1. Trang chủ >
  2. Giáo án - Bài giảng >
  3. Cao đẳng - Đại học >

TỔNG CUNG VÀ CHU KỲ KINH DOANH

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (526.67 KB, 78 trang )


định hướng XHCN, công nghệ thường xuyên được đổi mới theo hướng tích cực nên tổng cung

tăng lên nhanh, góp phần đáng kể vào việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế.

* Chi phí sản xuất

- Tiền lương: chế độ tiền lương hàng tháng đều ảnh hưởng đến lượng cung. Nếu tiền

lương thấp dẫn đến chi phí sản xuất thấp (giả định với các yếu tố khác là không đổi) thì lượng

cung sẽ tăng lên và ngược lại.

- Các chi phí đầu vào khác: giá dầu mỏ tăng hay giảm, các quy định môi trường khắt khe

hay ít khắt khe đều ảnh hưởng đến tổng cung, giá dầu mỏ tăng sẽ làm tăng chi phí sản xuất và

từ đó làm giảm tổng cung và ngược lại.

- Giá nhập khẩu: nếu giá ở nước ngoài giảm, tỷ giá hối đoái tăng lên thì giá nhập khẩu

giảm xuống, dẫn đến chi phí sản xuất giảm, từ đó tổng cung tăng.

Tất cả những nhân tố tác động đến tổng cung nói trên đều là các yếu tố ngoại sinh nên

làm cho đường tổng cung dịch chuyển sang trái hoặc phải.

5.1.3. Tổng cung trong ngắn hạn và dài hạn

a. Đường tổng cung ngắn hạn

Trong ngắn hạn đường tổng cung có khuynh hướng dốc lên, điều đó có nghĩa là sự gia

tăng mức giá chung của nền kinh tế làm tăng lượng cung hàng hoá dịch vụ và ngược lại. Một

vấn đề đặt ra ở đây là tại sao lại như vậy? Các nhà kinh tế học vĩ mô đã đưa ra ba lý thuyết

về sự dốc lên của đường tổng cung ngắn hạn đó là:

* Lý thuyết nhận thức sai lầm, lý thuyết tiền lương và lý thuyết giá cả cứng nhắc. Tuy

nhiên các điều kiện này có sự thay đổi, điều chỉnh, do đó quan hệ thuận giữa mức giá chung

và tổng cung có tính tạm thời.

Đường tổng cung cho biết tổng khối lượng hàng hoá, dịch vụ mà các tác nhân trong nền

kinh tế sản xuất và bán ra tại mỗi mức giá. Nó không giống như đường tổng cầu lúc nào cũng

dốc xuống, đường tổng cung biểu thị mối quan hệ phụ thuộc vào thời gian nghiên cứu. Trong

ngắn hạn đường tổng cung có khuynh hướng dốc lên, còn trong dài hạn đường tổng cung

thẳng đứng. Để giải thích tại sao lại như vậy chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu đường tổng cung

ngắn hạn và đường tổng cung dài hạn.

P



0



ASLR



YP



P

ASSR



ASLR



0



Y



Hình5.1a.Đường tổng cung ngắn hạn



YP



Y



Hình 5.1b. Đường tổng cung dài hạn



Như vậy, ta có thể hiểu rằng đường cung ngắn hạn có khuynh hướng dốc lên chính là một

số bộ phận của chi phí trong sản xuất kinh doanh dịch vụ là không linh hoạt, cứng nhắc

(không đổi) do đó các tác nhân trong nền kinh tế phản ứng bằng cách sản xuất bán nhiều hàng

49



hoá dịch vụ với mức giá cao để đáp ứng mức tổng cầu tăng. Tuy nhiên, cũng phải nhận thấy

rằng đường tổng cung ngắn hạn sẽ tương đối thoải ở phía bên trái sản lượng tiềm năng và

ngày càng dốc hơn ở phía bên phải sản lượng tiềm năng.

b. Đường tổng cung trong dài hạn

Trong phần (2) ở mục I đã nghiên cứu và chỉ ra các nhân tố quyết định đến lượng cung về

hàng hoá dịch vụ như cung lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên và công nghệ… đã chuyển

các yếu tố đầu vào này thành sản phẩm. Do mức giá không ảnh hưởng đến các yếu tố quyết

định dài hạn này của GDP thực tế trong dài hạn nên đường tổng cung dài hạn thẳng đứng

(như hình 5.1b). Trong dài hạn, sau khi các thành phần của chi phí đã được điều chỉnh, các tác

nhân trong nền kinh tế sẽ gặp cùng một tỷ số giá trên chi phí như đã gặp trước khi có sự thay

đổi của cầu, do đó sẽ không còn động lực nào khiến họ tăng sản lượng của mình lên nữa.

5.2. Chu kỳ kinh doanh

5.2.1. Khái niệm

Chu kỳ kinh doanh xảy ra khi hoạt động kinh tế tăng tốc hay chậm lại xen kẽ nhau theo

thời gian, hay nói chính xác hơn ta có thể hiểu chu kỳ kinh doanh là sự dao động lên xuống

của tổng sản phẩm quốc dân thực tế theo thời gian (hình 5.2).

Đỉnh

GNP TTế

Đỉnh

Đỉnh



Khủng

hoảng



Đáy

Bành trướng

Mở rộng

Khủng

hoảng



Khủng

hoảng



t



Hình 5.2. Chu kỳ kinh doanh



Từ khái niệm và hình 5.2 ta rút ra một số nhận xét sau:

- Chu kỳ kinh doanh được đánh dấu bằng sự mở rộng hay thu hẹp tổng sản phẩm quốc

dân thực tế.

- Điểm nổi bật của các chu kỳ kinh doanh là có tính bao trùm, các chu kỳ kinh doanh

thường lặp đi lặp lại nhưng do có tính định kỳ, không mang tính quy luật, không có hai chu kỳ

kinh doanh nào giống nhau.

- Các nhà kinh doanh thường chia chu kỳ kinh doanh thành hai giai đoạn: suy thoái (thu

hẹp, khủng hoảng) và mở rộng (tăng trưởng).

50



+ Đỉnh của chu kỳ kinh doanh là điểm cao nhất mà tổng sản phẩm quốc dân thực tế đạt

được trong mỗi chu kỳ kinh doanh.

+ Đáy của chu kỳ kinh doanh là điểm thấp nhất mà tổng sản phẩm quốc dân thực tế đạt

được trong mỗi chu kỳ kinh doanh.

+ Sự đi xuống của chu kỳ kinh doanh tức là khoảng cách từ đỉnh đến đáy của chu kỳ kinh

doanh được gọi là suy thoái (khủng hoảng, thu hẹp). Điều này có nghĩa là tổng sản phẩm quốc

dân thực tế giảm xuống từ chỗ cao nhất đến chỗ thấp nhất.

+ Sự đi lên từ đáy đến đỉnh kế tiếp của chu kỳ kinh doanh được gọi là thời kỳ mở rộng

(tăng trưởng).

5.2.2. Đặc điểm của chu kỳ kinh doanh

* Đặc điểm thường gặp ở giai đoạn suy thoái

- Tiêu dùng của dân chúng giảm nhanh, hàng hoá tồn kho có xu hướng tăng lên ngoài dự kiến.

- Đầu tư vào kinh doanh, dịch vụ hàng hoá của hãng để tái sản xuất mở rộng (như xây dựng

nhà xưởng mới, mở rộng quy mô sản xuất, mua sắm trang thiết bị máy móc…) cũng giảm theo.

- Số lao động có việc làm giảm, tỷ lệ thất nghiệp cao. Chi tiêu cho trợ cấp thất nghiệp

tăng.

- Lạm phát giảm, nhưng chính sách kinh tế vĩ mô không thích ứng thì cũng có thể dẫn tới

vừa suy thoái vừa lạm phát.

- Giá chứng khoán giảm xuống khi các nhà đầu tư cảm nhận được chu kỳ kinh doanh đi

xuống. Tuy nhiên do cầu tín dụng giảm lãi suất cũng có thể giảm theo.

- Lợi nhuận của doanh nghiệp giảm nên giảm đầu tư.

- Số thu về thuế giảm

- Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội bất ổn.

* Đặc điểm thường gặp ở giai đoạn mở rộng

- Tổng sản phẩm quốc dân tăng lên, thu nhập dân chúng tăng nên chi tiêu của họ cũng

được tăng lên một cách đáng kể.

- Lợi nhuận của doanh nghiệp tăng, kéo theo là đầu tư của các hãng, đầu tư nước ngoài tăng.

- Chi tiêu của chính phủ tăng, số thuế thu được nhiều nên ngân sách thường thặng dư.

- Lạm phát tăng, thất nghiệp giảm.

- Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội phát triển và ổn định vững chắc.

Từ đặc điểm trên ta có thể thấy rằng đặc điểm của giai đoạn mở rộng là hình ảnh phản

chiếu của giai đoạn suy thoái.

5.2.3. Các nguyên nhân của chu kỳ kinh doanh

Nguyên nhân gây ra chu kỳ kinh doanh hiện nay đang được các nhà kinh tế học vĩ mô

quan tâm và tranh luận khá sôi nổi. Những ý kiến cho rằng phần lớn là do những dao động

của tổng cầu, hoạ hoằn mới do sự chuyển dịch của tổng cung gây ra. Nhưng vấn đề đặt ra ở

51



đây là nhân tố nào làm cho tổng cầu và tổng cung dịch chuyển? Tại sao nền kinh tế có giai

đoạn mở rộng, có giai đoạn thu hẹp như vậy?

Các lý thuyết nghiên cứu về chu kỳ kinh doanh chia thành 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến

chu kỳ kinh doanh đó là nhóm nhân tố ngoại sinh và nội sinh.

- Nhóm nhân tố ngoại sinh: là nhóm nhân tố bên ngoài hệ thống kinh tế. Nhóm này bao

gồm dân số, chiến tranh, hệ thống chính trị, điều kiện tự nhiên (khí hậu, thời tiết…), những

phát kiến và đổi mới công nghệ biến động. Gần đây nhiều nhà kinh tế phân tích cho rằng nền

kinh tế thế giới dễ rơi vào cuộc khủng hoảng do những lo ngại của dân chúng sau khi có cuộc

xâm lược của Mỹ ở Irắc.

- Nhóm nhân tố nội sinh: là nhóm các nhân tố bên trong bản thân hệ thống kinh tế vốn

chứa đựng những cơ chế làm nảy sinh ra chu kỳ kinh doanh. Mọi sự mở rộng (bành chướng)

đều nuôi dưỡng sự suy thoái (thu hẹp) và mọi sự thu hẹp đều nôi dưỡng sự mở rộng theo một

chỗi lặp đi lặp lại.

5.2.4. Một số lý thuyết về chu kỳ kinh doanh

Mặc nhiên, hiện nay chúng ta cũng cần quan tâm đến một số lý thuyết về chu kỳ kinh

doanh đó là:

- Lý thuyết tiền tệ cho rằng sở dĩ có chu kỳ kinh doanh là do sự mở rộng chính sách tiền

tệ (thông qua việc tăng mức cung tiền) và thắt chặt chính sách tiền tệ (bằng việc giảm mức

cung tiền hoặc tăng lãi suất).

- Lý thuyết chu kỳ kinh doanh cân bằng đánh giá những những nhận thức sai lầm về sự

vận động giá cả và tiền lương đã khiến cho các tác nhân trong nền kinh tế cung ứng quá nhiều

lao động hay quá ít lao động dẫn đến chu kỳ kinh doanh.

- Lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế phát biểu rằng những biến động về năng suất tích

cực hay tiêu cực trong một khu vực có tính lan toả sang các phần khác của nền kinh tế và gây

ra những dao động.

- Lý thuyết chính trị cho rằng các dao động là do các chính trị gia – người lôi kéo các

chính sách tài khoá và tiền tệ để được tái đắc cử.

- Mô hình gia tốc - số nhân: lý thuyết này cho rằng biến động ngoại sinh được lan truyền

bằng một số nhân đi cùng với một lý thuyết đầu tư (được gọi là lý thuyết gia tốc). Do đó,

chúng tạo ra những dao động chu kỳ có tính quy luật của sản lượng.

Đầu tư tăng sản lượng tăng (theo mô hình số nhân)  đầu tư tăng (theo nguyên tắc gia

tốc)  sản lượng tăng (theo mô hình số nhân)… Đạt đến đỉnh chu kỳ.

Tiếp đến sản lượng ngừng tăng đầu tư giảm (theo nguyên tắc gia tốc)  sản lượng

giảm (theo mô hình số nhân)… Chạm đáy chu kỳ.

Tiếp đến, đầu tư tăng lên và thời kỳ mở rộng lại bắt đầu.

Tóm lại, đà tư tăng lên sẽ làm cho sản lượng được khuếch đại qua mô hình số nhân. Sản

lượng tăng lên làm cho xu hướng đầu tư cận biên tăng. Quá trình này tiếp diễn không ngừng

đã tạo ra những dao động của chu kỳ kinh doanh.

52



Các lý thuyết nêu trên hiện nay còn nhiều vấn đề tranh luận nhưng chúng đều chứa đựng

những yếu tố hiện thực ở mối quốc gia, mỗi một giai đoạn nhưng không có một lý thuyết nào

đúng hoàn toàn trong mọi hoàn cảnh.

5.2.5. Tác động của chu kỳ kinh doanh

Một vấn đề đặt ra ở đây là tại sao tổng sản phẩm quốc dân thực tế quá nhiều hoặc quá ít

là không tốt, hay nói một cách khác dao động của chukỳ kinh doanh quá lớn ảnh hưởng lớn

đến vấn đề kinh tế - chính trị, xã hội.

+ Trước hết chu kỳ kinh doanh tác động đến lạm phát.

Nếu GNP thực tế tăng quá nhiều so với GNP tiềm năng dẫn đến lạm phát cao, lạm phát

tăng cao đưa nền kinh tế rơi vào thời kỳ khủng hoảng do đó ảnh hưởng đến phát triển kinh tế

chậm, tình hình chính trị, xã hội không ổn định. Điều này thực tế đã chứng minh ở một số

nước châu Á trong những năm đầu của thế kỷ 21.

Ta có thể nhận thấy rằng khi GNP thực tế giảm xuống quá nhiều so với GNP tiềm năng

thì tỷ lệ thất nghiệp thực tế cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Hay nói một

cách khác là số lao động có việc làm giảm, số lao động thất nghiệp ngày càng gia tăng. Điều

này cũng dẫn đến nền kinh tế sa sút, chính trị, xã hội cũng không ổn định.

Ngoài ra, chu kỳ kinh doanh còn tác động đến các lĩnh vực khác như đầu tư, ngân sách

của chính phủ, cán cân thanh toán quốc tế, tâm lý và lòng tin của mọi người.

5.2.6. Chế ngự các chu kỳ kinh doanh: chính sách ổn định nền kinh tế

a. Sự không ổn định của nền kinh tế

* Các "cú sốc"đối với tổng cầu:

Nền kinh tế đang ở trạng thái cân bằng ngắn hạn tại điểm E 0, ta tìm được giá và sản lượng

thực tế cân bằng (Pa0 và Qa0). Giả sử vì một lý do nào đó mà một làn sóng bi quan lan ra toàn

bộ nền kinh tế. Những lý do đó có thể là sự thay đổi chi tiêu trong các hộ gia đình, hãng và

chính phủ suy giảm, làm cho tổng cầu về lượng hàng hoá dịch vụ cũng giảm theo.

Hình 5.3 cho chúng ta thấy ảnh hưởng của sự suy giảm tổng cầu đó. Đường tổng cầu

trong ngắn hạn dịch chuyển từ AD 0 đến AD1. Nếu không có sự thay đổi nào của tổng cung thì

nền kinh tế sẽ hình thành trạng thái cân bằng mới tại điểm E 1. Tại điểm này sản lượng thực tế

giảm từ Qao đến Qa1, mức giá giảm từ Pa0 đến Pa1.

P



SLTN



Pa0



AS0



E0



Pa1



E1

AD0



0

Qa1



Qa0



AD1

QP



Q (Y)



Hình 5.3. Sự suy giảm của tổng cầu

53



Sự suy giảm sản lượng này cho thấy nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái. Mặc nhiên

cũng phải nhận thức được rằng mức độ của sự giảm của sản lượng và giá cả tuỳ thuộc mức độ

tác động mạnh hay yếu của làn sóng trên và độ dốc củ đường AD0 và AS0.

Giả sử tốc độ lưu thông tiền tệ tăng, chi tiêu của chính phủ tăng… làm cho đường tổng cầu

dịch chuyển sang phải theo chiều hướng tăng tổng cầu.

P



SLTN



AS0



Pa1



E1



Pa0



E0



AD1

AD0



0



Qa1



Qa0



QP



Q(Y)



Hình 5.4. Sự gia tăng của tổng cầu



Từ hình 5.4 có thể nhận thấy rằng trong ngắn hạn khi tổng cầu tăng làm cho sản lượng

thực tế tăng cao hơn so với sản lượng tiềm năng và giá cũng tăng theo.

b. Những "cú sốc" đối với tổng cung

Cũng như những "cú sốc" của tổng cầu, các "cú sốc" của tổng cung cũng gây ra sự không

ổn định nền kinh tế. Phần lớn các "cú sốc" của tổng cung thường diễn ra với sự tác động của

chi phí sản xuất.

Giả sử các tác nhân trong nền kinh tế phải đối mặt với chi phí sản xuất cao hơn trước. Ví

dụ như khi điều kiện khí hậu thời tiết bất lợi cho mùa màng, chiến tranh Irắc xảy ra làm tăng

chi phí khai thác, vận chuyển dầu mỏ làm cho giá dầu mỏ, xăng dầu cao, tỷ lệ tăng do công

đoàn đấu tranh mạnh hơn… Với sự gia tăng của chi phí sản xuất làm cho đường tổng cung

dịch chuyển lên trên, dẫn đến một thực trạng của nền kinh tế là sản lượng thực tế suy giảm,

giá cả tăng cao, điều đó cũng tương đồng với nền kinh tế vừa suy thoái, vừa lạm phát.

P

AS1



SLTN



AS0



Pa1



E1

E0



Pa0



0



AD0



Qa1



Q1



QP



Hình 5.5. Sự suy giảm của tổng cung

54



Q



Qua hình 5.5 ta có thể thấy rằng ban đầu nền kinh tế đang ở trạng thái cân bằng tại điểm

E0. Tại điểm E0 đó ta tìm được giá và lượng cân bằng P a0 và Ga0. Trong ngắn hạn với sự tác

động của chi phí sản xuất tăng (như giá xăng dầu tăng) làm cho đường tổng cầu dịch chuyển

lên trên từ AD0 đến AD1. Kết quả là sản lượng thực tế giảm từ Q a0 xuống Qa1 và mức giá

chung của nền kinh tế tăng lên từ P a0 lên Pa1. Hậu quả cuối cùng dẫn đến sự bất hạnh của nền

kinh tế là lạm phát kèm suy thoái.

c. Sự chế ngự chu kỳ kinh doanh của chính sách ổn định kinh tế

Đứng trươc những "cú sốc" của tổng cầu và tổng cung gây ra những biến động lớn đối

với nền kinh tế, các nhà kinh tế học vĩ mô, các nhà hoạch định chính sách phải làm gì khi phải

đối mặt với các "cú sốc" trên.

Với những "cú sốc" đối với tổng cầu làm cho nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái thì

chính sách để ổn định nền kinh tế được các nhà hoạch định chính sách thực hiện đó là các

biện pháp kích thích tổng cầu (ta quen gọi là biện pháp kích cầu). Những biện pháp đó bằng

sự gia tăng trong chi tiêu của chính phủ, giảm thuế, tăng lượng cung ứng tiền tệ hoặc giảm lãi

suất… làm cho đường tổng cầu dịch chuyển sang phải.

Nếu các nhà hoạch định chính sách đưa ra chính xác, kịp thời thfi có thể triệt tiêu được sự

dịch chuyển ban đầu (làm cho tổng cầu (AD) giảm, đẩy nó về vị trí cũ (AD1).

Tổng cung dài hạn

P

Tổng cung ngắn hạn

AS1

P1



AS2



E1



P2



E2



P3



E3



Qa1



QP



Q1



AD2



AD1



Q



Hình 5.6. Tác động của chính sách kích cầu để ổn định nền kinh tế

Hình 5.6 phản ánh sự tác động của các chính sách kích cầu làm dịch chuyển đường tổng

cầu về phía phải.

Thậm chí không có tác động của chính sách, cuộc suy thoái cũng sẽ tự điều chỉnh theo

thời gian. Quá trình tự điều chỉnh này cho phép nền kinh tế tiến dần đến điểm E 3, điểm mà

đường tổng cầu mới AD2 cắt đường tổng cung dài hạn. Như vậy, điểm cân bằng dài hạn (E 3)

sản lượng tiến sát về phía sản lượng tiềm năng, mặc dù tổng cầu giảm nhưng sự giảm sút của

mức giá (P3) đủ để triệt tiêu sự dịch chuyển đường tổng cầu.

Còn đối với những "cú sốc" làm cho tổng cầu tăng, nền kinh tế phát triển quá mức (bùng nổ)

thì các biện pháp để ổn định nền kinh tế của các nhà hoạch định chính sách là giảm tổng cầu.



55



- Những "cú sốc" đối với tổng cung làm cho nền kinh tế vừa suy thoái vừa lạm phát thì

chính sách ổn định của nền kinh tế lúc này tác động vào tổng cầu, làm cho đường tổng cầu

dịch chuyển về phía bên phải. Sự tác động này có thể dùng những công cụ của chính sách:

chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ, chính sách thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại.

*) Tài liệu học tập

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Kinh tế học vĩ mô - NXB Giáo dục, Hà Nội.

2. Kinh tế học vĩ mô - Học viện Tài chính - NXB Tài chính - Hà Nội, 2005.

3. Bài tập kinh tế vĩ mô - Trường ĐHKTQD - NXB Thống kê - Hà Nội, 1998

*) Câu hỏi ôn tập

1.



Trình bày những yếu tố quyết định tổng cung?



2.



Chu kỳ kinh doanh là gì? Trình bày những đặc điểm của chu kỳ kinh doanh?



3.



Trình bày các nguyên nhân gây ra chu kỳ kinh doanh?



4.



Trình bày nội dung của mô hình số nhân – gia tốc?



5.



Nêu một số lý thuyết về chu kỳ kinh doanh?



6.



Phân tích tác động của chu kỳ kinh doanh đến lạm phát và thất nghiệp?



56



Chương 6

THẤT NGHIỆP VÀ LẠM PHÁT

(Số tiết 6: LT = 4, BT, TL = 2)





Mục tiêu:



Chương này đề cập các vấn đề: tính chất, tác động, nguyên nhân của thất nghiệp, lạm

phát, mối quan hệ giữa chúng và tìm kiếm các hướng đi của chính sách đối với hai vấn dề này.

6.1. Thất nghiệp

6.1.1. Tác hại của thất nghiệp

Khi những người trong lực lượng lao động không có việc làm sẽ trở thành người thất

nghiệp. Nạn thất nghiệp là một thực tế nan giải của mọi quốc gia có nền kinh tế thị trường.

Tác hại chung của thất nghiệp là khi thất nghiệp ở mức cao, sản xuất của dân cư giảm sút

kém, tài nguyên không được sử dụng hết, thu nhập của dân cư giảm sút, nhưng khó khăn

trong kinh tế xuất hiện và dẫn đến những khó khăn trong lĩnh vực xã hội. Nhiều hiện tượng

tiêu cực xã hội phát triển...

Tác hại của thất nghiệp về mặt kinh tế là làm giảm sút to lớn về sản lượng và đôi khi kéo

theo nạn lạm phát tăng cao. Lạm phát cao làm cho nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả, các

nguồn lực sử dụng bị lãng phí. Đó là những tổn thất rất to lớn đối với nền kinh tế.

Về mặt xã hội: Thất nghiệp phát triển luôn gắn với sự gia tăng các tệ nạn xã hội như cờ

bạc, trộm cắp ... làm xói mòn nếp sống, đạo đức, phá vỡ nhiều mối quan hệ truyền thống, gây

tổn thương về mặt tâm lý và niềm tin của nhiều người.

6.1.2. Thế nào là thất nghiệp

a) Một số khái niệm có liên quan.

Để có cơ sở xác định thất nghiệp và tỷ lệ thất nghiệp, cần phân biệt một số khái niệm sau:

- Những người trong độ tuổi lao động: là những người ở độ tuổi có nghĩa vụ, quyền lợi

lao động theo quy định đã ghi trong hiến pháp.

- Lực lượng lao động: là những người trong độ tuổi lao động đang có việc hoặc chưa có

việc làm, nhưng đang tìm kiếm việc làm.

- Người có việc : là những người trong lực lượng lao động đang làm việc cho các cơ sở

kinh tế, văn hoá, xã hội...

- Người thất nghiệp là người trong lực lượng lao động hiệnđang chưa có việc làm, nhưng

mong muốn và đang tìm kiếm việc làm.

- Ngoài những người có việc và thất nghiệp, những người còn lại trong độ tuổi lao động

được coi là những người không nằm trong lực lượng lao động, bao gồm người đi học, nội trợ

gia đình, những người không có khả năng lao động do ốm đau, bệnh tật... và một bộ phận

người không muốn tìm việc với nhiều lý do khác nhau.

Những khái niệm trên có tính qui ước thống kê và có thể khác nhau giữa các quốc gia.



57



b) Tỷ lệ thất nghiệp.



Dân số



Tỷ lệ thất nghiệp là % số người



Trong

độ tuổi

lao động



Lực

lượng

lao đông



Có việc

Thất

nghiệp



Ngoài

lực

lượng





thất nghiệp so với tổng số người

trong lực lượng lao động.

ngoài độ

tuổi lđ



Tỷ lệ thất nghiệp là một chỉ tiêu

phản ánh khái quát tình trạng thất nghiệp của một quốc gia.

6.1.3. Các loại thất nghiệp

Thất nghiệp là một hiện tượng phức tạp cần phải đựoc phân loại để hiểu rõ về nó. Có thể

phân thành các loại như sau:

a) Phân theo loại hình thất nghiệp.

Có thể dùng những tiêu thức phân loại dưới đây.

- Thất nghiệp chia theo giới tính (nam-nữ)

- Thất nghiệp chia theo lứa tuổi (tuổi-nghề)

- Thất nghiệp chia theo vùng lãnh thổ (thành thị, nông thôn...)

- Thất nghiệp chia theo ngành nghề (ngành kinh tế, ngành hàng, nghề nghiệp).

- Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc.

Phân theo loại hình thất nghiệp như trên dể hiểu biết rõ ràng về đặc điểm, tính chất, mức

độ tác hại .... của thất nghiệp trong thực tế; trên cơ sở đó có giải pháp khắc phục.

b) Phân theo lý do thất nghiệp.

Có thể phân chia thành các loại sau:

- Bỏ việc: tự ý xin thôi việc vì những lý do khác nhau như cho rằng công việc không phù

hợp, mức lương thấp.....

- Mất việc: các hãng cho thôi việc do những khó khăn trong kinh doanh....

- Mới vào: lần đầu bổ sung vào lực lượng lao động, những chưa tìm được việc làm (thanh

niên đến tuổi lao động đang tìm việc, sinh viên tốt nghiệp đang chờ công tác.....)

- Quay lại: những người đã rời khỏi lực lượng lao động nay muốn quay lại làm việc,

nhưng chưa tìm được việc làm.

c) Phân theo nguồn gốc thất nghiệp:

Nhằm phân tích sâu sắc về thực trạng của thất nghiệp để có hướng giải quyết. Có thể chia

thành 4 loại:

- Thất nghiệp tạm thời: Xảy ra khi có một số người lao động đang trong thời gian tìm

việc hoặc nơi làm việc tốt hơn, phù hợp với ý muốn riêng của họ; hoặc những người mới

bước vào độ tuổi lao động đang tìm kiếm việc làm hoặc chờ đợi đi làm.

58



Xem Thêm
Tải bản đầy đủ (.doc) (78 trang)

×