1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

3 . Vài nét thực trạng giáo dục nói chung và giáo dục tiểu học quận Ngô Quyền

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.41 MB, 101 trang )


độ tuổi (năm 2000); phổ cập THCS (năm 2001) với tỉ lệ rất cao, vượt tỉ lệ

chuẩn từ 5 - 7 % (tiêu chuẩn huy động và tiêu chuẩn hiệu quả). Được thành

phố và Bộ Giáo dục - Đào tạo công nhận tháng 3 năm 2001

Toàn quận có:

+ 23 nhà trẻ, mẫu giáo quốc lập, cơ quan xí nghiệp và tư thục, hàng năm

thu hút 90% trở lên trẻ 5 tuổi đi học mẫu giáo.

+ 12 trường Tiểu học với 11.390 học sinh và 9 trường THCS với 10.381

học sinh.

Hàng năm thành phố và quận đầu tư xây dựng , sửa chữa lớn từ 8 - 10

trường với kinh phí từ 7 tỉ đến 10 tỉ đồng và nhân dân đóng góp xây dựng từ 2

đến 3 tỉ đồng/ năm phục vụ cho việc tu bổ, mua sắm trang thiết bị, đồ dùng

dạy học tạo điều kiện cho việc dạy và học tập đạt kết quả ngày càng cao.

Chất lượng giáo dục, nhất là giáo dục tiểu học có nhiều chuyển biến tích

cực. Tiểu học đảm bảo dạy đủ các môn theo quy định, phát triển mạnh mẽ các

lớp học 2 buổi/ ngày đạt tỉ lệ 48%, học sinh học bán trú đạt tỉ lệ 21%. Số học

sinh xếp loại văn hóa giỏi hàng năm ở cấp tiểu học từ 36% đến 41%, cấp

THCS từ 25% đến 32%. Số học sinh giỏi đạt giải trong các kì thi học sinh giỏi

Quận và Thành phố được giữ vững và mỗi năm số lượng giải cũng như chất

lượng giải được nâng cao, luôn là tốp đầu của Thành phố.

Đội ngũ giáo viên dạt chuẩn và vượt chuẩn ở các trường phổ tiểu họcông

ngày càng nhiều. Tiểu học đạt chuẩn 97,13% và vượt chuẩn 61%. THCS đạt

chuẩn 98% và vượt chuẩn 50%.

Trong hai năm học 2003 - 2004 và 2004 - 2005, Quận Ngô Quyền đã

thực hiện việc luân chuyển 37 cán bộ quản lí và bổ nhiệm lại 41 cán bộ quản

lí của các trường học trong Quận.

Quy mô mạng lưới trường lớp của các loại hình giáo dục tương đối đầy

đủ, khá thuận lợi cho các đối tượng học tập.

Trong hai năm qua, thực hiện chỉ đạo chuẩn hóa phòng học của Quận ủy,

HĐND, UBND Quận Ngô Quyền, các trường tiểu học đã trang bị 100%

phòng học chuẩn, các trường THCS đạt 75% phòng học chuẩn.

50



Thực hiện Nghị quyết 14 NQTW ngày 5/12/2003 của Ban Thường vụ

Thành ủy Hải Phòng và theo kế hoạch của Ban chỉ đạo phổ cập trung học phổ

thông và Nghề thành phố, Quận ủy, HĐND, UBND Quận Ngô Quyền đã chỉ

đạo thực hiện quyết liệt, mạnh mẽ về công tác phổ cập trung học phổ thông và

Nghề. Theo kế hoạch đến hết năm 2005 Quận Ngô Quyền là một trong 5

quận, thị phải cơ bản hoàn thành phổ cập trung học phổ thông và nghề (toàn

thành phố hoàn thành đến năm 2010).

Tuy nhiên giáo dục quận Ngô Quyền cũng gặp phải những khó khăn rất

lớn:

- Nhân dân trong quận còn có thành phần lao động tự do, thiếu công ăn

việc làm, đời sống gặp nhiều khó khăn chiếm tỉ lệ khá cao.

- Dự án của Thành phố mở đường Ngã Năm - Sân bay Cát Bi và một số

công trình khác trên địa bàn Quận Ngô Quyền đã làm nhiều hộ dân trên các

phường Lạc Viên, Máy Tơ, Đông Khê, Đằng Giang phải di chuyển nơi ở ảnh

hưởng tới việc học tập của học sinh.

- Trình độ dân trí ở một số khu dân cư ở vài phường còn thấp, số hộ dân

có điều kiện kinh tế khó khăn còn nhiều như: Đông Khê, Đằng Giang, Gia

Viên, Máy Chai… Đây cũng là một trong những nguyên nhân có học sinh bỏ

học.

- Trường lớp đa số được xây dựng đã lâu, nhiều phòng học UNICEF và

cấp 4. Toàn Quận hiện nay có 34 phòng học cấp 4 và 56 phòng học UNICEF.

Các trường hạn chế nhiều về diện tích khuôn viên, về phòng học, trang thiết

bị dạy học và cảnh quan môi trường. Nếu tính số trường phổ thông có bình

quân 6 m2 đất /1 học sinh thì hiện nay Quận Ngô Quyền mới chỉ có 3 trường

là : Tiểu học Nguyễn Trãi, Tiểu học Đằng Giang, THCS Lý Tự Trọng. Hiện

nay trường Tiểu học Nguyễn Thượng Hiền đang được đầu tư xây dựng tại địa

điểm mới theo yêu cầu đạt chuẩn Quốc gia. Nếu tính bình quân 4 m2/1 học

sinh hiện có 11 trường. Với diện tích đất như vậy, việc xây dựng các trường

chuẩn Quốc gia gặp rất nhiều khó khăn (có bảng diện tích đất và phòng học

của các trường kèm theo).



51



Cấp học



Bảng 2.9. Thực trạng sử dụng đất và phòng học, chức năng năm 2004

Số phòng

cấp 4 và

UNS



Năm 2004

Đơn vị

Học

sinh

Thái Phiên



1324



Số

lớp



Phòng Số

m2/ Sử dụng Phòng

Số

chức cấp

2

HS đất (m ) học

UNS

năng 4



33



4



5292



7



0



0



20



Nguyễn Thượng Hiền



32



10



0



0



790



22



3.3



1305



12



8



Nguyễn Du



1310



32



5.1



4358



24



6



Trần Quốc Toản



696



19



3.1



2187



15



6



2



Đằng Giang



741



20



6.2



4643



13



4



3



Nguyễn Trãi



585



19



8



4765



18



8



2



Quang Trung



1200



30



4.1



5000



18



8



Lê Hồng Phong



1203



31



4



4887



20



6



Chu Văn An



1581



39



4.3



6800



31



7



839



24



1.9



1612



15



6



10269



269



40849



218



76



Lý Tự Trọng



706



20



7.1



5035



17



7



Quang Trung



Tiêủ học



Kim Đồng



1413



34



4



5704



25



10



710



19



1.4



1080



12



9



Chu Văn An



1643



34



3.5



6435



18



9



1



Lê Hồng Phong



1182



28



4.8



5773



15



14



4



954



23



2.6



2400



11



7



1



Đà Nẵng



1658



37



4



6700



24



8



8



Lạc Viên



1703



40



3.2



5414



22



9



2



9969



235



38541



144



73



15



Nguyễn Khuyến



Trung học cơsở



Cộng Tiểu học



Nguyễn Đình Chiểu



An Đà



Cộng THCS



52



10

10



10



17



20



0



10



10

16

36



158



5



3.7



597



5



4



Sao Sáng II



315



10



3.3



1035



10



5



Sao Sáng II



345



9



13



4396



9



3



Sao Sáng IV



411



9



7.3



3000



9



4



Sao Sáng V



174



5



2.8



485



5



2



Sao Sáng VI



285



9



3.6



512



8



2



Sao Sáng VII



170



5



5.2



872



6



3



Sao Sáng VIII



116



5



10



1200



6



4



Phạm Minh Đức



220



6



2



259



6



4



Bông Sen



115



5



2.2



450



6



4



Mầm non 8/3



400



10 13.3



5368



19



3



Đồng Tâm



315



9



9.8



3110



9



3



NTD 20/10



205



6



15



3100



6



5



Chim non



Mầm non



Sao Sáng I



187



6



2.5



472



6



2



3416



99



24856



110



48



2



23654 603



104246



472



197



34



Cộng mầm non

Cộng toàn quận



2



56



2.3.2. Đặc điểm, tình hình học sinh và đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất

các trường tiểu học Quận Ngô Quyền

2.3.2.1. Tình hình học sinh tiểu học

Toàn quận có 12 trường tiểu học, mỗi trường gắn với đặc điểm dân cư và

trình độ dân trí, điều kiện kinh tế của từng phường. Xét trong toàn quận cũng

tạo ra độ chênh lệch ở các phường, các trường về số lượng, chất lượng học

sinh và đội ngũ giáo viên.

Qua bảng số liệu cho thấy toàn quận có 12 trường tiểu học (trong đó

trường phổ thông Hermann Gmeiner gồm cả tiểu học, THCS và THPT). các

trường đều có những đặc điểm khác nhau. Trường có số lượng học sinh thấp

nhất là trường Hermann Gmeiner và trường Nguyễn Thượng Hiền. Trường có

số lượng học sinh luôn luôn đông và sĩ số học sinh trong lớp cao như Chu

53



Văn An, Nguyễn Du. Sở dĩ có tình trạng đó là do điều kiện cơ sở vật chất nhà

trường, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên, chất lượng giáo

dục, trình độ dân trí ở khu vực thuộc địa bàn giáo dục của trường… rất khác

nhau.

Đánh giá khái quát một số kết quả giáo dục học sinh tiểu học:

(Số liệu năm học 2003 - 2004)

Các cuộc thi của học sinh :

+ Thi Chữ viết đẹp.

- Cấp Quận đạt : 82 giải/308 học sinh dự thi (tỉ lệ 26,7%)

- Cấp thành phố : đạt 22/25 học sinh dự thi (tỉ lệ 89%)

- Quận đã đạt giải nhất đồng đội cuộc thi chữ viết đẹp thành phố.

+ Thi giải toán tuổi thơ :

- Cấp Quận đạt 31 giải/38 học sinh dự thi (tỉ lệ 81,5)

- Cấp Thành phố đạt 13 giải/31 học sinh dự thi (tỉ lệ 42%)

+ Thi học sinh giỏi Toán - Tiếng Việt :

- Cấp Quận đạt 101 giải/279 học sinh dự thi (tỉ lệ: 36%)

- Cấp Thành phố đạt 43 giải/120 học sinh dự thi (tỉ lệ 35,8%)

+ Thi học sinh giỏi Ngoại ngữ.

- Cấp Quận đạt 74 giải/176 học sinh dự thi (tỉ lệ 42%)

- Cấp Thành phố đạt 36 giải/60 học sinh dự thi (tỉ lệ 60%)

+ Thi khéo tay kĩ thuật.

- Cấp Quận đạt 59 giải/100 học sinh dự thi (tỉ lệ 59%)

- Cấp Thành phố đạt 10 giải/20 học sinh dự thi (tỉ lệ 50%)

Xếp loại mặt giáo dục

+ Xếp loại hạnh kiểm :



54



- Lớp 1 có 97,5% học sinh thực hiện đầy đủ và 2,5 % chưa thực hiện

đầy đủ.

- Lớp 2 có 97,6% thực hiện đầy đủ và 2,4% chưa thực hiện đầy đủ.

- Lớp 3, 4, 5.

Hạnh kiểm : Tốt đạt 85,7%.

Khá đạt 14,2%.

Cần cố gắng đạt 0,1%.

+ Xếp loại văn hóa chung :

Xếp loại văn hóa : Giỏi đạt 40,2%.

Khá đạt 55,95%.

Trung bình đạt 3,7%.

Yếu đạt 0,15%.

2.3.2.2. Trình độ đội ngũ giáo viên Tiểu học.

Bảng 3.0 . Phân tích trình độ đào tạo đội ngũ giáo viên tiểu học

Tổng



Đại học



Cao đẳng



Trung cấp



Sơ cấp



Chưa qua

đào tạo



453



69



209



162



11



2



Tỉ lệ %



15,23%



46,14%



35,75%



2,43%



0,44%



Bảng 3.1. Phân loại công chức viên chức theo độ tuổi và giới tính

Độ tuổi



Tuổi

dưới 30



Tuổi từ

30 - 40



Tuổi từ

41 - 45



Tuổi từ

46 - 50



Tuổi từ

51 - 54



Tuổi từ

55 - 60



Giới tính Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ

Tổng

453 05

số

Tỉ lệ %

theo độ

tuổi



53



12,80 %



02



53



12,14 %



30



67



21,41 %



55



03



94



21,41 %



02



140



31,35 %



02



02



0,89 %



Qua bảng số liệu cho thấy :

Trình độ đào tạo cán bộ giáo viên tiểu học theo chuẩn và trên chuẩn là

97,13% (kể cả cán bộ không trực tiếp giảng dạy) trong đó trên chuẩn là

61,37%

Tỉ lệ cán bộ giáo viên nữ là 97%.

Độ tuổi trên 30 chiếm 87,2%, độ tuổi trên 40 chiếm 68,44%. Độ tuổi trên

45 chiếm 53,64%.

Nguyên nhân tuỏi đời các giáo viên tiểu học Quận Ngô Quyền cao do đã

nhiều năm nay biên chế giáo viên trong Quận thừa nhiều, số lượng giáo viên

chuyển đi, nghỉ hưu ít nên không tuyển dụng giáo viên trẻ mới ra trường.

Tính bình quân tỉ lệ giữa giáo viên và số lượng học sinh hiện nay là 453/

11390 xấp xỉ 1/25.

2.3.2.3. Đánh giá chung về cơ sở vật chất phục vụ cho đổi mới phương pháp

giảng dạy

Các phòng học ở các trường tiểu học toàn Quận đã được trang bị 100%

bảng chống lóa và 100% bàn ghế chuẩn.

Các phòng chức năng còn thiếu và chưa đáp ứng được yêu cầu. Các

phương tiện và đồ dùng dạy học còn thiếu nhiều so với yêu cầu đổi mới

phương pháp dạy học trong một vài năm gần đây đã được sự quan tâm đầu tư

của Bộ Giáo dục - Đào tạo, Thành phố và Quận.

100% các trường tiểu học đều có từ 2 đến 5 máy vi tính phục vụ cho

công tác quản lí và văn phòng. Nhiều trường có phòng Tin học khá hiện đại

phục vụ cho việc dạy Tin học cho học sinh lớp 3, 4, và 5 và cho giáo viên.

100% các trường đều có máy chiếu, tuy nhiên số lượng còn rất ít so với

yêu cầu.

Đồ dùng dạy học phục vụ cho chương trình dạy SGK mới lớp 1, 2, 3

nhìn chung còn thiếu, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học.



56



Ngân sách chi cho hoạt động giáo dục ở các nhà trường rất hạn hẹp,

không đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện

nay.

2.3.3 . Kết quả đánh giá thí điểm giáo viên tiểu học theo chuẩn.

Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ đầu tư (giai đoạn I) Dự án: "Phát triển giáo viên tiểu học".

Thực hiện công văn số 901/ DAPTGVTH ngày 24/11/2004 của Ban điều

phối DAPTGVTH Bộ Giáo dục & Đào tạo về việc hướng dãn bổ sung một số

điểm cụ thể thực hiện việc áp dụng chuẩn để đánh giá giáo viên tiểu học tại

địa phương.

Thực hiện công văn số 631/TH ngày 18/12/2004 của Sở Giáo dục - Đào

tạo thành phố Hải Phòng về kế hoạch tổ chức đánh giá thí điểm giáo viên tiểu

học.

Phòng giáo dục quận Ngô Quyền đã triển khai nghiêm túc, hiệu quả việc

đánh giá giáo viên tiểu học theo chuẩn theo kế hoạch của Sở Giáo dục - Đào

tạo. Việc đánh giá thí điểm đã được triển khai tại 6/12 trường tiểu học trong

Quận với 193 giáo viên. Nội dung đánh giá trên 3 lĩnh vực và 14 yêu cầu :

Lĩnh vực 1: Phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị.

Lĩnh vực 2: Kiến thức.

Lĩnh vực 3: Kĩ năng sư phạm (kĩ năng dạy học và giáo dục)

Kết quả tổng hợp qua 3 tháng đánh giá như sau (số liệu đến 29/3/2005)

Bảng 3.2, 3.3, 3.4 và bảng 3.5



57



Bảng 3.2 - Tổng hợp kết quả thí điểm áp dụng chuẩn đánh giá GVTH

(Quận Ngô Quyền)



58



Qua các bảng 3.2; 3.3; 3.4 ta thấy:

Tuổi đời của các giáo viên đều cao do nhiều năm không được tuyển mộ

các giáo viên trẻ mới ra trường.

Trình độ đào tạo các giáo viên dạy Tiểu học quận Ngô Quyền khá chuẩn,

giáo viên trực tiếp giảng dạy đều là các giáo viên có trình độ đào tạo đạt

chuẩn và trên chuẩn.

Hầu hết các giáo viên đạt ở mức 1 và mức 2 đối với 14 yêu cầu. Điều đó

cho thấy rằng trình độ của giáo viên Tiểu học quận Ngô Quyền khá tốt, đáp

ứng được yêu cầu của đổi mới giáo dục hiện nay.

2.3.4. Đánh giá chung điểm mạnh, điểm yếu của đội ngũ giáo viên tiểu học

quận Ngô Quyền

2.3.4.1. Nề nếp, kỉ cương

Qua các đợt kiểm tra, thanh tra các trường tiểu học của Sở Giáo dục và

Phòng giáo dục cả định kì và đột xuất có thể đánh giá các trường tiểu học từ

các cán bộ quản lí đến các giáo viên cháp hành nghiêm túc mọi nội quy, quy

định về nề nếp, kỉ cương trong chuyên môn. Biểu hiện cụ thể ở một số nội

dung cơ bản sau đây:

- Thực hiện nghiêm túc nội dung, chương trình của Bộ Giáo dục & Đào

tạo đã quy định (nội dung, phương pháp, tiến độ thực hiện).

- Hồ sơ, sổ sách, giáo án đầy đủ theo quy định.

- Thực hiện nghiêm túc quy chế chuyên môn ở tất cả các khâu soạn

giảng, chấm, chữa…

- Sinh hoạt tổ, khối chuyên môn có nề nếp, chất lượng theo chỉ đạo của

Phòng giáo dục

- Giáo viên đã tích cực đổi mới phương pháp dạy học, lên lớp chuyên đề

và tích cực sử dụng đồ dùng dạy học.

- Giáo viên đã cố gắng nhiều trong việc thực hiện nề nếp tự bồi dưỡng



59



- Tuy nhiên còn một bộ phận nhỏ giáo viên thực hiện những quy định về

chuyên môn chưa thực sự nghiêm túc và hiệu quả. Biểu hiện ở một số khâu

như chấm, chữa bài học sinh chưa đủ, chưa đúng quy định, giáo án còn sơ sài,

chưa chịu rèn luyện chữ viết, chưa thực sự có ý thức tự học, tự bồi dưỡng,

chưa thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ, chức năng của giáo viên chủ nhiệm…

2.3.4.2. Kĩ năng sư phạm của giáo viên.

- Các giáo viên tiểu học trong quận dù đào tạo dạy THCS những đều đã

qua bồi dưỡng phương pháp dạy tiểu học. Có thể đánh giá tất cả các giáo viên

đang giảng dạy đều rất say sưa, nhiệt tình với nghề và chuyên môn của mình.

Thực hiện chỉ đạo của Phòng giáo dục các trường Tiểu học thực hiện khá tốt

và hiệu quả việc bồi dưỡng kĩ năng sư phạm cho giáo viên thông qua sinh

hoạt tổ, khối chuyên môn, lên lớp chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học tất

cả các môn từ cấp trường đến quận, thi giáo viên dạy giỏi từ cấp trường đến

cấp Quận, cấp Thành phố, tổ chức viết sáng kiến kinh nghiệm…

Về cơ bản giáo viên đã dạy đúng phương pháp đặc trưng bộ môn, đáp

ứng tương đối tốt so với yêu cầu về đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát

huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm tâm

sinh lí lứa tuổi.

Việc đổi mới phương pháp dạy học trong những năm qua các giáo viên

rất tích cực và tổ chức thực hiện. Đã có một số giáo viên thực hiện thí điểm

dạy học ở một số tiết bằng giáo án điện tử. Kết quả các giáo viên trong toàn

quận qua hội thảo đều rút ra được những bài học và hướng phấn đấu của

mình. Các tiết sử dụng công nghệ thông tin phục vụ cho dạy học tại trường

Tiểu học Thái Phiên đã được vụ Tiểu học đánh giá rất cao sự cố gắng của việc

ứng dụng CNTT trong quá trình giảng dạy. Nhiều trường khác đang tiếp tục

học tập và triển khai theo chương trình đề án : "Đưa Tin học vào nhà trường"

của quận Ngô Quyền.

Tuy nhiên về kĩ năng sư phạm cũng còn nhiều hạn chế cơ bản:

- Việc làm hồ sơ theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục & đào tạo về việc

đánh giá học sinh trong các khối lớp 1, 2, 3 trong chương trình dạy SGK mới

còn nhiều hạn chế, giáo viên chưa đánh giá chuẩn xác theo yêu cầu.

60



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (101 trang)

×