1. Trang chủ >
  2. Giáo án - Bài giảng >
  3. Cao đẳng - Đại học >

Ngân hàng Trung ương là cơ quan độc quyền phát hành tiền

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (526.67 KB, 78 trang )


Tài sản ---------------------------------Các khoản nợ

1- Mức dự trữ hiện có Ra



1- Các khoản tiền gửi không kỳ hạn



+ Tỷ lệ dự trữ thực tế ra



2- Các khoản tiền gửi có kỳ hạn



2- Mua chứng khoán



3- Các khoản uỷ thác



3- Đầu tư cho các dự án



4- Các khoản nợ khác



4- Để dưới dạng tài sản khác

5- Cho vay

Tổng dư tài sản: S xxx



Tổng dư nợ: S xxx



Nguyên tắc chung là tổng số dư tài sản phải bằng tổng dư nợ, nếu mất cân đối phải có

biện pháp kiểm tra, xác định giải quyết kịp thời.

c) “Quá trình tạo tiền” của các ngân hàng thương mại

• Tình huống NHTM dự trữ với tỷ lệ ra = rb và dân chúng không giữ tiền mặt:

Trong quá trình hoạt động, NHTƯ yêu cầu các NHTM phải để tỷ lệ dự trữ bắt buộc r b đối

với các khoản tiền gửi không kỳ hạn (D)

Trong hệ thống ngân hàng, có nhiều NHTM hoạt động. Giả sử tỉ lệ dự trữ bắt buộc là

10% (rb = 10%). NHTM số 1 nhận khoản tiền gửi không kỳ hạn 100 USD. Vậy, tài khoản

ngân hàng số 1 như sau:

NHTM số 1

Tài sản------------------------------- Các khoản nợ

+ Dự trữ (Rb) 10 USD



+ Tiền gửi 100 USD



+ Cho vay 90 USD

Tổng tài sản NHTM số 1 vẫn là 100 USD, bằng tổng dư nợ

Cung ứng tiền trong nền kinh tế trước khi NHTM số 1 cho vay MS = 100 USD dưới dạng

tiền gửi vào ngân hàng. Nhưng khi NHTM này thực hiện nghiệp vụ cho vay, cung ứng tiền

tăng lên. Người gửi vẫn gửi 100 USD tiền gửi không kỳ hạn, nhưng người vay tiền của ngân

hàng số 1 nắm giữ 90 USD tiền mặt. Cung tiền bằng tổng tiền mặt và tiền gửi không kỳ hạn,

100 + 90 = 190 USD.

Như vậy, khi NHTM giữ một phần tiền gửi dưới dạng dự trữ, nó đã tạo ra tiền.

Quá trình tạo ra tiền không dừng lại ở NHTM số 1. Giả sử những người vay tiền của

NHTM số 1 sử dụng 90 USD để mua hàng hoá, người bán hàng thu được 90 USD tiền mặt,

Họ quyết định gửi toàn bộ số tiền vào NHTM số 2, ta có tài khoản chữ T

NHTM số 2

Tài sản------------------------------- Các khoản nợ

+ Dự trữ (Rb) 9 USD



+ Tiền gửi 90 USD



+ Cho vay 81 USD

32



NHTM số 2 cũng để tỷ lệ dự trữ rb = 10%, nó sẽ nắm giữ tài sản 9 USD dưới dạng dự trữ

và cho vay 81 USD. Bằng cách này NHTM số 2 đã tạo thêm lượng tiền là 81 USD. Nếu 81

USD tiền mặt cũng lại được huy động gửi vào NHTM số 3, ta có tài khoản chữ T như sau:

NHTM số 3

Tài sản------------------------------- Các khoản nợ

+ Dự trữ (Rb) 8,1 USD



+ Tiền gửi 81 USD



+ Cho vay 72,9 USD

Quá trình cứ tiếp diễn, qua mỗi lần tiền mặt được gửi vào ngân hàng, ngân hàng cho vay

tiền lại tạo ra thêm tiền. Tổng cộng ta có:

-



Tiền gửi ban đầu = 100 USD



-



Cho vay của NHTM số 1 = 90 USD (100 USD x 90%)



-



Cho vay của NHTM số 2 = 81 USD (90 USD x 90%)



-



Cho vay của NHTM số 3 = 72,2 USD (81 USD x 90%)



-



...



-



Tổng mức cung tiền (MS) = 1000 USD



Nếu tiếp tục cộng chuỗi các con số trong ví dụ trên, ta sẽ thấy 100 USD dự trữ tạo thêm

lượng tiền bằng 1000 USD. Lượng tiền do hoạt động của hệ thống ngân hàng tạo ra từ mỗi đô

la dự trữ được gọi là số nhân tiền (m1)



1

100 USD dự trữ tạo ra 1000 USD và như vậy số nhân tiền bằng 10 =



r



b



• Tình huống NHTM dự trữ một phần tiền gửi và ra > rb

Xác định mức cung tiền (MS), mức cung tiền là tổng số tiền có khả năng thanh toán, nó

bao gồm tiền mặt đang lưu hành và các khoản tiền gửi không kỳ hạn tại NHTM.

MB = H

U



R



U



D



MS

Hình 4.1. Xác định mức cung tiền

Mức cung tiền trước hết được quyết định bởi quy mô của lượng tiền cơ sở (MB) và số

nhân tiền (m)



33



Hình 4.1 cho biết tiền cơ sở MB là do NHTƯ phát hành bao gồm tiền trong lưu thông (U)

và tiền dự trữ tại các ngân hàng (D). Các khoản tiền gửi ngân hàng là bội số của tiền dự trữ

của các ngân hàng.

Trên giác độ kinh tế quốc dân, số nhân tiền là tỷ số giữa mức cung tiền tệ và tiền cơ sở

m=



MS

MB



=> MS = m.MB



1

Số nhân tiền m1 = r b ở phần trên được tính khi chúng ta giả định toàn bộ lượng tiền tệ

được giao dịch thông qua hệ thống NHTM và tỷ lệ dự trữ bắt buộc (ra = rb).

Trong thực tế, một phần tiền được công chúng giữ lại dưới dạng tiền mặt (không gửi

100% vào ngân hàng) và tỷ lệ dự trữ thực tế lớn hơn tỷ lệ dự trữ bắt buộc (ra > rb).

Hình 4.1 trình bày mối quan hệ giữa tiền cơ sở và mức cung tiền

MB = U + R

MS = U + D

Tỷ lệ tiền mặt lưu thông so với tiền gửi

s=



U

=> U = s.D

D



Trong đó: s - là tỷ lệ giữ tiền

Tỷ lệ dự trữ thực tế (ra)

ra =

Từ



R

=> R = ra.D

D



MB = U + R



ta có



MB = s.D + ra.D



<=> MB = D.(s + ra)

=> D =



1

.MB

s + ra



Từ MS = U + D

<=> MS = s.D + D

<=> MS = D(1 + s)

Thay D =



1

1+ s

.MB vào ta có: MS =

.MB

s + ra

s + ra



Dựa vào công thức tính mức cung tiền, NHTƯ tác động tăng giảm cung tiền để thực thi

chính sách tiền tệ.

Số nhân tiền m2 =



1+ s

s + ra

34



Muốn tăng MS, NHTƯ có thể tăng m 2 và MB. Tăng MB phụ thuộc vào tình hình phát

M2

, duy tì ổn định chỉ số này để

GDP

đảm bảo ổn định sức mua của tiền, ổn định phát triển kinh tế.



triển kinh tế, phải đặc biệt quan tâm đến chỉ số tiền hàng



Số nhân tiền m2 phụ thuộc tỷ lệ giữ tiền trong dân (s) và tỷ lệ dự trữ thực tế (ra)

+ Tỷ lệ giữ tiền trong dân (s) phụ thuộc:

- Tốc độ tăng tiêu dùng

- Thói quen thanh toán của xã hội

- Khả năng sẵn sàng đáp ứng tiền mặt của các NHTM

+ Tỷ lệ dự trữ thực tế (ra)

- Tỷ lệ dự trữ bắt buộc (rb) do NHTƯ quy định.

- Tính không ổn định của nguồn tiền mặt vào, ra của các ngân hàng buộc các NHTM dự

trữ tiền nhiều hơn quy định (ra > rb)

- NHTM tính toán thiệt hại do phải trả lãi suất nếu phải vay tiền khi thiếu hụt dự trữ.

4.2.2.3 Ngân hàng Trung ương và vai trò kiểm soát thị trường tài chính

a) Chức năng của ngân hàng Trung ương (NHTƯ)

NHTƯ có các chức năng cụ thể sau:

* NHTƯ là ngân hàng của các NHTM, chức năng này được thể hiện ở những nghiệp vụ

cụ thể sau:

+ Giữ tài khoản dự trữ cho các NHTM, trước hết là khoản dự trữ đối với loại tiền gửi

không kỳ hạn (D)

+ Đóng vai trò trung gian trong tiến trình thanh toán liên NHTM

+ Đóng vai trò là “người cho vay”, là phương sách cuối cùng đối với một vài NHTM

trong trường hợp khẩn cấp.

* NHTƯ là ngân hàng của Chính phủ. Chức năng này thể hiện:

+ NHTƯ giữ tài khoản cho Chính phủ

+ Nhận tiền gửi và cho vay đối với hệ thống kho bạc Nhà nước.

+ Hỗ trợ chính sách tài khoá của Chính phủ bằng việc mua trái phiếu của Chính phủ.

* Thay mặt Chính phủ kiểm soát mức cung tiền để thực thi chính sách tiền tề, nhằm ổn

định và phát triển kinh tế.

* Hỗ trợ, giám sát và điều tiết hoạt động của thị trường tài chính.

Ngoài ra NHTƯ có dự trữ lớn về tiền, vàng, ngoại tệ và các chứng chỉ tài chính.

NHTƯ là cơ quan độc quyền phát hành tiền khi cần thiết (được phép của Chính phủ).

b) Các công cụ kiểm soát cung ứng tiền tệ của NHTƯ

35



NHTƯ điều chỉnh mức cung tiền, từ đó tác động đến lãi suất (r), bằng nhiều công cụ

nhằm tác động đến tiền mạnh và số nhân tiền tệ, thực thi chính sách tiền tệ.

Ngoài ra NHTƯ kiểm soát có lựa chọn một số khoản tín dụng trước hết là khoản tiền gửi

không kỳ hạn (D) của các Ngân hàng thương mại. Các công cụ NHTƯ thường dùng:

+ Nghiệp vụ thị trường mở: NHTƯ thực hiện nghiệp vụ thị trường mở mua hoặc bán trái

phiếu của Chính phủ cho công chúng. Khi muốn tăng cung tiền, NHTƯ chỉ đạo mua trái

phiếu trên thị trường. Lượng tiền mặt bỏ ra mua trái phiếu làm tăng lượng tiền trong lưu

thông, góp phần làm tăng cung tiền.

Ngược lại, để cắt giảm cung tiền, NHTƯ thực hiện nghiệp vụ bán trái phiếu, lượng tiền

trong lưu thông sẽ giảm.

Nghiệp vụ thị trường mở là công cụ của chính sách tiền tệ mà NHTƯ thường dùng.

+ Chỉ đạo để tỷ lệ dự trữ bắt buộc (rb)

NHTƯ tác động đến cung tiền thông qua tỷ lệ dự trữ, bởi lẽ tỷ lệ dự trữ cao hay thấp ảnh

hưởng trực tiếp đến số nhân tiền.

1

m1 = -----rb

Nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc (rb) tăng sẽ làm cho giá trị số nhân giảm, cung về tiền sẽ giảm

và ngược lại.

+ Lãi suất chiết khấu:

Lãi suất chiết khấu là lãi suất NHTƯ áp dụng khi cho các Ngân hàng thương mại vay

tiền. Khi không đủ mức dự trữ bắt buộc, Ngân hàng thương mại phải vay tiền NHTƯ. Điều

này có thể xảy ra khi ngân hàng cho vay quá nhiều, hoặc có quá nhiều khoản tiền được rút ra.

Khi NHTƯ cho các NHTM vay tiền, dự trữ của họ tăng lên, và họ có thể tạo ra nhiều tiền

hơn. Mặt khác NHTƯ có thể thay đổi cung tiền bằng cách thay đổi lãi suất chiết khấu. Khi lãi

suất chiết khấu tăng NHTM vay ít tiền và ngược lại, khi lãi suất chiết khấu giảm thì khuyến

khích các NHTM vay tiền dẫn tới lượng dự trữ tăng, cung tiền tăng.

Ngoài ra khi GNP tăng, NHTƯ phát hành bổ sung thêm tiền cũng thông qua lãi suất chiết

khấu, NHTƯ cho các NHTM vay với mục đích tung tiền vào nền kinh tế.

Ngoài ba công cụ trên, NHTƯ còn vận dụng một số công cụ tạm thời có tính chất can

thiệp trực tiếp vào thị trường tiền tệ như quy định hạn mức tín dụng, trực tiếp quy định lãi

suất tín dụng khi cần thiết.

4.3. Mức cầu về tiền tệ (MD)

4.3.1. Các loại tài sản tài chính

Trong nền kinh tế hiện đại, tài sản tài chính được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác

nhau, có thể chia chúng thành hai nhóm:

+ Tài sản giao dịch (thanh khoản) không tạo ra thu nhập, nhưng được dùng để thanh toán

khi mua hàng hoá và dịch vụ.

36



+ Các loại tài sản tài chính khác tạo ra thu nhập (cổ phiếu, trái phiếu, sổ tiết kiệm...),

nhưng không thể dùng trực tiếp để mua hàng.

Hầu hết các hộ gia đình, các doanh nghiệp giữ của cải của mình kết hợp cả hai loại tài sản

trên nhằm mục đích:

- An toàn cho tài sản của mình.

- Tạo ra thu nhập cao.

Để nghiên cứu, chúng ta quy định rằng:

- Mọi tài sản giao dịch được, không tạo ra thu nhập dưới dạng lãi suất gọi là tiền.

- Mọi tài sản tài chính khác có tạo ra thu nhập dưới dạng lãi suất gọi chung là trái phiếu.

3.2. Mức cầu về tiền (MD) và mức cầu về trái phiếu (DB)

a) Mức cầu về tiền (MD)

Cầu về tiền là số lượng tiền cần để chi tiêu thường xuyên, đều đặn cho nhu cầu tiêu dùng

và cho sản xuất kinh doanh được gọi là cầu về tiền (cầu về tiền giao dịch).

Khi giá cả tăng, cầu về tiền danh nghĩa cũng tăng, để bảo đảm mua đủ khối lượng hàng hoá

cần thiết đã dự định. Như vậy, thực chất của mức cầu về tiền là cầu về tiền tệ thực tế.

Mức cầu về tiền thực tế gọi tắt là mức cầu về tiền.

Mức cầu về tiền (MD) phụ thuộc:

+ Mức cầu tiền phụ thuộc vào thu nhập (Y). Mọi người giữ một phần tài sản của mình

dưới dạng tiền để mua hàng hoá và dịch vụ. Khi thu nhập tăng, tiêu dùng tăng, cầu về tiền

cũng tăng và ngược lại.

+ Cầu về tiền phụ thuộc vào lãi suất (r)

Chi phí giữ tài sản dưới dạng tiền là thu nhập từ lãi suất, mà tài sản đó có thể tạo ra, nếu

như để chúng dưới dạng trái phiếu. Như vậy lãi suất chính là chi phí cơ hội của việc giữ tài

sản dưới dạng tiền.

Trong các điều kiện khác không đổi, khi lãi suất giảm xuống người ta lại giữ tiền nhiều

hơn là để tài sản dưới dạng trái phiếu.

Quan hệ tỷ lệ nghịch giữa lãi suất và cầu về tiền, thể hiện hàm cầu tiền

MD = kY - hr

Trong đó:



MD là mức cầu về tiền

r là lãi suất



Y là nhu nhập



k, h là hệ số nhạy cảm của Y và r đối với MD



37



r

r0



MD1(Y1)

MD0(Y0)



Hình 4.2. Đồ M hàm cầu về tiền

thị M

0

M

0



1



b) Mức cầu về trái phiếu là mức cầu về tài sản tài chính có tạo ra thu nhập dưới dạng lãi

suất (tài sản sinh lợi)

Trái phiếu tuy sinh lợi nhưng chịu nhiều rủi ro, bởi lẽ giá cả của chúng được quyết định

trên thị trường, khó dự báo trước.

Giữ tiền không sinh lời nhưng ít gặp rủi ro, trừ khi nền kinh tế có lạm phát cao.

Trong thực tế, nhiều người chủ động giảm bớt rủi ro bằng cách đa dạng hoá các dạng tài

sản tài chính của mình, nghĩa là vừa để tài sản dưới dạng tiền, vừa để tài sản dưới dạng trái

phiếu. Thực tế có sự chuyển đổi từ mức cầu về tiền sang mức cầu về trái phiếu và ngược lại.

Khi nghiên cứu thị trường tiền tệ phải chú ý đến đặc điểm này.

c) Mối quan hệ giữa mức cầu về tiền và mức cầu về trái phiếu

Tài sản tài chính bao gồm tiền và trái phiếu. Mỗi người tự quyết định việc phân phối tài

sản tài chính của mình theo hai loại trên (quyết định tích sản) sao cho an toàn và tạo thu nhập.

Sự phân phối tài sản được thể hiện ở đẳng thức:

MD + DB =

Trong đó:

(giá trị)



WN

(1)

P



MD - cầu tiền tệ thực tế

WN - tài sản tài chính danh nghĩa



DB - cầu về các loại trái phiếu

P - chỉ số giá



WN

- tổng tài sản tài chính thực tế

P



Tổng tài sản tài chính trong nền kinh tế có thể xác định được từ những loại tài sản thực tế

đã được cung ứng như mức cung tiền, số lượng và giá trị các loại trái phiếu đã được phát

hành, thể hiện ở đẳng thức:

WN

MS n

=

+SB (2)

P

P



Trong đó:



MS n

- mức cung tiền thực tế

P



SB - cung về các loại trái phiếu (giá trị)



Từ (1), (2) ta suy ra đẳng thức:

MD + DB =



MS n

+ SB (3)

P

38



(MD -



MS n

) - (SB - DB) = 0

P



Thị trường tiền tệ Thị trường trái phiếu



Thị trường tài chính

Giả sử thị trường tiền tệ cân bằng có nghĩa

MS n

=0

P

Khi đó - (SB - DB) = 0, có nghĩa là thị trường trái phiếu cũng cân bằng.

MD −



Tóm lại: Khi thị trường tiền tệ cân bằng thì thị trường trái phiếu cũng cân bằng, hay nói

theo cách khác, thị trường tài chính cân bằng.

4.4. Tiền tệ, lãi suất và tổng cầu

4.4.1. Cân bằng trên thị trường tiền tệ

Công cụ để phân tích thị trường tiền tệ là đường cung và đường cầu về tiền. Đường cung về

tiền là đường thẳng đứng song song với trục tung, điều này do NHTƯ sử dụng các công cụ của

mình duy trì mức cung tiền cố định ở mỗi thời kỳ cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế.

Đó là lượng tiền xác định cho mọi mức lãi suất.

Tác động qua lại giữa cung và cầu tiền xác định vị trí cân bằng, xác định lãi suất cân

bằng, hay còn gọi là lãi suất thị trường .

Thị trường tiền tệ cân bằng khi:



MD = MS



kY − hr =



hay



r



MS n

P



MS0

A



r2

ro

r1



E0



B

MD0(Y0)



0



M2



M0



M1



M



MS

Hình 4.3. Cân bằng trên thị trường tiền tệ

MS0

Giả sử ở mức lãi suất r 1
r

tiền lớn hơn cung tiền nên “giá” của vốn lãi suất E

tăng, kéo lãi suất trở về vị trí cân bằng cũ E 0,

r1 lãi suất bằng r2 thì cầu1 tiền MD = M2; cung tiền MS = M0 như vậy

E2

với lãi suất r0. Ngược lại khi

r2

cung tiền lớn hơn cầu về tiền M2 < M0, kéo lãi suất giảm trở về vị trí cân bằng cũ là E0.

r

Sự dịch chuyển đường0 cung và cầu tiền cũng0làm thay đổi vị trí cân)bằng và thay đổi lãi

E

MD1(Y1

suất cân bằng.

MD0(Y0)

0



M0



39



M1



M



Hình 4.4. Biến động trên thị trường tiền tệ



Khi thu nhập tăng, nhu cầu tiền cho giao dịch tăng lên dịch chuyển đường cầu tiền lên

trên, làm thay đổi vị trí cân bằng và lãi suất cân bằng.

4.4.2. Lãi suất cân bằng (lãi suất thị trường) và tổng cầu

Lãi suất với tiêu dùng, đầu tư và xuất nhập khẩu

Tiền là phương tiện trao đổi, dự trữ giá trị thuận lợi. Tác động qua lại giữa cung tiền

(MS) và cầu tiền (MD) xác định vị trí cân bằng trên thị trường tiền tệ và xác định lãi suất cân

bằng (hay còn gọi là lãi suất thị trường). Lúc này, lãi suất thị trường lại tác động ngược đến

tiêu dùng, đầu tư, xuất nhập khẩu (nhiều bộ phận của tổng cầu).

+ Lãi suất với tiêu dùng (C)

Khi mức cung tiền tăng lên, làm dịch chuyển đường cung tiền sang phải, lãi suất cân bằng

giảm. Lãi suất thấp, dân chúng lại giữ tiền nhiều hơn là để trái phiếu, gây hiệu ứng của cải

làm dịch chuyển đồ thị hàm tiêu dùng lên trên và tiêu dùng sẽ tăng lên ở mỗi mức thu nhập.

r

MSo MS1

C1

E1

C1

ro



Eo



Co



r1



E1



0



M0



Co



E0



MD0(Y0)



M1



M



0 Hình 4.5. D0 YD1 với YD dùng

Y Lãi suất

tiêu



Như vậy, cung tiền tăng, lãi suất giảm và kích thích tăng tiêu dùng. Ngược lại, khi cung tiền

MS MS1

r

giảm, lãi suất sẽrtăng và tác động 0giảm tiêu dùng (cầu tiền chuyển sang cầu về trái phiếu).

+ Lãi suất với đầu tư (I)

Lãi suất quan hệ tỷ lệ nghịch với đầu tư. Khi lãi suất cân bằng trên thị trường tiền tệ giảm

r0

E0

r0

A

(lãi suất thị trường giảm), nhiều dự án được đầu tư, được triển khai (cầu đầu tư tăng) và

ngược lại.

r1

E1

r1

B

MD0(Y0)

40

0



M0



M1



M



MEI

O



I0



I1



I



Hình 4.6. Lãi suất với đầu tư

Đường cầu về đầu tư (MEI) dốc nghiêng đi xuống, biến thiên theo lãi suất.

Khi giá cả những tư liệu sản xuất phải mua sắm cho một dự án (hàng hoá đầu tư) tăng, lợi

nhuận dự tính trong tương lai do chương trình đầu tư đem lại sẽ giảm, tác động này sẽ làm

cho đường cầu về đầu tư (MEI) dịch chuyển vào trong gốc toạ độ và cầu đầu tư sẽ giảm ở mỗi

mức lãi suất.

+ Lãi suất với xuất nhập khẩu

Lãi suất, lãi suất thị trường cũng quan hệ chặt chẽ với xuất và nhập khẩu, khi lãi suất tăng,

đồng nội tệ được định giá cao hơn, đẩy tỷ giá hối đoái tăng lên (đồng nội tệ được định giá cao

hơn so với thời kỳ trước). Khi tỷ giá hối đoái tăng, kích thích nhập khẩu, hạn chế xuất khẩu, cán

cân thương mại (NX) giảm. Ngược lại khi lãi suất giảm, tác động làm tỷ giá hối đoái giảm

(đồng nội tệ được định giá thấp hơn so với thời kỳ trước) lại kìm hãm nhập khẩu và kích thích

xuất khẩu.

+ Lãi suất với tổng cầu

Như phân tích ở trên, tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu ròng là những bộ phận của tổng cầu:

AD = C + I + G + NX

Khi những bộ phận trên thay đổi sẽ làm thay đổi tổng cầu và thu nhập. Như vậy, khi mức

cung tiền tăng, lãi suất sẽ giảm, lãi suất giảm sẽ mở rộng khả năng tiêu dùng, khuyến khích

đầu tư và xuất khẩu, tác động này sẽ làm dịch chuyển đồ thị đường tổng cầu lên trên, tạo sản

lượng (GNP) tăng. Ngược lại khi lãi suất tăng thì tổng cầu và thu nhập giảm.

4.5. Sự cân bằng đồng thời trên thị trường hàng hoá và thị trường tiền tệ

4.5.1. Mô hình IS

Thị trường hàng hoá cân bằng khi tổng cầu bằng thu nhập, tương ứng với một mức lãi

suất cho trước. Khi lãi suất thay đổi sẽ làm dịch chuyển đồ thị đường tổng cầu và xác định

được một mức tổng cầu (thu nhập) mới.

Như vậy, tập hợp những tổ hợp khác nhau giữa lãi suất và thu nhập (sản lượng), phù hợp

với sự cân bằng trên thị trường hàng hoá sẽ được một đường - đường IS

Hình 4.7 giới thiệu cách dựng đường IS, ở mức lãi suất r 0 tổng cầu AD0, vị trí cân bằng

E0, ứng với mức thu nhập Y0. Thể hiện ở điểm E0 ở (H2), tổ hợp (Y0, r0). Khi lãi suất giảm

xuống r1 (r1AD0), vị trí cân bằng E1, thu nhập Y1. Thể hiện ở

điểm E1 ở (H2), tổ hợp (Y1, r1). Lặp lại với tất cả các mức lãi suất ta có tất cả các điểm giống

như điểm E0, E1 (H2). Nối E1, E0 ta được đường IS.

Ngoài ra, có thể dựng đường IS dựa vào phương trình đường IS.

41



Phương trình có dạng:

r=

Trong đó:



A

1



Y

b b.m'

A = C + I + G + EX



b = d + n và



Trong đó:

d và n là các hệ số đo lường quy mô của đầu tư và xuất khẩu giảm khi lãi suất tăng 1%

m’ =



1

là số nhân chi tiêu của nền kinh tế mở

1 − MPC (1 − t ) + MPM

AD



AD1

E1



AD0



E0

(H1)

r



450



r0



E0



r1



(H2)



Y



Y0 Y1



E1



0



IS



Y0 Y1

Y(Q)

Hình 4.7. Dựng đường IS



- Thị trường hàng hoá cân bằng ở tất cả các điểm nằm trên đường IS

- Độ dốc của đường IS phụ thuộc vào độ nhạy cảm của lãi suất với tổng cầu. Đường IS

càng nằm ngang (độ dốc nhỏ) chỉ một thay đổi nhỏ của lãi suất cũng đưa đến sự thay đổi lớn

trong thu nhập (sản lượng).

Sự di chuyển dọc đường IS chỉ do riêng biến động của lãi suất. Những yếu tố ngoài lãi

suất tác động làm dịch chuyển đường tổng cầu thì đồng thời cũng làm dịch chuyển đường IS.

4.5.2. Mô hình đường LM

r



MS0



r



r1



E1



r1



r0



E0



r0



LM

E1

E0



MD1 (Y1)

MD0 (Y0)

0



M0



M



0

42



Y0 Y1



(H1) Hình 4.8. Dựng đường LM (H2)



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (78 trang)

×