1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Sư phạm >

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.42 MB, 98 trang )


CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Tổng quan về nghiên cứu vấn đề

Những năm đầu của thế kỷ XXI, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ

với những bước tiến nhảy vọt, thế giới chuyển từ nền văn minh công nghiệp

sang nền văn minh trí tuệ. Hội nhập kinh tế quốc tế và quá trình toàn cầu hoá

là xu thế tất yếu, có ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển của tất cả các quốc

gia trên thế giới. Sự vận động của nền kinh tế toàn cầu hướng tới một giai

đoạn phát triển mới - giai đoạn kinh tế tri thức. Giáo dục đang bước ra khỏi vị

trí truyền thống là một bộ phận kiến trúc thượng tầng để trở thành lực lượng

sản xuất trực tiếp, nhà trường không còn dừng ở việc truyền bá tri thức mà

còn là nơi sản sinh tri thức và áp dụng tri thức để góp phần đổi mới công

nghệ, tăng năng suất lao động, tạo giá trị gia tăng cho sản phẩm. Với tư cách

là công cụ sản sinh, truyền bá và áp dụng tri thức, giáo dục có vai trò quan

trọng hơn bao giờ hết trong sự phát triển của các quốc gia. Nó vừa là động lực

cho việc thực hiện kinh tế tri thức, vừa là hạ tầng cho việc hình thành xã hội

tri thức.

Vì những lý do trên mà vai trò của giáo dục trong các chiến lược phát

triển kinh tế - xã hội không ngừng được củng cố và tăng cường. Ngày nay ở

hầu hết mọi quốc gia, giáo dục đều được đặt ở vị trí trung tâm trong các chiến

lược phát triển đất nước. Thậm chí ở một số nước, người ta quan niệm vấn đề

quan trọng nhất trong phát triển ngày nay là phát triển giáo dục, đây thực sự

còn là cuộc cách mạng trong các quan niệm, các cách tiếp cận, nó đòi hỏi con

người phải đổi mới cách nghĩ, cách làm để thích nghi và làm chủ sự phát

triển. Với tầm quan trọng đặc biệt của giáo dục trong nền kinh tế tri thức,

nhiều quốc gia trên thế giới đã nhạy bén tiến hành cải cách giáo dục, đặc biệt

là giáo dục phổ thông.

5



Ở Việt Nam, qua hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, chúng ta đã

xây dựng được một hệ thống giáo dục liên thông và hoàn chỉnh từ giáo dục

mầm non đến giáo dục đại học đáp ứng một cách tích cực nhu cầu nâng cao

dân trí, nhu cầu nhân lực và nhân tài của xã hội. Trong suốt tiến trình ấy hệ

thống giáo dục Việt Nam không ngừng xây dựng và phát triển ĐNGV với

quan điểm: Chất lượng ĐNGV là nhân tố quan trọng quyết định chất lượng

giáo dục.

Đảng, Nhà nước ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến giáo dục

nói chung và người thầy nói riêng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Nhiệm vụ

giáo dục rất quan trọng và vẻ vang, vì nếu không có thầy giáo thì không có

giáo dục”.[27, tr. 114] Các nghị quyết của Đảng, Luật Giáo dục, chiến lược

phát triển giáo dục và các chủ trương, chính sách của Nhà nước ta đều nhất

quán đặt ĐNGV vào vị trí trung tâm, được xã hội tôn vinh và có vai trò đặc

biệt quan trọng đối với sự phát triển của nền giáo dục nước nhà. Chăm lo xây

dựng và phát triển ĐNGV để họ đáp ứng yêu cầu và theo kịp với sự thay đổi,

phát triển của giáo dục là trách nhiệm của các cấp quản lý giáo dục, của từng

bản thân mỗi giáo viên và của toàn xã hội. ĐNGV là bộ phận quan trọng của

nguồn nhân lực xã hội, là nguồn lực cơ bản của ngành GD&ĐT, của một nhà

trường; được thừa hưởng tất cả những ưu đãi của Nhà nước về phát triển

nguồn nhân lực và cần phải được nghiên cứu đổi mới kịp thời đáp ứng sự thay

đổi phát triển của nền giáo dục.

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội Đảng lần thứ

X khẳng định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ, cơ cấu hợp lý, chất lượng

tốt, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế cận vững vàng. Có cơ chế, chính sách

bảo đảm, phát hiện, đánh giá, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và

đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài”. [17, tr. 23]

Nghiên cứu về ĐNGV được thực hiện dưới góc độ quản lý giáo dục ở

cấp độ vĩ mô:

6



Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ

quản lý giáo dục giai đoạn 2005 - 2010” (QĐ số 09/2005/QĐ - TTg ngày 11

tháng 1 năm 2005 của Thủ tướng Chính Phủ).

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước do Hội đồng Quốc gia Giáo

dục thực hiện từ tháng 12 năm 2008 đến hết tháng 4 năm 2009: “Phát triển

giáo dục Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và trước nhu cầu hội nhập

quốc tế” có 13 nội dung, trong đó có nội dung “Nghiên cứu các chính sách

phát triển giáo viên”.

Dự thảo Chiến lược phát triển Giáo dục 2011 - 2020 của Bộ GD&ĐT

và đưa ra 11 giải pháp, trong đó giải pháp: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và

cán bộ quản lý giáo dục” được coi là 1 trong 2 giải pháp có tính đột phá.

Bộ GD&ĐT đang triển khai 14 dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc

gia về GD&ĐT đến năm 2020, trong đó có dự án “Đào tạo, bồi dưỡng đội

ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”.

Ngoài ra còn có nhiều hội thảo khoa học về chủ đề xây dựng và phát

triển ĐNGV dưới góc độ quản lý giáo dục theo ngành, bậc học được thực

hiện. Có thể kể đến một số nghiên cứu của các tác giả như: Đặng Quốc Bảo Nguyễn Đắc Hưng [7], Nguyễn Thị Mỹ Lộc [25], Trần Bá Hoành [22]…

Gần đây có nhiều Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục

nghiên cứu về vấn đề này như:

- Nghiên cứu của tác giả Trần Thị Vân Anh về “Biện pháp phát triển

ĐNGV Trung học phổ thông Chuyên Lê Hồng Phong tỉnh Nam Định đáp ứng

yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông”.

- Tác giả Đặng Minh Tiến về “Phát triển ĐNGV Trung học phổ thông

Hùng Vương, tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay”.

- Tác giả Trần Trang Nhung về “Phát triển đội ngũ giáo viên trường

Trung cấp Văn hóa - Thể thao và Du lịch Bắc Giang trong giai đoạn hiện

nay”.

7



- Tác giả Nguyễn Tiến Dũng về “Biện pháp phát triển ĐNGV các

Trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Nam Định đáp ứng yêu

cầu đổi mới giáo dục hiện nay”.

Các tác giả đã đưa ra các giải pháp thiết thực nhằm thực hiện tốt hơn

công tác phát triển ĐNGV ở địa phương mình, đơn vị mình theo từng điều

kiện, đặc điểm của vùng, miền trên địa bàn toàn quốc.

Tổng quan các nghiên cứu nêu trên, có thể rút ra một số nhận xét như

sau:

- Nghiên cứu về ĐNGV được triển khai ở nhiều bình diện khác nhau và

đặc biệt được quan tâm trên bình diện quản lý giáo dục.

- Các nghiên cứu về phát triển ĐNGV được tập trung vào hai mảng

chính: nghiên cứu phát triển ĐNGV theo cấp bậc và ngành học; nghiên cứu

phát triển ĐNGV cho từng cơ sở giáo dục thuộc bậc, cấp, ngành học.

1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1. Khái niệm giáo viên, giáo viên THPT

1.2.1.1. Giáo viên

Tại Điều 70, Luật Giáo dục 2005 đã đưa ra định nghĩa pháp lý đầy đủ

về nhà giáo và những tiêu chuẩn của nhà giáo:

“1. Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà

trường, cơ sở giáo dục khác.

2. Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây:

a) Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;

b) Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;

c) Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp;

d) Lý lịch bản thân rõ ràng.

3. Nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ

thông, giáo dục nghề nghiệp được gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học

được gọi là giảng viên”. [26, tr. 109-110]

8



1.2.1.2. Giáo viên THPT

Theo quy định của Luật Giáo dục, giáo viên thực hiện lao động nghề

nghiệp của mình tại các trường THPT được gọi là giáo viên THPT.

Tại Điều 30 của Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ

thông có nhiều cấp học do Bộ GD&ĐT ban hành ngày 28 tháng 3 năm 2011

quy định đã ghi rõ: Giáo viên trường trung học là người làm nhiệm vụ giảng

dạy, giáo dục trong nhà trường, gồm: Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo

viên bộ môn, giáo viên làm công tác Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

(bí thư, phó bí thư hoặc trợ lý thanh niên, cố vấn Đoàn), giáo viên làm tổng

phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (đối với trường trung học

có cấp tiểu học hoặc cấp THCS), giáo viên làm công tác tư vấn cho học sinh.

[3]

Tại Điều 31 của Điều lệ này đã ghi rõ nhiệm vụ của giáo viên THPT:

a) Dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục, kế hoạch

dạy học của nhà trường theo chế độ làm việc của giáo viên do Bộ trưởng Bộ

GD&ĐT quy định; quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà

trường tổ chức; tham gia các hoạt động của tổ chuyên môn; chịu trách nhiệm

về chất lượng, hiệu quả giáo dục; tham gia nghiên cứu khoa học sư phạm ứng

dụng;

b) Tham gia công tác phổ cập giáo dục ở địa phương;

c) Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp

vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục; vận dụng các

phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng

tạo, rèn luyện phương pháp tự học của học sinh;

d) Thực hiện Điều lệ nhà trường; thực hiện quyết định của Hiệu trưởng,

chịu sự kiểm tra, đánh giá của Hiệu trưởng và các cấp quản lý giáo dục;

đ) Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước

học sinh; thương yêu, tôn trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh, bảo

9



vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ đồng

nghiệp; tạo dựng môi trường học tập và làm việc dân chủ, thân thiện, hợp tác,

an toàn và lành mạnh;

e) Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên khác, gia đình học

sinh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong

Hồ Chí Minh trong dạy học và giáo dục học sinh;

g) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.

Cũng tại Điều 32 của Điều lệ này giáo viên THPT được đảm bảo các

quyền sau đây:

a) Được nhà trường tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và

giáo dục học sinh;

b) Được hưởng mọi quyền lợi về vật chất, tinh thần và được chăm sóc,

bảo vệ sức khoẻ theo các chế độ, chính sách quy định đối với nhà giáo;

c) Được trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức tham gia quản lý nhà trường;

d) Được hưởng lương và phụ cấp (nếu có) khi được cử đi học để nâng

cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định hiện hành;

đ) Được cử tham gia các lớp bồi dưỡng, hội nghị chuyên đề để nâng

cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ;

e) Được hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại các trường

và cơ sở giáo dục khác nếu thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ quy định tại

Điều 30 của Điều lệ này và được sự đồng ý của Hiệu trưởng ;

g) Được bảo vệ nhân phẩm, danh dự, an toàn thân thể;

h) Được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật.

1.2.2. Khái niệm đội ngũ, đội ngũ giáo viên

1.2.2.1. Đội ngũ

Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về đội ngũ. Ngày nay khái niệm về

đội ngũ được dùng cho các tổ chức xã hội một cách rộng rãi hơn như: đội ngũ

cán bộ công chức, đội ngũ văn nghệ sĩ, đội ngũ trí thức… đều xuất phát từ

10



cách hiểu thuật ngữ trong quân sự về đội ngũ “ Đó là một tổ chức gồm nhiều

người, tập hợp thành một lực lượng”.

Theo Lý luận khoa học quản lý thì đây là một đội công tác, trong đó

các cá nhân kết hợp với nhau, thường xuyên trau dồi kinh nghiệm, học hỏi lẫn

nhau để đạt được mục tiêu và kế hoạch của tổ chức đặt ra. [19]

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Đội ngũ là một tập thể người gắn kết

với nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh

thần và hoạt động theo một nguyên tắc”. [6]

Các khái niệm về đội ngũ tuy khác nhau, nhưng đều thống nhất là một

nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để thực hiện một

hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp hoặc không cùng, nhưng đều

có chung một mục đích nhất định.

Đội ngũ trong trường học bao gồm: Cán bộ quản lý các cấp trong

trường học, nhà giáo (giáo viên, giảng viên), nhân viên phục vụ các hoạt động

giáo dục trong nhà trường.

Vậy đội ngũ là tập hợp gồm nhiều cá thể, hoạt động qua sự phân công,

hợp tác lao động, có chung mục đích, lợi ích và ràng buộc với nhau bằng

trách nhiệm pháp lý.

1.2.2.2. Đội ngũ giáo viên

Theo Từ điển Giáo dục học định nghĩa: “ĐNGV là tập hợp những

người đảm nhận công tác giáo dục và dạy học có đủ tiêu chuẩn đạo đức,

chuyên môn và nghiệp vụ quy định”. [31, tr. 95]

Trên thế giới khi nghiên cứu về ĐNGV, tác giả Virgil K.Rowland đã

quan niệm: “ĐNGV là những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, họ nắm

vững tri thức, hiểu biết dạy học và giáo dục như thế nào và có khả năng cống

hiến toàn bộ sức lực và tài năng của họ đối với giáo dục”.

Từ những định nghĩa nêu trên, ta có thể hiểu: ĐNGV là tập hợp những

người làm công tác giáo dục và dạy học ở một cơ sở trường học hay một cấp

11



học; một ngành học nhằm thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đề ra cho tổ

chức đó.

ĐNGV THPT là tập hợp những người làm nghề dạy học - giáo dục,

được tổ chức thành một lực lượng, cùng chung một lý tưởng, mục đích, nhiệm

vụ, cùng thực hiện các nhiệm vụ theo một kế hoạch thống nhất, gắn bó với

nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần, được hưởng các quyền lợi nhu

nhau theo Luật Lao động, Luật Giáo dục và các Luật khác được Nhà nước

quy định.

1.2.3. Khái niệm phát triển, phát triển ĐNGV, biện pháp phát triển ĐNGV

1.2.3.1. Phát triển

Theo từ điển Triết học, thuật ngữ “Phát triển” có nghĩa là: Biến đổi

hoặc làm cho biến đổi theo chiều hướng tăng, từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng,

thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp. Nói cách khác, phát triển có nghĩa là làm

tăng cả về số lượng, chất lượng và quy mô của một quá trình vận động.

Theo lý luận của Phép biện chứng duy vật thì: Phát triển là sự vận động

tất yếu của sự vật hiện tượng để phù hợp với quy luật khách quan. Phát triển

là một quá trình nội tại, là bước chuyển hoá từ thấp đến cao, trong cái thấp đã

chứa đựng dưới dạng tiềm năng những khuynh hướng dẫn đến cái cao, còn

cái cao là cái thấp đã phát triển. Phát triển là quá trình tạo ra sự hoàn thiện của

cả tự nhiên và xã hội. Phát triển có thể là một quá trình hiện thực nhưng cũng

có thể là một tiềm năng của sự vật hiện tượng.

1.2.3.2. Phát triển ĐNGV

Phát triển ĐNGV là tạo ra một ĐNGV đủ về số lượng, đảm bảo về chất

lượng theo chuẩn giáo viên, cân đối và đồng bộ về cơ cấu, trên cơ sở đó, đội

ngũ này đảm nhiệm và thực hiện tốt các yêu cầu của chương trình giáo dục

nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục trong giai đoạn mới.

Phát triển ĐNGV là sự tiếp tục của một quá trình vận động liên tục

nhằm hoàn thiện hay thay đổi thực trạng hiện tại của đội ngũ, làm cho ĐNGV

12



không ngừng phát triển về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung,

chương trình giáo dục; đổi mới phương pháp dạy học theo xu hướng hiện đại

và xu hướng hội nhập. Tiếp cận chuẩn nghề nghiệp GV của các nước tiên

tiến.

Phát triển ĐNGV phải tạo ra sự gắn bó giữa xây dựng chuẩn nghề

nghiệp, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng với việc sự dụng hợp lý, tạo môi

trường thuận lợi cho đội ngũ phát triển và đánh giá ĐNGV một cách chính

xác, khách quan.

Kết quả công tác phát triển ĐNGV phải bao gồm không chỉ trình độ

chuyên môn, nghiệp vụ mà còn là sự thoả mãn của cá nhân, sự tận tụy của

người giáo viên đối với nhà trường, có sự thăng tiến của cá nhân người giáo

viên trong sự phát triển của nhà trường.

Thuật ngữ phát triển ĐNGV được hiểu là một khái niệm tổng hợp bao

trùm cả bồi dưỡng ĐNGV và phát triển nghề nghiệp ĐNGV. Nếu phạm vi bồi

dưỡng bao gồm những gì mà người giáo viên phải biết, phạm vi phát triển

nâng cao kỹ năng nghề nghiệp ĐNGV bao gồm những gì mà người giáo viên

nên biết, thì phát triển ĐNGV bao quát tất cả những gì mà người giáo viên có

thể trau dồi và phát triển đều đạt được các mục tiêu cơ bản của bản thân và

của nhà trường. Đó là con đường để giáo viên phát triển toàn diện nội lực bản

thân để phù hợp, hài hòa và thỏa đáng trong sự phát triển chung của nhà

trường.

Sự tương quan giữa bồi dưỡng ĐNGV, phát triển nghề nghiệp ĐNGV

và phát triển ĐNGV được minh họa bằng sơ đồ sau:



13



Sơ đồ 1.1: Mối tương quan giữa bồi dưỡng, phát triển nâng cao kỹ

năng nghề nghiệp và phát triển ĐNGV



Vấn đề

ĐNGV có

thể trau dồi

phát triển



Phát triển ĐNGV



Phát triển, nâng cao kỹ năng

nghề nghiệp ĐNGV



Vấn đề

ĐNGV nên

biết

Vấn đề ĐNGV

phải biết



Bồi dưỡng ĐNGV



Phát triển ĐNGV được xem như một quá trình tích cực mang tính hợp

tác cao, trong đó người GV tự phát triển sẽ đóng một vai trò quan trọng trong

sự trưởng thành về mặt nghề nghiệp cũng như nhân cách của bản thân người

giáo viên trong sự hòa hợp cùng phát triển với nhà trường.

1.2.3.3. Biện pháp phát triển ĐNGV

Biện pháp phát triển ĐNGV có thể hiểu là những việc làm cụ thể của

các nhà quản lý giáo dục tác động vào ĐNGV để nhằm tạo ra sự thay đổi của

đội ngũ này theo hướng đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và chuẩn

về chất lượng theo yêu cầu đổi mới của giáo dục.

1.2.4. Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

1.2.4.1. Quản lý

a) Khái niệm

Quản lý là một hoạt động đã xuất hiện và tồn tại hàng ngàn năm trước

đây. Từ thời Ai Cập cổ đại đến Trung Quốc cổ đại các nhà quân sự đã biết

cách tổ chức, quản lý quân đội của họ để đi đến thắng lợi vẻ vang, đó là bằng

14



chứng rõ nhất về hoạt động quản lý. Sử gia Daniel A. Wren đã nhận xét rằng:

“Quản lý cũng xưa cũ như chính con người vậy”. [9, tr. 23] Tuy nhiên đã có

rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “Quản lý”.

Theo F.W.Taylo (1856 - 1915) - được đánh giá là “cha đẻ của thuyết

quản lý khoa học” đã định nghĩa: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn

người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một

cách tốt nhất và rẻ nhất”. [9, tr.11-12]

Theo H.Fayol (1841 - 1925), một kỹ nghệ gia người Pháp, xuất phát từ

các loại hình “hoạt động quản lý”. Ông là người đầu tiên đã phân biệt chúng

thành 5 chức năng cơ bản của quản lý: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ huy, phối

hợp và kiểm tra. [9, tr. 31]

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu khoa học cũng có những định nghĩa

khác nhau về thuật ngữ “Quản lý” tùy theo cách tiếp cận khác nhau:

Theo tác giả Trần Quốc Thành định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có ý

thức của chủ thể quản để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội,

hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí

của nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan”. [30]

Theo tác giả Vũ Ngọc Hải: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có

hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề

ra”. [20, tr. 2]

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là

quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng tối đa các chức

năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra”.[11]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích,

có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (gọi chung

là khách thể quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến”. [29, tr. 24]

Từ các định nghĩa chúng ta có thể hiểu như sau: Quản lý là sự tác động

có tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản

15



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.pdf) (98 trang)

×