số lượng, chất lượng, tiêu chuẩn hoá về trình độ, đồng thời tạo

thế chủ động nhằm đáp ứng kịp thời những yêu cầu của phát triển tổ chức

trong từng giai đoạn phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, của địa phương.

Như vậy, việc xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục;

đặc biệt là việc thực hiện quy hoạch đó với nhiều con đường như lựa chọn,

bổ nhiệm, đào tạo và bồi dưỡng…. có tác động đến chất lượng cán bộ quản

lí. Nói cách khác, muốn nâng cao chất lượng cán bộ quản lí trường đại học

thì chính bản thân trường đại học cần làm tốt khâu quy hoạch phát triển đội

ngũ này.

Đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý:

Đào tạo là làm cho người học trở thành người có năng lực theo những

tiêu chuẩn nhất định. Hoạt động đào tạo là một quá trình thực hiện ở các cơ



26



sở giáo dục được thực hiện có tổ chức, theo mục tiêu, nội dung, chương

trình hoàn chỉnh và có hệ thống; nhằm hình thành và phát triển có hệ thống

các tri thức, kỹ năng, thái độ,… để hoàn thành nhân cách cho mỗi cá nhân,

tạo tiền đề cho họ hành nghề một cách có hiệu quả và có năng suất.

Bồi dưỡng thực chất là quá trình bổ sung tri thức, kỹ năng, nhằm nâng

cao trình độ trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn nào đó mà người ta đã có

một trình độ chuyên môn nhất định. Bồi dưỡng được coi là quá trình cập

nhật hoá kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu, bổ túc văn hoá hoặc bổ túc

nghề nghiệp, đào tạo thêm hoặc củng cố những kỹ năng về chuyên môn hay

nghiệp vụ sư phạm theo các chuyên đề. Hoạt động bồi dưỡng thường gắn

với hoạt động tự bồi dưỡng của đối tượng bồi dưỡng.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý có tác dụng hoàn thiện và

nâng cao trình độ lí luận chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nói rộng

ra là nâng cao phẩm chất của họ; nhằm làm cho đội ngũ cán bộ quản lý đó

vừa thích ứng được chức năng, nhiệm vụ và vừa đáp ứng được những yêu

cầu phát triển nhà trường. Trong thực tiễn, hoạt động đào tạo đội ngũ cán bô

quản lý ở các trường đại học Việt Nam hiện nay chỉ thông qua con đường

duy nhất là đào tạo thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục cho một số rất ít

cán bộ quản lý giáo dục.

Lựa chọn và sử dụng cán bộ quản lý:

Lựa chọn và sử dụng cán bộ quản lý ở trong các trường đại học là các

công việc thuộc lĩnh vực công tác tổ chức và sử dụng cán bộ của mỗi trường.

Sử dụng cán bộ quản lý bao hàm nhiều nội dung, trong đó có các nội dung

cơ bản là bổ nhiệm và điều động cán bộ quản lý. Bổ nhiệm cán bộ quản lý

có đủ phẩm chất và năng lực cho một tổ chức là yếu tố quan trọng để phát

triển tổ chức nói chung và thực chất là tạo điều kiện tiên quyết cho tổ chức

đó đạt đến mục tiêu. Luân chuyển cán bộ quản lý nhằm đảm bảo cho đội ngũ



27



cán bộ quản lý nhà trường có đủ năng lực để hoàn thành nhiệm vụ và chức

năng của nhà trường nói chung và của chính họ nói riêng. Hơn thế cũng là

một hình thức bồi dưỡng trong thực tiễn công tác nhằm nâng cao năng lực

hoạt động thực tiễn cho đội ngũ cán bộ quản lý.

Thực hiện chính sách ưu đãi đối với cán bộ quản lý.

Chất lượng hoạt động của con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố,

trong đó có yếu tố tạo động lực thúc đẩy của con người. Có nhiều nội dung

và hình thức tạo động lực cho các hoạt động của cán bộ quản lý; trong đó

việc thực hiện chế độ, chính sách ưu đãi đối với cán bộ quản lý là một nội

dung hình thức chủ yếu. Nội dung và hình thức này còn chứa đựng trong đó

những ván đề mang tính “đầu tư cho tái sản xuất sức lao động”.

Nhìn chung về thực hiện các chính sách ưu đãi đối với cán bộ nói

chung và đối với cán bộ quản lý nói riêng là một trong những hoạt động

quản lý về phương diện công tác cán bộ, công chức của cơ quan quản lý cảu

người quản lý đối với người bị quản lý. Như vậy để nâng cao chất lượng đội

ngũ cán bộ quản lý trường Đại học thì Bộ Giáo Dục và Đào Tạo cần phải có

biện pháp xây dựng và thực hiện chính sách và chế độ ưu đãi phù hợp đối

với cán bộ quản lý.

Kiểm tra và đánh giá các hoạt động của cán bộ quản lý.

Kiểm tra và đánh giá là một trong những chức năng của công tác quản

lý. Đặc biệt thanh tra, kiểm tra và đánh giá chất lượng các hoạt động của cán

bộ quản lý là một trong những việc không thể thiếu được trong công tác

quản lý của các cơ quan quản lý giáo dục.

Kiểm tra hoạt động của cán bộ quản lý trường Đại học vừa có tác

dụng phòng ngừa, vừa có tác dụng thúc đẩy các hoạt động của cán bộ quản

lý. Đánh giá chất lượng hoạt động của cán bộ quản lý trường Đại học không

những để biết được thực trạng hoạt động của họ, mà còn có tác dụng làm



28



cho chất lượng cán bộ quản lý được nâng cao nhờ hoạt động điều chỉnh

trong công tác quản lý Bộ Giáo dục và Đào tạo và nhờ hoạt động tự điều

chỉnh của đội ngũ này.



KẾT LUẬN CHƢƠNG I:



Từ việc nêu tổng quan của vấn đề nghiên cứu, một số khái niệm về

quản lý, quản lý trường học, chất lượng và chất lượng cán bộ quản lý trường

học nói chung và quản lý trường Đại học nói riêng, nhưng khái niệm chủ

yếu của quản lý cán bộ trường Đại học, chúng tôi đã định ra được một số

khái niệm về quản lý:

- Quản lý bao giờ cũng là một tác động mang tính hướng đích.

- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận chủ thể quản lý và có

đối tượng quản lý.

- Quản lý là quá trình vận dụng những quy luật khách quan một cách

sáng tạo.

Từ việc phân tích mối quan hệ, nhiệm vụ của các phòng, ban (về số

lượng, cơ cấu đội ngũ, chất lượng đội ngũ) trong lĩnh vực công tác quản lý

cán bộ chúng tôi đi đến khẳng định: muốn xây dựng và phát triển đội ngũ

cán bộ phòng, ban của một trường Đại học trong giai đoạn hiện nay thì việc

cần thiết hơn cả là quản lý cơ sở vật chất và thiết bị, quản lý quá trình Dạy Học, quản lý các hoạt động trong hệ thống những tác động có mục đích, có

kế hoạch…. nhằm nâng cao nhận thức và thúc đẩy mọi hoạt động của sinh

viên, giảng viên, và đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý. Để thực hiện được

29



điều này chúng ta cũng cần thực hiện được một số phương pháp quản lý

như:

- Phương pháp hành chính tổ chức.

- Phương pháp kinh tế.

- Phương pháp giáo dục thuyết phục.

- Phương pháp tâm lý xã hội.

Ngoài các phương pháp trên chúng ta cũng cần phải đạt được các chức

năng: tuyển chọn, bố trí, sắp xếp các công việc để đạt hiệu quả cao. Việc đào

tạo, bồi dưỡng, nâng cao, sàng lọc đội ngũ cán bộ cũng tạo ra môi trường

làm việc có hiệu quả.

Việc thực hiện có hiệu quả các hoạt động trên là những định hướng về

mặt lý luận để đưa ra các biện pháp quản lý của một trường Đại học nhằm

nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý. Nhưng để có được các biện

pháp quản lý khả thi thì phải xem xét chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý

trong trường và thực trạng công tác quản lý của đơn vị về nâng cao chất

lượng đội ngũ cán bộ phòng, ban của trường Đại hoc trong giai đoạn hiện

nay ra sao? Các nội dung nghiên cứu đó được chúng tôi tiếp tục trình bày tại

chương 2 dưới đây.



30



CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ VÀ CÔNG

TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CÁC PHÒNG, BAN CỦA

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LƢƠNG THẾ VINH, NAM ĐỊNH.

2.1. Khái quát chung về Trƣờng Đại học Lƣơng Thế Vinh

2.1.1 Quá trình phát triển của Trường.

Trường đại học Lương thế Vinh được thành lập năm 2003, theo quyết

định số: 259/2003/QĐ-TTg ngày 05/12/2003 của Thủ tướng chính phủ.

Trường đóng trên địa bàn thành phố Nam Định, tỉnh Nam định, là tỉnh nằm

ở trung tâm phía nam đồng bằng sông Hồng. Trường toạ lạc trên gần 20 héc

ta đất thuộc phủ Thiên Trường xưa, là mảnh đất địa linh phát tích một triều

Vương lừng lẫy trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. Trường đại

học Lương Thế Vinh mang tên trạng nguyên người Nam Định, vinh danh

vào thế kỷ 15. Một trạng nguyên “có tài kinh bang tế thế và tài hoa danh

vọng vượt bậc”. Nam Định là mảnh đất hiếu học. Ngành giáo dục Nam Định

luôn đứng trong tốp đầu của cả nước về tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông,

tỷ lệ thi đỗ vào đại học, cao đẳng hàng năm.



31



Trường đại học Lương Thế Vinh là trường đại học đa ngành, đa hệ,

đa trình độ, với 08 Khoa, 14 chuyên ngành đào tạo đại học và 06 ngành đào

tạo cao đẳng hệ chính quy. Hiện nay trường đã được Bộ Giáo dục & Đào tạo

cho phép đào tạo hệ liên thông chính quy từ trình độ trung cấp và cao đẳng

lên đại học. Đến nay số lượng sinh viên của trường đã lên hơn 7.000 (hơn

5.000 SV hệ chính quy và hơn 2000 SV hệ liên thông). Số lượng tuyển sinh

hàng năm đều hoàn thành chỉ tiêu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, là kết quả

đáng khích lệ đối với nhà trường. Cơ cấu ngành nghề đào tạo bước đầu đã

được xác định, thể hiện qua bảng sau:



Bảng 1: Cơ cấu tuyển sinh qua các năm

TT



Khoa



2004



2005



2006



Tổng



2007



SL



%



SL



%



SL



%



SL



%



SL



%



1



Tin



55



7,9



27



2,0



21



1,2



18



1,2



121



2,2



2



N ngữ



29



4,2



39



2,9



360



20,8



157



9,8



585



10,9



3



KTNN



21



3,1



76



5,7



81



4,7



70



4,4



248



4,6



4



KTCN



60



8,6



91



6,8



43



2,5



34



2,1



228



4,2



5



KTXD 114 16,4



253



18,8



150



8,6



100



6,3



617



11,5



6



K Tế



415 59,8



856



63,8



1079



62,2



1217



76,2



3.576



66,6



694 100,



1.342



100, 1.734



100,



1.596



100,



5.366



100,



Tổng



Qua 04 năm tuyển sinh ta thấy cơ cấu ngành nghề đào tạo của Nhà

trường đã tương đối rõ nét:

Ngành Tin học: Tỷ lệ sinh viên dao động từ 1,2 đến 7,9 %, tỷ lệ

trung bình 2,2 %.

Ngành Ngoại ngữ và du lịch: Tỷ lệ SV dao động từ 2,9 đến 20,8 %,

tỷ lệ trung bình 10,9 %.



32



Ngành Kỹ thuật nông nghiệp: Tỷ lệ sinh viên dao động từ 3,1 đến 5,7

%, tỷ lệ trung bình 4,6 %.

Ngành Kỹ thuật công nghiệp: Tỷ lệ SV dao động từ 2,1 đến 8,6 %, tỷ

lệ trung bình 4,2 %.

Ngành Kỹ thuật xây dựng: Tỷ lệ SV dao động từ 6,3 đến 18,8 %, tỷ

lệ trung bình 11,5 %.

Ngành Kinh tế: Tỷ lệ SV dao động từ 59,8 đến 76,2 %, tỷ lệ trung

bình 66,6 %.

Như vậy, chỉ có 03 Khoa có lượng sinh viên tương đối đông là khoa

Kinh tế, khoa Kỹ thuật xây dựng và khoa Ngoại ngữ - Du lịch, trong đó khoa

Kinh tế có lượng sinh viên lớn nhất, chiếm 2/3 lượng sinh viên của Trường.

Mục tiêu đào tạo của Nhà trường đã được xác định là: Đào tạo đội

ngũ cán bộ có trình độ khoa học kỹ thuật và trình độ quản lý kinh tế cao, có

đạo đức tốt, có phẩm chất năng động, sáng tạo, trang bị cho sinh viên có một

chuyên ngành sâu. một kỹ năng nghề nghiệp và năng lực thực hành tốt, đồng

thời nắm vững hai công cụ quan trọng là Tin học và Ngoại ngữ để đáp ứng

được những yêu cầu cao của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,

thời kỳ của đổi mới toàn diện đất nước và hội nhập của nền kinh tế nước ta

vào nền kinh tế thế giới.

- Là trường ngoài công lập, đang trong giai đoạn những bước đi ban

đầu, các trường ngoài công lập nói chung và đại học Lương Thế Vinh nói

riêng gặp rất nhiều khó khăn so với các trường công lập:

+ Về điểm trúng tuyển: Trường đại học Lương Thế Vinh cũng

như phần lớn các trường ngoài công lập không tổ chức thi mà xét tuyển dựa

trên kết quả thi đại học của thí sinh và điểm trúng tuyển chủ yếu là điểm sàn

theo quy định của Bộ Giáo dục & Đào tạo. Các trường công lập tổ chức thi

tuyển và điểm trúng tuyển thường cao hơn rất nhiều so với các trường ngoài



33



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (120 trang)

×