1. Trang chủ >
  2. Thạc sĩ - Cao học >
  3. Kinh tế >

CHƯƠNG 1: CÁC QUAN ĐIỂM CHÍNH CỦA HỌC THUYẾT KINH TẾ TƯ SẢN VỀ “ GIÁ TRỊ LAO ĐỘNG ”

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (192.23 KB, 14 trang )


Lịch sử học thuyết kinh tế



Lý luận giá trị lao động



Giảng viên: Ngô Gia Lưu

Trình bày: Nhóm III

+ Về xã hội, cách mạng tư sản Anh đã hoàn thành và tạo ra tình hình kinh tế, chính trị

mới. Do đó cần phải luận giải cơ sở tồn tại và phát triển của phương thức sản xuất mới

này.

+ Về tư tưởng, những thành tựu khoa học tiến bộ như triết học duy vật, toán học, vật lý

học, ... có tác dụng đấu tranh phá bỏ chế độ phong kiến, mở đường cho phương thức

sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời, tạo điều kiện cho tư tưởng kinh tế mới của giai cấp tư

sản phát triển.

1.2. Các quan điểm chính của học thuyết kinh tế tư sản về “ giá trị lao động ”.

1.2.1. Lý thuyết của W.Petty (1623 – 1687).

Trong tác phẩm bàn về thuế khoá và lệ phí (1662) W.Petty nghiên cứu về giá cả chia

giá cả thành:

- Giá cả tự nhiên do hao phí lao động quy định và năng suất lao động có ảnh hưởng

đến mức hao phí đó. Giá cả tự nhiên là giá trị của hàng hoá. Như vậy ông là người đầu

tiên tìm thấy cơ sở của giá cả tự nhiên là lao động , thấy được quan hệ giữa lượng giá

trị và năng suất lao động .

=> Kết luận: Số lượng lao động bằng nhau bỏ vào sản xuất là cơ sở để so sánh giá trị

hàng hóa, giá cả tự nhiên (giá trị), tỷ lệ nghịch với NS lao động khai thác vàng và bạc

- Giá cả nhân tạo chính là giá trị trao đổi và là giá cả thị trường của hàng hóa, thay

đổi phụ thuộc vào giá cả tự nhiên, đồng thời phụ thuộc vào cung cầu thị trường.

- Giá cả chính trị chính là giá cả thị trường của hàng hoá phụ thuộc vào nhiều yếu tố

ngẫu nhiên và khó xác định . Khi điều kiện chính trị biến động thì giá cả hàng hóa sẽ

thay đổi và biến động. CP lao động trong giá cả chính trị thường cao hơn chi phí lao

động trong giá cả tự nhiên .

- Ông đã nêu lên một luận điểm rất nổi tiếng : “ Cho rằng lao động là cha, đất đai là

mẹ của mọi của cải vật chất ”. Xét Về phương diện sản xuất của cải vật chất thì quan

điểm này khẳng định nhân tố tạo ra của cải là tự nhiên và lao động. Tuy nhiên xét về



3



Lịch sử học thuyết kinh tế



Lý luận giá trị lao động



Giảng viên: Ngô Gia Lưu

Trình bày: Nhóm III

phương diện giá trị - lao động thì W.Petty lại đồng nhất giữa lao động tạo ra giá trị với

lao động tạo ra của cải.

Những điểm hạn chế của ông:

- Tuy nhiên lí thuyết giá trị - lao động của ông chịu ảnh hưởng của Chủ Nghĩa Trọng

Thương. Ông chỉ tập chung nghiên cứu mặt lượng , nghĩa là nghiên cứu về giá cả một

bên là hàng hóa, một bên là tiền tệ. Ông giới hạn giả thiết đào tạo giá trị trọng lao động

khai thác vàng và bạc. Các loại lao động khác chỉ so sánh với lao động tạo ra tiền tệ.

Giá trị hàng hoá là sự phản ánh giá trị tiền tệ .

+ Chưa phân biệt rõ giá trị sử dụng và giá trị trao đổi. Ông đã lẫn lộn lao động với tư

cách là nguồn gốc của giá trị sử dụng, nghĩa là ông đã đồng nhất lao động trừu tượng

với lao động cụ thể

+ Chưa phân biệt được lao động giản đơn với lao động phức tạp, mặc dù ông có ý định

giải quyết mối quan hệ giữa hai loại lao động này nhưng không thành công.

Nhận xét:

- Mặc dù bị ảnh hưởng của phái Trọng Thương nhưng trong trường phái thị trường chỉ

thoả mãn với việc đơn thuần đưa ra những biện pháp kinh tế hay chỉ miêu tả lại những

hiện tượng kinh tế theo kinh nghiệm như W.Petty đã tiếp cận với các quy luật khách

quan nghiên cứu lĩnh vực sản xuất .

- Cơ bản thì quan điểm của W.Petty đúng nhưng dùng từ chưa chuẩn, chỉ sai lầm ở chỗ

cho rằng cả lao động và đất đai đều là nguồn gốc của giá trị. Phát biểu đúng chỉ có lao

động là nguồn gốc của giá trị, đất đai chỉ là điều kiện để con người tạo ra giá trị.

1.2.2. Lý thuyết của Adam Smith (1723-1790).

- Adam Smith đã mở ra giai đoạn phát triển mới của sự phát triển các học thuyết kinh

tế. Ông đi sâu phân tích bản chất để tìm ra các quy luật sự vận động của các hiện

tượng và các quá trình kinh tế. So với W.Petty và trường phái trọng nông, lý thuyết giả



4



Lịch sử học thuyết kinh tế



Lý luận giá trị lao động



Giảng viên: Ngô Gia Lưu

Trình bày: Nhóm III

thiết lao động của A.Smith có bước tiến đáng kể và cũng chỉ ra rằng tất cả các loại lao

động sản xuất đều tạo ra giá trị . Lao động là thước đo cuối cùng của giá trị.

- Ông phân biệt rõ ràng giá trị sử dụng và giá trị trao đổi và kiểm định. Giá trị sử

dụng không quy định giá trị trao đổi. Ông bác bỏ quan điểm ích lợi quyết định giá trị

trao đổi.

- Ông giải thích nguồn gốc của giá trị hàng hóa và cho rằng lao động là nguyên nhân

và thước đo của giá trị, cho rằng trao đổi hàng hóa cho nhau thực chất là trao đổi lao

động cho nhau.

Giá trị hàng hóa tổng sản phẩm xã hội = V + M

Trong đó:

+ V là giá trị tư bản khả biến

+ M là giá trị thặng dư

- Ông đưa ra định nghĩa thứ hai về giá trị : giá trị của hàng hóa là do lao động sống mà

hàng hóa có thể mua được. Ông viết: một người có hàng hóa do sức lao động của mình

làm ra nhưng không muốn tiêu dùng mà muốn trao đổi để lấy những hàng hóa khác,

thì giá trị của số hàng hóa đó bằng lượng lao động mà anh ta có thể chiếm dụng hoặc

mua được nhờ có số hàng hóa đó.

- Từ định nghĩa này, ông suy ra giá trị do lao động tạo ra chỉ đúng trong nền kinh tế

hàng hóa giản đơn. Còn trong nền kinh tế hàng hóa phát triển thì giá trị do các nguồn

thu nhập tạo thành. Ông viết “tiền lương, lợi nhuận, địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên

của mọi khoản thu cũng như của mọi giá trị trao đổi”

- Tất cả các loại lao động sản xuất đều tạo ra giá trị của hàng hóa, lao động là nguồn

gốc của giá trị. Xuất phát từ lý thuyết phân công lao động xã hội phát sinh nhu cầu trao

đổi vật này lấy vật khác. Ông phân biệt rõ 2 loại giá trị là giá trị sử dụng và giá trị trao

đổi, giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi và ngược lại.



5



Lịch sử học thuyết kinh tế



Lý luận giá trị lao động



Giảng viên: Ngô Gia Lưu

Trình bày: Nhóm III

- Những thứ có giá trị sử dụng lớn nhất thường có ít hay không có giá trị trao đổi (như

nước chẳng hạn), ngược lại những thứ có giá trị trao đổi lớn nhất lại thường có ít hay

không có giá trị sử dụng (như kim cương chẳng hạn)

- Ông phân biệt lao động giản đơn và lao động phức tạp trên cơ sở tính toán lượng giá

trị của hàng hóa do lao động phức tạp chiếm tỉ trọng lớn.

- Ông phân biệt giá cả tự nhiên và giá cả thị trường : giá cả tự nhiên là biểu hiện = tiền

của giá trị. Ông khảng định hàng hoá được bán theo giá cả tự nhiên, nếu giá cả đó

ngang với mức cần thiết để trả cho tiền lương, địa tô, và lợi nhuận . Theo ông giá cả tự

nhiên là Truy tâm, giá cả thị trường là giá bán thực tế của hàng hoá giá cả này nhất trí

với giá cả tự nhiên khi được đưa ra thị trường với số lượng đủ “thoả mãn lượng cầu

thực tế’’. Giá cả tự nhiên có tính chất khách quan còn giá cả thị trường phụ thuộc vào

những yếu tố như quan hệ cung cầu và các loại quan hệ đường khác .

Những điểm hạn chế của ông:

- Chưa nhất quán khi địng nghĩa giá trị. Ông đưa ra hai định nghĩa :

+ “giá trị toàn điểm là do lao động quy định, giá trị là do hao phí lao động để sản xuất

ra hàng hoá quyết định ”.

+ “Giá trị của một hàng hóa bằng số lượng lao động mà nhờ hàng hoá đó có thể mua

được”.

=> Đây là điều sai lầm, luẩn quẩn của Ađam. Smith. Ông đã đưa vào hiện tượng, một

bên là chủ nghĩa lao động cho nhà tư bản, một bên là nhà tư bản trả lương cho công

nhân.

- Về cấu thành lượng giá trị hàng hoá : Theo ông trong sản xuất tư bản chủ nghĩa, tiền

lương, lợi nhuận và địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập, cũng như của

mọi giá trị tác động. A. Smith coi tiền lương, lợi nhuận và địa tô là nguồn gốc đầu tiên

của mọi thu nhập, đó là quan điểm đúng đắn. Song ông lại lầm ở chỗ coi các khoản thu

nhập là nguồn gốc đầu tiên của mọi giá trị tác động. Ông đã lẫn lộn hai vấn đề hình



6



Lịch sử học thuyết kinh tế



Lý luận giá trị lao động



Giảng viên: Ngô Gia Lưu

Trình bày: Nhóm III

thành giá trị và phân phối giá trị, hơn nữa, ông cũng xem thường tư bản bất biến ; coi

giá trị có (v+m)

- Nhầm lẫn về quá trình hình thành giá trị và phân phối giá trị, giữa hàng hóa với giá

trị mới sáng tạo.

Nhận xét:

-Tóm lại, lý thuyết của Adam Smith đã có những đóng góp quan trọng cho khoa học

Kinh Tế, đặc biệt là nền Kinh Tế Thị Trường. Ông đã phát triển thêm lý luận giá trị lao động và dùng lý thuyết này làm cơ sở để nghiên cứu tiền lương, lợi nhuận và địa

tô, tuy nhiên, ông lại không nhất quán trong lý thuyết giá trị lao động. Do đó, l1 thuêt2

lý thuyết giá trị của ông vừa có có yếu tố khoa học, vừa có yếu tố tầm thường.

1.2.3. Lý thuyết của D. Ricardo

- Ông phân tích giá trị trên hai mặt chất và lượng :

+ Về chất giá trị do lao động tạo ra, lao động là cơ sở duy nhất của giá trị.

+ Về lượng, giá trị được đo bằng lượng thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra

hàng hóa.

+ Giá trị hàng hóa không chỉ do lao động trực tiếp ( lao động sống) mà còn do lao

động quá khứ tạo ra.

- Ricardo cho rằng giá trị có nguồn gốc duy nhất từ lao động. Ông khẳng định giá trị

hàng hóa phụ thuộc vào số lượng lao động tương đối cần phải sử dụng trong sản xuất

chứ không phụ thuộc vào số tiền phải trả cho lao động ấy tăng lên hay giảm xuống, và

không phải do khối lượng tương đối các hàng hóa mà người lao động đổi được từ lao

động của mình.

- Giá trị hàng hóa tỉ lệ nghịch với năng suất lao động

- Giá trị trao đổi của hàng hóa do lượng lao động chứa đựng trong hàng hóa quyết định

- Giá trị trao đổi phụ thuộc vào 2 nhân tố

+ Lượng lao động hao phí



7



Lịch sử học thuyết kinh tế



Lý luận giá trị lao động



Giảng viên: Ngô Gia Lưu

+ Sự khan hiếm



Trình bày: Nhóm III



-Giá trị xã hội của hàng hóa do lượng giá trị lớn nhất( hao phí lao động trong điều

kiện xấu ) quyết định

- D.Ricardo đã phân biệt hai thuộc tính của hàng hóa là giá trị sử dụng và giá trị trao

đổi. Giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi, đồng thời nó cũng khác với của

cải. Nếu một hàng hóa không có chút giá trị sử dụng nào, nó sẽ không có giá trị trao

đổi mặc dù có hiếm hoi đến mấy hay việc sản xuất ra nó đòi hỏi bao công sức chăng

nữa.

- Ông đã kế thừa và phát triển lý luận của Adam Smith, ông khẳng định giá trị sử

dụng rất cần thiết cho thực hiện giá trị trao đổi, nhưng không quyết định giá trị trao

đổi. Tuy nhiên, ông cũng phê phán quan điểm sai lầm của A.Smith về 3 nguồn thu

nhập cấu thành giá trị: tiền công, lợi nhuận và địa tô và khẳng định lượng giá trị của

một hàng hóa phụ thuộc vào số lượng lao động tương đối cần phải sử dụng để sản xuất

ra nó. Không phải ba nguồn thu nhập cấu thành giá trị hàng hóa mà ngược lại, giá trị

hàng hóa có trước, được thực hiện, rồi mới phân chia thành ba nguồn thu nhập nói

trên.

Điểm hạn chế của ông :

- Hạn chế của ông là không nhận được tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa.

Khác với A.Smith, ông cho rằng quy luật giá trị vẫn hoạt động trong chủ nghĩa tư bản ,

nhưng hoạt động thế nào thì ông không chứng minh được, vì ông không giải quyết

được giá cả sản xuất , ông đã đồng nhất hóa giá trị với giá cả sản xuất, ông cũng chưa

hiểu được giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị. Ông chỉ chú ý phân tích

mặt lượng của giá trị, ít chú ý đến mặt chất và hoàn toàn không phân tích giá trị ấy.



Nhận xét:

- Tiến bộ trong việc gạt bỏ sai lầm của A.Smith về định nghĩa coi giá trị lao động mà

người ta có thể mua được hàng hóa đó quyết định. Ông khẳng định giá trị hàng hóa



8



Lịch sử học thuyết kinh tế



Lý luận giá trị lao động



Giảng viên: Ngô Gia Lưu

Trình bày: Nhóm III

phụ thuộc vào số lượng lao động tương đối cần phải sử dụng trong quá trình sản xuất

chứ không phải trong trao đổi.



9



Lịch sử học thuyết kinh tế



Lý luận giá trị lao động



Giảng viên: Ngô Gia Lưu



Trình bày: Nhóm III



CHƯƠNG 2: NHỮNG LUẬN ĐIỂM MÁC KẾ THỪA, PHÁT TRIỂN

VÀ PHÊ PHÁN NHỮNG LUẬN ĐIỂM TẦM THƯỜNG

2.1.Hoàn cảnh lịch sử xuất hiện.

- Đầu thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp tư bản chủ nghĩa về cơ bản đã hoàn

thành, lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa có sự phát triển nhảy vọt, giai cấp tư sản đã

lớn mạnh. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã được thiết lập ở một số nước tiên

tiến như Anh, Pháp, Mỹ, Hà Lan,…

- Cùng với quá trình đó, giai cấp vô sản phát triển, mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và

vô sản ngày càng trở nên gay gắt, nhiều phong trào đấu tranh của công nhân xuất hiện.

Đặc biệt là các tổ chức Đảng đầu tiên của giai cấp công nhân ra đời. Từ đó, đòi hỏi

phải có lý luận cách mạng làm vũ khí tư tưởng cho giai cấp vô sản. Chủ nghĩa Marx ra

đời, Karl Marx (1818-1883) và Engels (1820-1895) là những người sáng lập ra chủ

nghĩa Marx.

- Chủ nghĩa Marx phát sinh ra là sự tiếp tục trực tiếp của triết học cổ điển Đức, kinh tế

chính trị Cổ điển Anh và CNXH không tưởng Pháp. Trong hệ thống các học thuyết

kinh tế, học thuyết về giá trị lao động được trình bày trong chương “Hàng hóa” được

xem như là cơ sở của tất cả các học thuyết kinh tế của Marx. Cụ thể, Marx là người

đầu tiên phát hiện ra tính 2 mặt của lao động sản xuất hàng hóa. Trên cơ sở phát hiện

này, K.Marx đã thực hiện một cuộc cách mạng khoa học trong kinh tế chính trị. Đồng

thời cũng nhờ phát hiện này, lần đầu tiên trong lịch sự học thuyết kinh tế, K.Marx đã

xây dựng học thuyết giá trị-lao động một cách hệ thống và hoàn chỉnh.

2.2. Những luận điểm khoa học của học thuyết kinh tế tư sản cổ điển.

- Phân biệt được giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, khẳng định giá trị sử dụng không

quyết định giá trị trao đổi.

- Xác định lượng giá trị đo bằng thời gian lao động.



10



Lịch sử học thuyết kinh tế



Lý luận giá trị lao động



Giảng viên: Ngô Gia Lưu

Trình bày: Nhóm III

- Đã chú ý đến sự khác nhau giữa lao động giản đơn và lao động phức tạp trong việc

xác định lượng giá trị hàng hóa.

- Thấy được mối quan hệ giữa giá cả tự nhiên và giá cả thị trường ( mối quan hệ giữa

giá trị với giá cả thị trường hàng hóa ).

2.3.Những luận điểm tầm thường của học thuyết kinh tế tư sản cổ điển.

- Chưa biết đến tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa.

- Nặng về mặt lượng, chưa chú ý tới mặt chất của gái trị.

- Chưa xây dựng đầy đủ và chính xác lượng giá trị hàng hóa.

- Chưa phân biệt được giá trị với các hình thức của giá trị.

2.4. Nội dung lý thuyết giá trị lao động của K.Marx dựa trên việc kế thừa và phát

triển các luận điểm khoa học của trường phái kinh tế cổ điển Anh.

- K.Marx đã kế thừa và phát triển các học thuyết của trường phái kinh tế cổ điển Anh,

loại bỏ những nhân tố sai lầm, siêu hình, giữ lại những nhân tố đúng và đưa ra phương

pháp nghiên cứu khoa học nhất là việc vận dụng phép biện chứng. Trên cơ sở nghiên

cứu có phê phán những di sản của trường phái cổ điển, K.Marx đã sáng lập ra học

thuyết khoa học đúng đắn về giá trị lao động. Học thuyết này là điểm xuất phát để phát

hiện ra quy luật giá trị thặng dư và mở ra một bước ngoặt cách mạng trong khoa học

kinh tế nói chung.

- Theo K.Marx, hàng hóa có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng, nó có mối quan

hệ biện chứng với nhau. Ông đã phân tích làm sáng tỏ mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng

và giá trị hàng hoá mà W. Petty và D. Ricardo đã không lý giải được, nên họ đi đến

đồng nhất giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi. Ông đã tiến xa hơn lý luận của các

nhà tư sản cổ điển là phân biệt một cách rõ ràng hai thuộc tính này:

+ Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con

người. Giá trị là lao động xã hội thể hiện và vật hóa trong hàng hóa.



11



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.docx) (14 trang)

×